Phong Uyên – Vui vẻ phúc đáp các bạn về Trần Đức Thảo và về thuyết Duyên khởi
22/02/2010 | 4:27 chiều | 7 Comments
Category: Tôn giáo, Tư tưởng
Thẻ: Phật giáo > Trần Đức Thảo
1. Trước hết tôi xin trả lời ông Nguyễn Việt Thanh về “giai thoại” Trần Đức Thảo:
Những cuộc tranh luận giữa Kojève với Trần Đức Thảo và sau đó giữa Trần Đức Thảo với J.P.Sartre đều là những đề tài hào hứng trên báo chí Pháp thời đó. Ở Việt Nam, bàn luận triết học là đụng tới chính trị, là đụng tới những điều cấm kỵ, nên sinh ra nhiều giai thoại. Pháp là một xứ coi những bàn luận triết học giữa các triết gia nổi tiếng là chuyện đứng đắn, được sự theo dõi của mọi tầng lớp trí thức không những ở Pháp mà còn quốc tế, nên bao giờ cũng có tường thuật và bàn luận đầy đủ, không cứ gì trong những tập san chuyên đề như Temps Modernes, Revue Internationale, Esprit… mà ngay cả trong những nhật báo như Combat, Le Monde… Những bài tường thuật này có thể tham khảo dễ dàng trong văn khố. Trong khung cảnh bài viết này, tôi thấy chỉ cần trích dẫn một đoạn trong bài “Tự thuật” Trần Đức Thảo viết ngày 1-2-84 (nhằm gián tiếp xoá bỏ những bản tự thú gọi là Tự Kiểm thảo, phải viết khi có những đợt chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn):
“… Sartre mời tôi đến đối thoại và ông định chứng minh rằng Chủ nghĩa hiện sinh có thể chung sống hoà bình trên phương diện học thuyết với Chủ nghĩa Mác xít… J.P.Sartre không biết được Erfarung und Urteil và cũng không biết về những cái mới lạ của Husserl. Vào lúc chia tay nhau Sartre đã đồng ý là không còn thắc mắc về vấn đề này nữa. Nhưng trái với lời hứa trước đó, sau này Sartre và những người thân cận của ông ta đã tung ra những lời gièm pha cho rằng tôi chính là người phải chịu trách nhiệm cho sự thất bại của cuộc nói chuyện… nên tôi không còn cách nào để chấm dứt những lời đồn thất thiệt ngoài cách là gửi đơn kiện”.[1]
Tôi thấy cần phải nói là sở dĩ sự hợp tác ban đầu giữa Trần Đức Thảo – J. P. Sartre đi đến đổ vỡ là vì Sartre ganh tị với Trần Đức Thảo, người có một học trình trội hơn Sartre nhiều:
1) Trần Đức Thảo đậu á khôi thứ nhì Concours Général về Triết khi học lớp triết ở Lycée Albert Sarraut Hà Nội (nay là trụ sở của Đảng). Concours général được tổ chức lần đầu tiên năm 1747 cách đây 260 năm, dành cho học sinh ưu tú những lớp cuối bậc Trung học toàn quốc Pháp và những nước có trường Trung học Pháp. Những người đậu Concours général ở bất cứ lycées Pháp nào trên thế giới cũng đều rất hãnh diện vì được nhiều nước biết đến mình, tỷ như được médailles Olympiades bây giờ (Có Olympiades là bắt chước Concours général). Sartre không bao giờ đậu Concours général.
2) Ở Pháp có 2 hệ thống đại học: Các phân khoa Đại học và các Trường Lớn (Grandes Écoles). Ai có bằng tú tài đương nhiên được ghi tên vào Phân khoa Đại học. Nhưng muốn vào các Trường Lớn phải qua một kỳ thi tuyển sau 2 năm học dự bị ở những trường chuyên luyện thi. Có 2 Trường Lớn nổi tiếng nhất là Polytechnique ( Bách Khoa) và Normale Sup d’Ulm (Sư phạm phố Ulm). Muốn trúng tuyển vào 2 trường này, phần nhiều các học sinh ưu tú sau tú tài phải học 2-3 năm dự bị ở 2 trường luyện thi nổi tiếng là Louis Le Grand và Henri IV. Trần Đức Thảo học các lớp dự bị ở 2 trường này.
