Nguyễn Hoàng Văn – Xin đừng gọi họ là “thiên tả”!
21/02/2010 | 1:49 sáng | 6 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Tọa độ chính trị
Có người hỏi nhà văn họ Phùng về triết gia còi hụ họ Nguyễn, nhà văn trả lời, một cách “đơn giản”: triết gia đang cố “xác lập” cho mình “vị trí số một của phe thiên tả”. [1]
Tôi không thích trây thêm chuyện của triết gia. Cơ hồ, càng bị thiên hạ “hú” tên thì triết gia càng tỏ ra khoái trá khi mục đính hụ còi đã đạt và do đó tôi không cho phép mình sa vào cái bẫy hụ còi này. Cái mà tôi quan tâm là “vị trí số một của phe thiên tả” bởi nó không “đơn giản” như nhà văn tin tưởng chút nào. Có thực là có một vị trí như thế? Cái “vị trí số một” mà triết gia đang lăm le giành lấy lẫn cái “phe thiên tả” mà triết gia đang thuộc về?
Trước hết là ý niệm “phe thiên tả”, như thể một phe thuần nhất. Không nói gì một “phe” chung chung, ngay một đảng chính trị cánh tả thôi cũng đã thấy lôi thôi, hỗn tạp. Tôi đang sống tại Úc nơi mà Đảng Labour cầm quyền là một đảng cánh tả nhưng bị phân hóa không chỉ với hai cánh Tả – Hữu hai bên mà còn lôi thôi với cánh Trung Tả ở giữa, chưa kể những thành phần lưng chừng, nửa nọ nửa kia trên lằn ranh giữa các phe phái. Một đảng có kỷ cương, có điều lệ hẳn hoi mà đã thế thì nói gì là cái “phe tả” mơ hồ với những tiếng còi hụ cũng rất mơ hồ? [2]
Thường, khái niệm “cánh tả” được hiểu như một lực lượng chính trị với khuynh hướng xã hội mà mức độ cải cách hay cách mạng trải dài từ “tả” đến “trung tả” rồi “cực tả” và như thế thì chúng ta biết “xác lập” đâu là “vị trí số một” của cái “phe” này. Đó là những thành phần “tả nhất”, do đó phải là cánh chim đầu đàn của cánh cực tả? Hay đó là kẻ khôn khéo nhất, mưu mẹo nhất, có thể khống chế toàn bộ các bè phái bằng cách đi dây giữa các nhóm tả – trung tả và cực tả để “xác lập” vị trí của mình, như là ông Kevin Rudd của Đảng Labour tại Úc khi đi dây giữa các bè nhóm của đảng để rồi, sau cuộc bầu cử tháng Mười Một năm 2007, trở thành nhà lãnh đạo quốc gia?
Chúng ta thường nghe báo chí thế giới nhắc đến Noam Chomsky như là một trong những “khuôn mặt tả phái hàng đầu” của nước Mỹ nhưng điều đó không hề ngụ ý rằng thiên tài ngôn ngữ học này đã đạt tới cái “vị trí số một” của “phe tả” Mỹ. Như đã nói, phe ấy không phải là một phe nhất quán. Giữa lúc những thành phần thiên tả Mỹ không giấu được vẻ hân hoan khi ông Barack Obama sắp sửa ngồi vào toà Bạch Ốc thì Chomsky tỏ ra dửng dưng và miệt thị ngôi sao tả phái này như là một kẻ mỵ dân vĩ đại, thậm chí còn chê ông ta là kém thành thật hơn cả đối thủ hữu phái John McCain. Cho dù Chomsky có “tả” hơn những fan của Obama, và cho dù Chomsky từng mù quáng bênh vực thế lực cực Khmer Đỏ thì, như thành phần thiên tả, chưa hẳn Chomsky đã “tả” bằng những thành phần cực tả gốc da đen, những kẻ từng chủ trương dùng phương tiện khủng bố để thay đổi nền chính trị Mỹ. [3]
Một cách chung chung, từ “thiên tả” được dùng để chỉ những khuynh hướng chính trị có tính xã hội, muốn tạo ra những thay đổi để hướng tới một quan hệ bình đẳng hơn. Trên lý thuyết thì đó là một khuynh hướng tốt đẹp nên, trong suốt chiều dài lịch sử, từ “phe tả” là cái phe có nhiều kẻ chen chân, từ những thành phần cấp tiến nhất trong cuộc Cách mạng Pháp cho đến Vladimir Ilyich Lenin hay những kẻ nổi loạn vô chính phủ, những nhà chính trị nghiệp đoàn v.v… Như thế thì cái “phe tả” ấy phải là phe chống lại hay ít ra là ở trong cái tư thế đối lập với thể chế hiện hành, nêu cao những khẩu hiệu đòi thay đổi cái tình trạng hiện hành. Họ là những kẻ anti-establishment, chống lại lực lượng bảo thủ hay nói cách khác là những thành phần phản chính thống.
