talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Xin tiếp tục bàn thêm về Trần Đức Thảo, Freud và Phật giáo

17/02/2010 | 3:17 chiều | 11 Comments

Tác giả: Phong Uyên

Category: Tôn giáo, Tư tưởng
Thẻ: > >

Trước hết tôi cảm ơn talawas đã cho tôi sống lại cái phong độ ngày xưa khi talawas là diễn đàn của những người ưa thích bàn luận về tư tưởng, triết học và đạo giáo. Tôi cũng xin trở lại với bạn Hồ Trung Tú và vài bạn khác về Trần Đức Thảo và về một vài điểm trong triết lí Phật giáo dưới mắt nhìn của một người chỉ biết Phật giáo qua sách vở phương Tây.

Hoàn toàn đồng ý với Hồ Trung Tú là triết học Phật giáo là một “chiến trường” đấu lý (chứ không đấu sức). Nếu không như vậy thì Phật giáo vẫn chỉ là một ngành của Ấn Độ giáo và giống như các đạo khác, chỉ cần đức Tin. Bởi vậy những điều chúng ta bàn ở đây là triết lí Phật chứ không phải là đạo Phật, nhất là đạo Phật nguyên thủy.

Tôi xin tuần tự trả lời Hồ Trung Tú từng điểm một:

1. Về Trần Đức Thảo và Hiện tượng luận

Tôi không khẳng định mà chỉ phản biện sự khẳng định “Trần Đức Thảo đã từ bỏ hiện tượng luận, ngả hẳn về phía duy vật biện chứng”. Tôi cũng chỉ phản ánh lại những bài của các triết gia Pháp nổi tiếng thời bấy giờ viết về Trần Đức Thảo.

Tôi xin nhắc lại là trước khi Trần Đức Thảo cho ra đời cuốn Phénoménologie et matérialisme dialectique, báo chí Pháp đã nói nhiều tới những cuộc tranh luận năm 1947 giữa Trần Đức Thảo với Alexandre Kojève, một triết gia trụ cột chuyên về Hệ tượng luận Tinh thần của Hegel (thày của Marx). Và năm 1948, khi Trần Đức Thảo viết bài “La phénoménologie de l’esprit et son contenu réel” (Hiện tượng luận tinh thần và nội dung thực sự của nó), chính Sartre đã tự mời Trần Đức Thảo tranh luận với mình. Theo các nhà triết học thời ấy, Trần Đức Thảo là người thắng cuộc. Sartre bị đuối lí quay ra nói xấu Trần Đức Thảo khiến Trần Đức Thảo tính kiện. Chính phủ Việt Nam hồi ấy khuyên bỏ kiện để lấy lòng Sartre đang bênh vực Việt Nam. Khi cuốn sách Hiện tượng luận và duy vật biện chứng ra đời, các nhà triết học danh tiếng hồi đó đều khen ngợi Trần Đức Thảo là người thuộc phái hiện tượng học độc nhất đã thành công trong việc kết hợp “nước với lửa”, duy tâm với duy vật, Hiện tượng học với Duy vật biện chứng. Nên biết là từ sau thế chiến thứ Hai, tư tưởng Marxiste (thật ra là Mácxít-Lêninít) toàn trị, khiến mọi trường phái triết học đều phải lấy Marx làm đầu tàu nếu không muốn bị coi là những tư tưởng tiểu tư sản. Thuyết hiện sinh khởi đầu là duy tâm, Sartre biến nó thành duy vật nên được nổi tiếng. Trần Đức Thảo là nhà hiện tượng học độc nhất đã thành công móc nối được con tàu Hiện tượng học của Kant, của Hegel, của Fichte, Husserl, Heidegger… vào đầu tàu Marx. Những từ ngữ “mê hồn” (fascination), loá mắt (ébloui) là do chính Derrida và Althusser đã thốt ra khen Trần Đức Thảo. Nếu còn ở lại Pháp, thuyết của ông kết hợp Hiện tượng luận với Duy vật biện chứng, sẽ có tầm quan trọng hơn cả thuyết hiện sinh của Sartre vì thật ra thuyết hiện sinh chỉ là một mặt của hiện tượng luận và Sartre, theo như Trần Đức Thảo kể lại sau cuộc tranh luận, chỉ muốn thuyết hiện sinh của mình “chung sống hoà bình” với học thuyết marxiste.

Tôi cũng đã đọc bài giới thiệu của Đỗ Lai Thúy và vài bài dịch Trần Đức Thảo của Phạm Trọng Luật. Tôi thú thực là trong bài dịch có những từ ngữ và những diễn tả quá tối tăm so với nguyên văn tiếng Pháp. Phải công nhận nhiều khi “dịch là cái hoạ”.