3) Khi thi vào ban Triết Ulm, Trần Đức Thảo đậu đầu trong khi Sartre chỉ đậu thứ 6. Nửa thế kỷ trước, đậu vào khoa Triết trường Ulm là danh giá nhất. Những triết gia được giải Nobel như Bergson, Sartre, đều là cựu học sinh trường này. Về khoa học, toán học, Ulm cũng nổi tiếng hơn Polytechnique. Hiện người Việt nổi tiếng nhất về toán, Ngô Bảo Châu, là cựu học sinh Ulm.
4) Cũng cần biết là những người vào được Ulm và Polytechnique là đủ danh tiếng không cần chức tước gì khác ngoài tấm danh thiếp đề cựu học sinh Ulm hay cựu học sinh Polytechnique. Cũng không nên so sánh học vị Thạc sĩ (Agrégé), bên Pháp với thạc sĩ bên mình: Muốn đậu thạc sĩ phải qua một kỳ thi tuyển rất khó khăn trong khi tiến sĩ chỉ mất thời gian làm luận án. Về ngành luật chẳng hạn, đậu tiến sĩ rồi phải qua kỳ thi tuyển Thạc sĩ mới được quyền dạy học. Agrégé có nghĩa như vậy: được chấp nhận dạy học. Trong khi tiến sĩ là để khảo cứu chứ không để dạy học hay nắm chức quyền như ở Việt Nam hiện thời.
Triết học Pháp sau Thế chiến thứ 2 sở dĩ nổi tiếng hơn triết học Đức là vì biết pha hoà Hiện tượng học Đức với tư tưởng Marxiste. Trần Đức Thảo là nhân vật chính trong sự pha trộn này làm Sartre mất độc quyền. Vì vậy mà Sartre ghen ghét mặc dầu trước đó 2 người cộng tác với nhau trong Les Temps Modernes.
2. Tôi xin trở lại thuyết Duyên khởi sau khi đã đọc phản hồi của các bạn Tri Ngộ, Kim Sinh:
Theo tôi cái Mười hai Nhân duyên “Vô Minh sinh Hành Hành sinh Sắc, Sắc sinh Thức…” có vẻ “câu đối Tàu” quá. Tôi có đọc qua một vài diễn giảng về Duyên khởi từ tiếng Phạn dịch ra tiếng Âu Tây thì thấy những từ ngữ trong tiếng Phạn không có vẻ cùng nghĩa với tiếng Hán:
Trước hết từ ngữ Duyên khởi không dịch đúng nghĩa tiếng Phạn Pratityasamutpada: Không có gì khởi và sinh cả, tất cả đều ràng buộc với nhau đều phụ thuộc nhau, không có thứ tự trước sau. Nói như bạn Tri Ngộ “12 điều kiện tương quan này chỉ là ý niệm dùng để giải thích nghiệp báo”, là gần đúng nghĩa về Nhân Duyên của tiếng Phạn nhất: “đây chỉ là một công thức (formulation) những quan niệm lí thuyết về cách nhập định đạt tới Niết bàn”. Một số học giả Tây phương cũng diễn giảng như vậy.
Trong những bản viết đầu tiên của Pratityasamutpada, người ta chỉ thấy có 8 điều kiện:
1. Avidya: dịch tiếng Hán là Vô minh. Tiếng Âu Tây dịch là đui mù, ngu tối (aveuglement, ingnorance). Theo tôi cách dịch này có vẻ đúng hơn vì khi nói “không có” (vô) “Minh”, là đương nhiên công nhận có sự hiện hữu của “Minh” ở chỗ nào đó.
2. Samkhara: Dịch tiếng Hán là Hành. Âu Tây dịch là kiến tạo tâm trí (Création, construction mentale), đúng hơn là “hành”, chỉ là cử động, cá tính chung của mọi động vật, không có liên hệ gì đến sự có hay không có “Minh”.
3. Vijnana: Dịch tiếng Hán là Thức. Tiếng Âu Tây là Nhận thức (conscience discriminatoire), Thức biết phân biệt, biết phân tích).