Làm cách mạng có nghĩa chống lại thế lực chính thống đã trở nên lỗi thời và phản động. Khi cách mạng thành công thì có nghĩa là những nhà “thiên tả” này trở thành chính thống và, do đó, không khéo họ cũng sẽ phản động y hệt cái thế lực mà mình từng chống lại. Tán thành hay không tán thành chúng ta phải thừa nhận rằng Che Guevara đã chết trẻ trong rừng rậm Nam Mỹ như một nhà cách mạng, và chết với lý tưởng nóng hổi trong lồng ngực. Còn Fidel Castro tham quyền cố vị thì khác. Fidel sẽ chết già như một cái bị thịt cực kỳ bảo thủ và cực kỳ phản động. Người cộng sản Việt Nam từng đứng ở vị trí phản chính thống, từng nêu cao những khẩu hiệu bình đẳng nên những thái độ ủng hộ cộng sản được xếp vào cánh tả. Và đó là chuyện bình thường. Nhưng khi cái đảng mang tên cộng sản đã là một hệ thống quyền lực toàn trị chính thống, khư khư bảo thủ, khư khư bảo vệ tình thế hiện tại để giữ lấy những lợi lộc kếch xù thì việc định danh như thế đã không còn thích hợp nữa.
Thật là khó để gọi những kẻ lăng xăng mua vui hay trang sức cho hệ thống toàn trị thối nát, bảo thủ và phản động hiện tại như là những thành phần “thiên tả”. Như đã nói, nếu có một “phe thiên tả” thực sự thì thật là khó để “xác lập” đâu là nhân vật “số một”. Mà nếu nhìn thẳng vào những nhân vật phò chính thống được gán cho cái khuynh hướng ấy, như cái kẻ từng mừng như trẻ con được kẹo lúc nghe bài hát tuyên truyền rẻ tiền chỉ hợp với lỗ tai con trẻ chẳng hạn, chúng ta phải hiểu khái niệm “tả” này như thế nào đây? Bất chợt tôi nghĩ đến một tác phẩm của Gabriel García Márquez: Tình yêu thời thổ tả. [4]
Thì, yêu nuớc cũng là một thứ tình yêu, và từ nhà cai trị chính thống đến những chàng hề lăng xăng phò chính thống, ai cũng cũng có thể nói rất hay, rất dẻo về tấm lòng yêu nước của mình.
Ôi cái thời thổ tả của chúng ta và những thứ cách mạng thổ tả đã triền miên phóng uế trên đất nước chúng ta. Xin đừng gọi những kẻ phò chính thống ấy là thiên tả cho dù, lắm khi, chữ ấy cũng chẳng hay ho gì…
Sydney 19.2.2010
[1] Phùng Nguyễn, “Nguyễn Hữu Liêm với con đường Thực Dụng Mới và khái niệm Thể Thức”, talawas 13.2.2010
[2] Tên đầy đủ là Australian Labor Party, cánh hữu gọi là Labour Unity và cánh tả là Socialist Left, cánh trung tả là Centre Left.