4. Sparsa: Dịch tiếng Hán là Xúc, phải thêm nghĩa là có sự tiếp xúc với bên ngoài. Tiếng Âu Tây dịch là Contact, trong đó đã có nghĩa tiếp xúc.
5. Vedana: Dịch tiếng Hán là Thụ, chỉ có nghĩa là “nhận”. Tiếng Âu Tây dịch là cảm giác (sensation), “cảm nhận từ ngoài”, có nghĩa đầy đủ hơn.
6. Trsnac: Dịch tiếng Hán là Ái được hiểu là lòng ham muốn, làm sai lạc nghĩa chính của Ái. Âu Tây dịch là soif, désir (khát, ham muốn) đúng hơn.
7. Upadana: Dịch tiếng Hán là Thủ, chỉ có nghĩa là “Giữ”, nên phải giảng thêm là muốn chiếm lấy cho mình. Âu Tây dịch là gắn bó, muốn giữ làm của riêng (attachement, appropriation), tự trong chữ đã có đủ nghĩa, không cần phải giảng thêm.
8. Bhana: Dịch tiếng Hán là Hữu: những gì tồn tại ở trên đời. Âu Tây dịch là existence, le devenir: sự trở thành, theo nghĩa tồn tại bao giờ cũng đi cùng với biến chuyển.
Có 4 mối Danh sắc (tâm thần và vật thể của bào thai), Lục căn (các giác quan), Sinh, Lão – tử, chỉ thấy xuất hiện trong những bản kinh sau này không biết từ đời nào. Tôi thấy để Thức sinh Danh sắc, Danh sắc sinh lục căn, không ăn nhập đâu vào với đâu cả:
Danh là Tên gọi (nom), không có liên quan gì tới tâm thần? Sắc là hình thành (forme), tại sao lại coi là cùng một mối với Danh? Hai ý niệm quá cách xa nhau. Sao Danh sắc lại sinh ra bởi Thức? Lục căn là 6 giác quan mà mọi sinh vật đều có. Nhiều sinh vật còn có những giác quan “thính” hơn giác quan con người nhiều, đâu có cần danh sắc. Bởi vậy trong bản kinh gốc không có những điều kiện này.
Trái lại tương quan giữa 8 mối kể trên có vẻ lôgíc hơn:
Từ tăm tối đưa đến sự kiến tạo tâm thần. Khi có tâm thần đưa đến sự biết phân biệt mình với thế giới bên ngoài qua sự Tiếp xúc. Tiếp xúc với thế giới bên ngoài tạo ra Cảm giác. Cảm giác tạo lòng Ham muốn lấy riêng cho mình (Thủ) để gắn bó với thế giới bên ngoài. Mình (cái Tôi) gắn bó với thế giới bên ngoài tạo ra Tồn tại. Thực chất của Tồn tại là biến chuyển đưa trở về Sinh, Lão, Tử.
Qua những nhận định này tôi thấy những nhà Phật học phải đối chiếu những bản kinh chữ Hán với những nguyên bản chữ Phạn được diễn giảng bởi những thiền sư thuộc các tôn phái Phật giáo nguyên thủy và Tây Tạng hay được dịch ra tiếng Âu Tây. Vì chắc chắn là đúng hơn các bản chữ Hán quá cổ xưa, không bao giờ có những diễn giảng cập nhật khiến mỗi chữ là như một câu sấm Trạng Trình, với nội dung đặc cách suy luận kiểu Trung Quốc.
Nhưng thật ra cái sai lạc căn bản trong các bản dịch tiếng Hán là do cách cấu tạo ngôn ngữ Ấn Độ và Trung Hoa khác nhau: Tiếng Hán là đơn tiết, chữ Hán là tượng hình, trong khi chữ Phạn là đa tiết: Một từ đa tiết được cấu tạo bởi nhiều phần tiền tố, căn tố, tiếp tố, bổ túc cho nghĩa chính nên không tối tăm như những từ đơn tiết trong chữ Hán, được hiểu tùy theo mỗi người, nên gây ra những cuộc bàn cãi liên miên vì mỗi người hiểu một cách. Nguồn gốc tiếng Âu Tây là từ Ấn Độ, từ tiếng Phạn (Sanskrit) đa tiết, nên dịch những Từ tiếng Phạn đúng nghĩa hơn.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
[1] Các bạn thấy Trần Đức Thảo chê Sartre dốt tới chừng nào. Bạn nào muốn có thêm những tài liệu tiếng Việt về Trần Đức Thảo chỉ cần gõ: Tran Duc Thao hay “WWW.vietstudies.info/TDT/
Bình luận
7 Comments (bài “Phong Uyên – Vui vẻ phúc đáp các bạn về Trần Đức Thảo và về thuyết Duyên khởi”)
Thưa bác Kim Sinh,
Tôi không nghĩ là bác Phong Uyên “phức tạp”, mà chính cái chữ (Tàu) “thức” nó hơi bị phức tạp. Không những chữ “thức” mà chữ tương ứng trong tiếng Tây, “conscience” cũng “bị” phức tạp nốt.
Theo tôi có thể tóm gọn cho giản di như sau:
– “conscience” có hai nghĩa chính:
1. một ta gọi là “lương tri” (theo ngôn ngữ tôn giáo hay triết học “kinh viện”) hay “ý thức” (theo ngôn ngũ triết học bây giờ);
2. nghĩa kia là “nhận thức”.
– Cả hai đều viết ngắn là “thức”
– trong bài này rõ ràng là bác Phong Uyên muốn nói “Vijnana” dịch tiếng Hán là Thức, theo nghĩa là Nhận thức (cũng là “conscience”, nên bác PU thêm “discriminatoire” cho rõ)
– còn trong bài trước, rõ ràng là bác PU muốn nói cái “thức”… ‘kia’, khác với “ý thức” (có thể là “nhận thức”, tôi không chắc vì có thể có cái “thức” nào nữa, để chỉ “cái kết quả tốt xấu của Nghiệp, quy định sự tái sinh trong vòng luân hồi” như bác PU mô tả).
Thú thật, chính tôi khi đọc sách vở gặp chữ “conscience” cũng thấy hoang mang, không chắc mình đang đọc chữ “conscience” no.1 hay no.2 hay có khi là no.3 v.v.
Sau cùng tôi tìm ra một giải pháp tạm thời cho mình bằng cách chia “conscience” ra làm hai loại: ‘transitive” và “intransitive’ (có ‘đối tượng’ và không có đối tượng).
Nếu trong ngữ cảnh, chữ “conscience” đứng ‘mình ơn’, thì có có nghĩa tương tự như ‘luơng tri’, ‘ý thức’… Còn nếu nó đứng chung với ‘đối tượng’ nào đó thì ắt không có nghĩa “ý thức”, mà là nghĩa… kia.
Điều chắc chắn là ‘ý thức’ không cần và cũng không thể có đối tượng. Đôi khi cũng có người nói: “tôi ý thức vấn đề đó là…” thì đây chính là “nhận thức”, “hiểu, “cảm nhận”, “nhận thấy” v.v. chứ không phải “ý thức”.
Kính
1
Các bài chủ là những nghiên cứu sâu và dài. Hai tác giả Hồ Trung Tú và Phong Uyên đề cập đến giáo lý Phật học và triết học Trần Đức Thảo là những đề tài lớn – Có thể nói là “vô lượng công đức”. Viết 1 phản hồi là nông và ngắn, nó phù hợp „căn cơ“ người tìm học như tôi; mạnh dạn đưa ý kiến chính là mong được chỉ bày thêm.
2
Triết lý của Cakya-Mouni, nói đơn giản, là thuyết giải thoát. Bài giảng đầu tiên của Phật là „Tứ Diệu Đế: Khổ-Tập-Diệt-Đạo“. Kinh „Thập-nhị-nhân-duyên“ là một dẫn giải „khả hữu“ con đường kết TẬP để thành KHỔ. Tôi dùng chữ KHẢ HỮU để diễn giải tinh thần trí thức của bậc ĐẠI GIÁC (Buddha); nghĩa là không thể coi nó như một algorith: Cái này đẻ ra cái kia, sau cái này là cái kia. Có một quy luật chặt chẽ như vậy trong kinh NHÂN-QUẢ-BA-ĐỜI: Làm ác thì chịu quả báo! Nếu muốn nói mối liên hệ chặt chẽ thì, ở đây, phải dùng tên „Thập-nhị-nhân-quả“ – Chữ DUYÊN vô cùng quan trọng! Duyên là CƠ HỘI – có thể có mà cũng có thể không. Học giả Trần Trọng Kim giải rất rõ: VÔ MINH DUYÊN HÀNH, etc. Nếu không thế thì cần gì đến ĐẠO, và làm sao DIỆT KHỔ được?