[3] “Thực chất Mỹ là một chế độ độc đảng”, bài phỏng vấn Noam Chomsky do Gabor Steingart thực hiện, đăng trên tuần báo Đức Spiegel. Hải Ngô chuyển ngữ, talawas 28.10.2008
[4] Bản tiếng Anh: Love in the Time of Cholera (Tây Ban Nha: El amor en los tiempos del cólera), xuất bản năm 1985
© 2010 Nguyễn Hoàng Văn
© 2010 talawas
Bình luận
6 Comments (bài “Nguyễn Hoàng Văn – Xin đừng gọi họ là “thiên tả”!”)
@Hoa Bất Tử,
“Mời các bạn vào xem entry sau đây để so sánh phong cách của ta, của người : http://hoabattublog.multiply.com/journal/item/317“
Hay thay, Cảm ơn ông Hoa !
“Trông người lại ngẫm đến ta”
Phường gà gật ấy là ma, đâu người !
Nói đến chủ đề này và từ “thiên tả”, tôi lại nghĩ ngay đến từ “tả lị”, “kiết lị”. Mà tránh từ đó nói từ “thiên lôi” tôi lại mường tượng ngay ra từ “lôi thôi”, “luộm thuộm”. Không hiểu , vốn từ tiếng Việt của tôi trong việc cảm nhận văn học của những anh hùng tự xưng đó quá ngắn, hay sức viết của họ còn chưa đủ sâu, rộng, sát với thực tế có khoa học để khiến người đọc nói chung và độc giả nước ngoài nói riêng như tôi cảm nhận rằng văn ông ấy đậm đà quá?
Mà tại sao phải lôi cái khái niệm cánh tả với cánh hữu ra đây nhỉ. Cánh gì thì về Việt Nam cũng ngủ gật trong quốc hội như chim bồ câu cả. Bày đặt, vẽ chuyện, lôi thôi rườm rà quá!
Mời các bạn xem entry tôi đăng hình, so sánh phong cách đại biểu quốc hội Việt nam với thế giới: http://hoabattublog.multiply.com/journal/item/317
không gọi họ là “thiên tả”, vậy_ xin gọi họ là thiên lôi có được không? ặc ặc!
Thiên tả là một ngôn từ có ý nghĩa rất … thổ tả, cũng như dân chủ, muốn hiểu sao cũng được và xài ở đâu cũng được, nhất là ở Việt Nam. Nhưng mà nó đâu có là như vậy. Dân chủ không phải là dân chủ và thiên tả không phải là thiên tả.
Đọc đến đây chắc có người sẽ nói tay này đang xổ triết « bạch mã phi mã – con ngựa trắng không phải là con ngựa » của Công Tôn Long. Dân chủ không phải là dân chủ thì là dân tớ à ? Thiên tả không phải là thiên về phía tả thì thiên về đâu ?
Thực ra vấn đề tôi muốn nói ở đây là cái « thế đứng », tức cái « hệ qui chiếu », nơi các từ đó được khai sinh. Cái thiên (thổ) tả hay cái dân chủ (tớ) mà anh đang nói có phải là cái thổ tả mà tôi đang hiểu hay không ? Cụm từ tôi thấy có nhiều người sử dụng : « nhập nhằng về khái niệm » trong trường hợp này rất là đúng.
Cái nhập nhằng này đã gây nhiều kết quả rất tai hại. Một chuyện có thật, hai tốp khoa học gia, một Âu một Mỹ , hợp tác phóng phi thuyền. Tốp viết phương trình quĩ đạo với đơn vị là mét, tốp đo bằng inch. Kết quả sự hợp tác biết trước, phi thuyền bay mất tiêu, cũng như hàng trăm (hay chục ?) triệu đô la đầu tư.
Đó là tai hại đem lại do khác biệt hệ qui chiếu.
Tác giả Nguyễn Hoàng Văn viết về thiên (thổ) tả thì tôi xin góp chút ý kiến về thiên (thổ) tả. Rất cám ơn tác giả về bài viết (nhất là bài « Cặc » như là Lãnh Tụ đăng trước đây ít lâu – tiếc là ít ai nắm được cái thâm thúy của tác giả trong các góp ý).