Bản thân con người cũng là kết quả của DUYÊN: Vị trí trái đất trong hệ mặt trời thế nào đó để có một điều kiện đủ cho các thành tố hữu cơ (cũng do nhân duyên mà xuất hiện) tồn tại và phát triển được. Duyên đến thì thành và trụ; duyên hết thì hoại và diệt. Người Neandertaler tồn tại trong khoảng thời gian dài nhưng đã bị một tộc khác thông minh hơn hủy diệt. Tộc khác thông minh hơn vì có tiếng nói; người Neandertaler không có tiếng nói vì yết hầu của họ (do VÔ DUYÊN) nằm quá cao nên không thể phát âm thành tiếng được. – Các nghiên cứu của các nghành khoa học nêu và xác nhận giả thuyết đó. [Ngẫm và tự hỏi: Vậy thì chủ trương dùng đủ mọi cách bắt tất cả TIẾNG NÓI của những người khác suy nghĩ không giống mình phải CÂM HỌNG là ý nghĩa làm sao?]
3
VÔ NGÃ là thuyết phá CHẤP trên con đường hoàn thiện trí tuệ giải thoát. Nó không có nghĩa là phủ nhận cá nhân người tu hành. Cho nên SÁM QUY MẠNG có câu:
„Hư không hữu tận, NGÃ nguyện vô cùng –
Hư không dù có chuyển di, / Nguyên con muôn kiếp chẳng hề lung lay“
(Thích Nhất Hạnh ? dịch)
Nhưng tôi cũng suy nghĩ một chiều khác về tinh thần PHÁ CHẤP của đạo Phật. Đạo Phật nêu cao con đường giác ngộ giải thoát của mình, nhưng không hề bài bác các giáo lý khác. Những Phật tử tu học thường được cảnh báo phải rời ra „tà ma, ngoại đạo“. Tà ma là những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tiêu cực đến công việc tu học; Còn cảnh giác ngoại đạo là cần thiết để tránh nhiễm tạp trong việc HỌC và để cho việc TU được chuyên chú hơn ngõ hầu thành tựu…
Thực chất vấn nạn „bĩ cực“ ngày nay của Việt Nam là kết quả của tư duy CỐ CHẤP vào một học thuyết, rời xa NHÂN BẢN TỪ BI, để cho VÔ MINH dẫn dắt qua hết lầm lạc này đến lầm lạc khác.
Bác Phong Uyên phức tạp nhỉ. Trong bài này thì bác bảo: “3. Vijnana: Dịch tiếng Hán là Thức. Tiếng Âu Tây là Nhận thức (conscience discriminatoire), Thức biết phân biệt, biết phân tích”. Và rõ ràng là bác ủng hộ cách định nghĩa ấy. Thế nhưng trong bài phản biện “Trần Đức Thảo và Phật giáo, không có điểm gặp nhau nào cả bác lại nói:
“Thức” đây không phải là “ý thức” (conscience) mà là cái kết quả tốt xấu của Nghiệp, quy định sự tái sinh trong vòng luân hồi.
Phải chăng bác muốn phản biện ý “Ý thức con người là do “hành vô minh” sanh” của tác giả Hồ Trung Tú nên mới lung lạc trong cách nghĩ như vậy ?
Hì
Cảm ơn anh Nguyễn Việt Thanh đã cho nối kết đến bài viết của Trần Đạo. Về Trần Đức Thảo và cuộc đời trí thức, xin dẫn một đoạn đã đọc được:
Nguyễn Trường Tộ mang xuống mồ chương trình cải cách,
Trần Đức Thảo chết tha hương, Văn Cao úp mặt vào tường…
Đó là một chút cảm nhận; Còn chung cục vẫn chia xẻ tinh thần „vui vẻ“ mà các tác giả cũng như talawas muốn chuyển tải. Nó gợi tôi nhớ lời người xưa: „Trí giả lạc – Người trí sống vui vẻ“ (Khổng phu tử Khâu).
Trân trọng.
Ông Phong Uyên viết:
“1. Avidya: dịch tiếng Hán là Vô minh. Tiếng Âu Tây dịch là đui mù, ngu tối (aveuglement, ignorance). Theo tôi cách dịch này có vẻ đúng hơn vì khi nói “không có” (vô) “Minh”, là đương nhiên công nhận có sự hiện hữu của “Minh” ở chỗ nào đó.”
Dịch kinh Phật từ Phạn ngữ ra Hán tự,(và bây giờ kinh luận Phật tiếng Pali đã được dịch trực tiếp qua tiếng Việt) là công trình nghiêm chỉnh, với nhiều người tài trí tham dự và kéo dài nhiều thế kỷ. Riêng ở Trung Quốc có hai nhà sư qua tận Ấn Độ để học biết cổ ngữ, kinh điển Phật giáo rồi đem kinh Phật về Trung Quốc dịch lại, đó là Pháp Hiển (đi Ấn Độ năm 399) và Huyền Trang (du hành Ấn Độ trong 16 năm từ 629 đến 645).
Cách họ dịch kinh khác nhau, thường tuỳ người dịch và điều kiện họ có, thời đại họ sống. Thí dụ, có khi họ phiên âm tiếng Phạn như Bodhisattva là Bồ-Tát ( cũng dịch Đại sĩ), Sangha là Tăng già, và có khi họ dịch ra nghĩa Hán chính xác hay chỉ phỏng dịch(kể cả lược bỏ).
Vô Minh được dịch từ Phạn ngữ Avidya, gồm hai phần :
– A (prefix) trong Phạn ngữ thường được dịch ra Hán ngữ là Vô, Phi, Bất. Thí dụ Ajnna (vô tri), Akusala (bất thiện), Advaya (Bất nhị), Anatman (vô ngã).
_ Vidyâ(Phạn) nghĩa là sự sáng, hiểu biết, giác ngộ, được dịch ra Hán là Minh. Một thí dụ khác thấy trong từ điển Phật học của Đoàn Trung Còn : Vidyacarana-sampanna dịch là Minh Hạnh viên mãn (Tuệ Hạnh đầy đủ).
Do đó, Avidya dịch Vô Minh là rất đúng và hay hơn khi phỏng dịch ra tiếng Pháp là “đui mù, ngu tối (aveuglement, ignorance)”.
Đạo Phật dùng từ vô minh theo nghĩa chỉ trạng thái mê lầm (nên lúc đầu có kinh dịch là Hoặc), không sáng suốt. Đối với Phật giáo Nguyên thuỷ, vô minh còn hiểu là không nhận đúng thực tướng của các pháp ( vốn vô thường, duyên sinh), là không hiểu được Tứ Diệu đế, Nghiệp. Đối với giào lý Đại Thừa, vô minh là không thấy rõ được thể tính (Không) của các sự vật, và tự tính của chính mình (Chân Tâm). Nên đúng như ông Phong Uyên viết, khi nói “vô minh” tất hàm nghĩa đã có “minh” (sự sáng tỏ, hiểu biết) ở đâu đó rồi, và là chỗ mà đạo Phật hướng tới bằng nhiều phương cách khác nhau tuỳ tông phái.
Ông Phong Uyên viết:
“6. Trsnac: Dịch tiếng Hán là Ái được hiểu là lòng ham muốn, làm sai lạc nghĩa chính của Ái. Âu Tây dịch là soif, désir (khát, ham muốn) đúng hơn.”