Khi khác sẽ nói về dân chủ (tớ).
Thiên tả có nghĩa là nghiêng về bên trái, thiên hữu là nghiêng về bên phải. Người ta còn gọi là tả khuynh hay hữu khuynh. Nhưng bình thường, một người đứng (hay ngồi) bên phải hay bên trái cái gì đó (hay ai đó) thì đâu mắc mớ gì ai ? Tui đứng ngồi đâu (kệ tui) mắc mớ gì anh ?
Đứng đâu thì đứng, miễn đừng đứng trên chân (đầu) người khác thì không sợ ai kiếm chuyện phải trái với mình.
Chỉ có chuyện khi nói phải trái trong không gian « chính trị ». Người ta chỉ nói tả khuynh (hay hữu khuynh) trong chính trị. Ở ngoài đời ai đứng đâu mặc kệ. Không gian chính trị vì vậy là « hệ qui chiếu ».
Nhưng nói vậy cũng chưa phải vậy.
Tác giả NHV đã nói khá đủ về thái độ tả khuynh trong thế giới tự do. Nhưng thái độ thiên tả có cùng ý nghĩa như vậy trong thế giới cộng sản ?
Ta đã từng nghe (hay đọc) về chủ nghĩa « hữu khuynh » trong thời kỳ cách mạng dân chủ Trung Quốc (qua vụ Trần Độc Tú) cũng như thái độ phòng « tả » chống « tả » (sau đó là phòng « tả » chống « hữu ») của Mao Trạch Đông trong thời kỳ đầu lập quốc.
Phong trào « chống hữu » trong 20 năm (1957-1977), qua cuộc « đại cách mạng văn hóa », của Trung Quốc. Chống hữu ở đây là diệt sạch (tức thủ tiêu) mọi giai cấp trí phú địa hào trong xã hội mà bác Hồ nhà ta xuất sắc sao chép lại áp dụng y chang cho Việt Nam. (Nhờ vậy mới có vụ triết gia còi hụ hát lẩm nhẩm bài như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng… vui bể bụng trên Talawas mấy tháng nay !).
Như thế, không quá dài dòng văn tự, thiên tả là thái độ thiên về chủ trương « bào láng », « cào bằng » xã hội. Sau này lại có chủ trương « khuynh hữu chống tả » của Đặng Tiểu Bình. Nhưng quan niệm về « tả » hay « hữu » vẫn không thay đổi bản chất (kinh tế).
Như vậy thì ta có thể cho rằng ông « triết gia còi hụ » thiên tả theo ý nghĩa « tả » của thế giới cộng sản hay không ?
Trong thế giới cộng sản họ gọi thiên tả (tả khuynh) là một « phong trào », một « chủ nghĩa ». Trường hợp triết gia còi hụ, có thể được họ gọi là thành phần cơ hội chủ nghĩa hay cải lương.
Không hề có trăm hoa trong chính trị (và văn hóa) trong thế giới cộng sản. Chỉ có một loại hoa (cứt lợn). Từ thời « mở cửa » đến nay có một số hoa khoe sắc nhưng còn rất lâu mới đến thế giới tự do. Thiên tả là một thái độ chính trị của một người làm chính trị, chỉ có trong thế giới tự do. « Tả » ở đây có ý nghĩa về xã hội (không phải kinh tế như chủ nghĩa CS) mà ông NHV đã nói rõ ràng, không nhắc lại.
Như thế có hai hệ qui chiếu : thế giới cộng sản và thế giới tự do. Mỗi thế giới có những giá trị nền tảng riêng biệt về văn hóa và xã hội. Các giá trị nền tảng của hai thế giới hoàn toàn trái ngược nhau, đôi khi phủ nhận lẫn nhau. Nếu không phủ nhận lẫn nhau thì chỉ có một thế giới (và không còn gì để nói) !
Trở lại vụ « triết gia còi hụ ». Có người nói ông là trí thức thiên tả.