Ái tất phải hiểu là yêu, ưa thích, nhưng ở đây kinh Phật dùng chỉ nghĩa ái dục, tức ham muốn, khao khát những gì ưa thích (theo bản năng), kể cả luyến ái. Chính ra đạo Phật chủ trương cắt bỏ ái dục, diệt trừ tham ái, và cho như thế mới chấm dứt khổ đau, để được giải thoát. Ở phương Tây, người ta quá ca tụng tình yêu, đến mức cho như là cứu cánh của sự sống (có câu nói “sau cùng được sống trong tình yêu Thiên Chúa”), hay ái là cội nguồn của hạnh phúc, nên có lẽ vì vậy mà nhiều người khi quá quen với các ý niệm đó thấy “chới với” với câu nói “đoạn ái, diệt dục” . Với đạo Phật, ái và dục (gọi chung cho tham dục, gồm tình dục) có liên hệ gắn bó với nhau, và thuộc về bản năng chấp ngã từ lúc sinh ra ( trong đó có ngã ái, là tự yêu mình) khiến chúng sinh trôi lăn mãi trong vòng luân hồi.
Đạo Phật cũng không đề cao bác ái (Love) nếu còn vướng mắc trong đó ngã chấp, vị kỷ, mà khuyên nuôi dưỡng từ bi (Compassion) bình đẳng, không phân biệt (ta với người theo kinh Kim Cang).
Ông Phong Uyên viết :
“Danh là Tên gọi (nom), không có liên quan gì tới tâm thần? Sắc là hình thành (forme), tại sao lại coi là cùng một mối với Danh? Hai ý niệm quá cách xa nhau. Sao Danh sắc lại sinh ra bởi Thức? ”
Nama, hay Naman (Phạn)là thuật ngữ chỉ “tâm linh, tinh thần” đối lập với vật chất (Rupa).
Namarupa (nghĩa đen là tên /hình thức) : Hán dịch nghĩa từng chữ là Danh Sắc , nhưng Danh không hiểu là tên gọi, và Sắc thông hiểu là màu sắc. Khi Namarupa được giảng đối chiếu với giáo lý Ngũ Uẩn, thì Rupa tương ứng với Uẩn đầu tiên là Sắc , và Danh tương ứng với bốn Uẫn còn lại là Thọ, Tưởng, Hành, Thức (Uẩn là Hán dịch của Phạn ngữ Skandha).
Theo nhiều sách giải thích, Mười hai Nhân duyên không phải tiến triển kế tục theo tuyến tính (linear), mà là tác động qua lại lẫn nhau (tương tác)của tất cả nhân duyên, cùng nương nhau mà hiện hữu. Không thể có một nhân duyên đứng lẻ loi, và cũng không thể nói nhân duyên nào đầu tiên hay cuối cùng (vô thủy vô chung). Thí dụ, Vô minh sinh ra thức, lục nhập, ái thủ…, nhưng rồi thức, lục nhập, ái thủ…. sẽ tái tạo , làm tăng (hay giảm) mức độ vô minh ngay trong một kiếp sống, hay cho kiếp sống sau.
Nhưng ai từng quen biết Tâm Kinh (Đại Thừa)sẽ không bất ngờ khi thấy nói (ở một bình diện tâm thức nào đó): “vô vô minh diệc vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận” (không có vô minh cũng không dứt hết vô minh, cho đến khômg có lão tử cũng không dứt hết lão tử).
Nhân đây, xin giới thiệu một bài viết về giáo thuyết 12 Nhân Duyên (hay Duyên Khởi) trên mạng:
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/1-bai/phap028.htm
Giáo lý Nhà Phật qua cái vòng tròn Luân Hồi “Thập Nhị Nhân Duyên” tạo thành Nghiệp Chướng đã làm tôi thắc mắc khó hiểu vô cùng, vì lẽ mọi kinh sách đều dựa trên bản dịch tiếng Hán, nay được biết một version mới qua tiếng Pháp, tôi cảm thấy thích thú vô cùng, ít ra nó cũng giảng giải thêm nhiều điều mới lạ, hợp với cung cách lý luận khoa học Tây Phương hơn.
Từ nhận thức này mà tôi mới hiểu tại sao người dân VN bị đắm chìm mãi trong vòng tục luỵ “Chủ nghĩa Cộng Sản” chịu ảnh hưởng Nghiệp Chướng từ cái vòng Luân Hồi bắt nguồn từ Vô Minh (vô sản= vô học), qua hơn nửa thế kỷ mà chưa thoát khỏi thân phận nô lệ cho ngoại bang, tiếng là cách mạng giải phóng dân tộc thoát khỏi ách đô hộ thực dân Pháp, chống Mỹ cứu nước, nhưng bây giờ bị bao vây trong cái rọ vô hình của bành trướng TQ, có khác gì một hình ảnh thực dân kiểu mới: thực dân TQ đội lốt Vô Sản Chuyên Chính.
Ngày xưa lãnh đạo CSVN học theo đàn anh TQ vận động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất đi đến đấu tố tiêu diệt biết bao sinh mạng với chiêu bài “đánh đổ cường hào địa chủ độc ác”, ngày nay lại trở thành một xã hội cực kỳ giai cấp, xã hội sa đoạ, hình ảnh người dân nghèo đi mót hạt cà phê rơi vãi bị địa chủ xua đàn chó dữ cắn chết nát thây thảm khốc, hình ảnh người công nhân lao động trong sở thú bị hổ vồ cắn chết nát thây, hình ảnh các em học sinh ngây thơ bị điện đường giật chết chát nám thây …thử hỏi có ai đứng ra tổ chức toà án nhân dân để đấu tố “họ” chưa ??? Ngày xưa thời thực dân Pháp, thời VNCH, đã có tình trạng phổ biến “tạt át xít”, đầu độc thầy giáo, nữ sinh đánh nhau trong trường học, hiệu trưởng và cán bộ tỉnh mua dâm nữ học sinh vị thành niên không ???
Ai đứng ra biện hộ cho “cái chính quyền tự làm lãnh đạo trong 50 năm nay mà chưa hề thông qua phổ thông đầu phiếu của toàn dân” hãy lên tiếng giải thích cho tôi nghe thử !
Thân chào,
Kính thưa ông Phong Uyên,
Chân thành cảm ơn ông về những giải thích xung quanh cuộc tranh luận giữa Trần Đức Thảo và Sartre. Xin thưa lại vắn tắt với ông đôi điều. Cũng vui là chính!
1. Trong những cuộc tranh luận học thuật, nhất là về triết học, thật khó mà phân định thắng-thua, đúng-sai một cách rạch ròi trong một sớm một chiều. Có thể Trần Đức Thảo có lý ở một số điểm, nhưng Sartre cũng có thể có lý ở một số điểm nào đó (?). Vì vây, một khẳng định dứt khoát TĐT “thắng cuộc” liệu có hơi quá không?
Thật sự tôi cũng không rõ đây là một cuộc đối thoại triết học để thông hiểu lẫn nhau hay là một cuộc “thi đấu” có phân định thắng thua. Trong trường hợp thứ nhất, thì chuyện thắng thua có rất ít ý nghĩa. Còn rơi vào trường hợp thứ hai, thì phải có một hội đồng “trọng tài” hay “giám khảo” chứ ạ?
2. Sartre “ganh tỵ” Trần Đức Thảo: Ông dẫn ra thành tích thi cử hay học lực thời học sinh, sinh viên của TĐT để minh họa. Tôi không hiểu điều đó muốn nói gì? Lẽ nào đó là nguyên cớ cho sự ganh tỵ của Triết gia?
Trân trọng.
Ghi chú. Ông X chê ông Y “dốt” không đủ để chứng minh ông Y là dốt.
Xin phép dẫn lại một đoạn trong bài “Trần Đức Thảo-Một kiếp người” (Trần Đạo) (http://amvc.free.fr/PHD/VGNLN/Tran%20Duc%20Thao%20mot%20kiep%20nguoi.htm):
“Biết ông [Trần Đức Thảo] đã từng tranh luận với Sartre, tôi hỏi ông nghĩ sao về tác phẩm Phê phán lý trí biện chứng[4]. Ông nói: “Sartre là nhà triết học duy nhất đã đặt ra những câu hỏi đáng đặt”. Tôi lại hỏi ông về trước tác của ông, và nói thực là tôi thấy chúng máy móc. Ông khoát tay như muốn gạt chúng đi, và đưa cho tôi tác phẩm cuối cùng, còn dưới dạng bản nháp.”
Thực hư chuyện này thế nào là ngoài khả năng kiểm chứng của tôi.