Tôi có quan niệm trí thức là trí thức, phi tả phi hữu. Trí thức là người có lý tưởng cao đẹp, tự nhận có trách nhiệm với xã hội, mong muốn xã hội ngày được tốt đẹp hơn. Vì mong muốn sự « tốt đẹp » của xã hội, vì phản đối cảnh trái tai gai mắt trong xã hội, đôi khi người trí thức bị xếp vào thành phần « thiên tả ».
Nhưng thành phần trí thức chỉ có thể hiện hữu trong một thế giới tự do. Không một chế độ độc tài nào dung dưỡng trí thức.
Trí thức là nạn nhân đầu tiên của mọi chế độ độc tài.
Khi Tưởng Giới Thạch chuẩn bị lui quân về Đài Loan, việc đầu tiên mà họ Tưởng làm là tiêu diệt thành phần trí thức bản địa để tránh mọi chống đối sau này.
Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đã làm tương tự trong cuộc đại Cách Mạng Văn Hóa.
Sau 1975, trí thức miền Nam cũng bị chung tình trạng. Toàn bộ tầng lớp trí thức miền Nam đã bị « thanh trừng » một cách êm thắm qua các vụ đánh tư sản, cải tạo công nhân viên chức VNCH cũ, chế độ lý lich v.v…
Không có trí thức là xã hội êm re, không có ai phản đối lôi thôi. Xã hội không có trí thức là xã hội lý tưởng của mọi chế độ độc tài.
Trí thức ở các nước độc tài (như Việt Nam) hiện nay, là thành phần được đào tạo có bài bản dùng để tung hô đảng (hay người) cầm quyền. Tức lớp người có học nhưng có lương tâm và đạo đức xã hội chủ nghĩa, gọi là trí thức xã hội chủ nghĩa. Loại trí thức tim lạnh này dửng dưng với mọi bất công trong xã hội. Đất nước có tiêu tán về đâu thì kệ (mẹ) đất nước.
Triết gia còi hụ không phải là trí thức thiên tả. Ông đã cởi áo trí thức để mặc áo chính trị. Thái độ của triết gia còi hụ đã biểu lộ qua các bài phỏng vấn trên Talawas. Đó không phải là thái độ của một trí thức mà là thái độ của một « chính trị gia ». Đây không phải là thái độ « thiên tả », mà là một thái độ… thổ tả.
Người trí thức khác với người làm chính trị ở một điều cơ bản : Đạo đức. Không có đạo đức không phải là trí thức.
Nhưng nói vậy không có nghĩa là « nhà » chính trị nào cũng vô đạo đức. (Có điều đến nay hơn nữa đời người tôi vẫn chưa thấy được « nhà » này !)
Trí thức thiên tả đã thành trí thức thổ tả. Tôi thích ông NHV vì ông thâm thúy ở nhiều cái. Đây cũng là một cái. Thổ tả cũng có cái thâm thúy riêng của nó.
Cái tá lả tùm lum (ngoài xứ Việt Nam, vì trong xứ nó là thổ tả) mà ông Nguyễn Hoàng Văn nói đến tôi và chúng bạn gọi là tả phí lù = la gauche filou = tả filou = bọn gian manh chính trị. Ở một góc cạnh và mức độ khác chính trường bên Pháp cũng nòng nọc thứ này. Xin được chia sẻ tâm đắc với bài viết rõ ràng rất hay của ông.
Tác giả nên nói toạc ra:
Trong thể chế độc tài, không có cánh tả hay cánh hữu! Chỉ có duy nhất phe độc tài chuyên chế. Dùng từ “cánh tả” để mô tả mô hình độc đảng dĩ nhiên là lạm dụng – điều không xứng đáng với trí thức, với talawas càng không.
Chế độ độc tài không muốn bị gọi là độc tài nên luôn nỗ lực tìm các “mỹ từ thay thế” như: “đổi mới”, “lột xác”… cho tới “cánh tả” hay “Việt kiều” để bao che cho tính chuyên chế, độc hại của mình. Dùng những mỹ từ trên để mô tả người cộng sản tức là bao che không công cho họ – và đó là tội lớn của ông triết hụ còi, bất kể ông khoa chân múa tay kiểu gì.