2. Những khái niệm của Husserl và của Duy vật biện chứng và ý niệm Nhân duyên

Tôi không có ý so sánh những khái niệm trong Hiện tượng luận Husserl và những ý niệm về hiện tượng theo nhà Phật. Tôi chỉ có ý nói là cái tôi thuần túy (ego cogito) của Husserl lấy kinh nghiệm hiện tượng làm điểm khởi đầu để đi đến bản chất thực sự (essences) của mọi sự vật. Trái lại Phật giáo đi ngược lại (ít nhất là theo phái Thiền): Phải loại bỏ ngay từ đầu mọi hiện tượng, mọi vọng tưởng chỉ là những hình tượng giả dối, những dạng xuất hiện của một thể tính do cái Tôi (Atman, ngã) tạo ra, mới có thể bằng trực ngộ đi đến bản chất thật sự của mọi sự vật gọi là Phật tính. Bởi vậy  có thể nói Husserl và phái Thiền tuy đi ngược đường nhau nhưng có điểm gặp nhau là đều đi tìm Thực tại siêu nghiệm thuần túy mà Phật giáo gọi là Phật tính.

Trái lại Duy vật biện chứng cho mọi hiện tượng là những phản ánh của thực tại duy nhất có hiện hữu là thực tại vật chất. Hiện tượng là biểu hiện, là bức hình của thực tại vật chất. Chỉ khác là cái tôi “giai cấp”, (Trần Đức Thảo gọi theo tiếng Đức Klassenindividuum) làm thay đổi thực tại theo cái nhìn của mình, hệt như 2 người hoạ sĩ ở giai cấp khác nhau vẽ cùng một phong cảnh cày ruộng, nhưng người thì nhấn mạnh về cảnh thơ mộng của đồng ruộng, người thì nhấn mạnh về cảnh lam lũ của người cày ruộng.

Tôi không bàn thêm về vô ngã. Trong phần phản hồi có nhiều bạn uyên thâm hơn tôi đã giảng khá rõ ràng những khái niệm Vô minh, Vô giác, Vô ngã (anatman, vô tiểu ngã) trong triết học Đại thừa. Những khái niệm này đều thoát ra từ ý niệm “Không tính”, được hiểu như là không có tự tính, vừa chứa tất cả mọi hiện tượng, vừa xuyên suốt các trình tự phát triển sự vật. Nhưng cũng cái “Tính Không” này, theo Phật giáo nguyên thủy và các trường phái triết học Ấn độ, đặc biệt là trường phái Védanta, là cái Ngã nặng nề nhất đúng như anh Hồ Trung Tú đã nhận định. Và cái Ngã này cũng có tên là Tuệ giác, là Chân Như (Brahman) như anh Hoà Nguyễn đã nêu ra trong phần phản hồi. Suy rộng ra Brahman cũng là Niết bàn. Và ở điểm này,đạo Phật cũng hội ngộ với đạo Thiên Chúa vì Thiên đàng (Paradis) cũng là Chúa , là Tình thương của Chúa, là Tâm của Phật.

Cám ơn anh Hồ Trung Tú cho tôi được dịp nói lại điểm then chốt trong Phật giáo là hành tạo nghiệp. Hành đây không có nghĩa là những hoạt động (actes purs) của mọi động vật như đi lại, ngồi, đứng, ăn cơm, mà là một hành động có chủ ý (actes intentionnels) để thoả mãn cái tôi của mình (ăn ngon cho sướng miệng). Những hành động thúc đẩy bởi cái tôi đó (thật ra cái Tôi không có, chỉ là tìm tự mãn) là nguyên nhân của hậu quả sau này là Nghiệp (karma). Chính cái nghiệp (mình hay gọi là nghiệp chướng) sẽ định đoạt đời sống của mình trong vòng luân hồi. Theo tôi hiểu, “Vô minh sinh hành” là không sáng suốt tu luyện để tránh làm những hành động tạo ra cái nghiệp. Và cái nghiệp chứa đựng cái Khổ. Giác ngộ không phải là hiểu nỗi khổ mà là đã thấu hiểu những nguyên nhân tạo ra nỗi khổ.

Khi tôi nói trong câu “hành sinh Thức”, Thức không có nghĩa là “ý thức” (conscience) là vì tôi chỉ nói lại những gì tôi biết về Thiền Đạo: Trong tu Thiền cái cần phải vượt qua trước tiên là “Vô thức”. Khi tu hành đã đạt đến trình độ cao siêu thì cái chót cần phải vượt qua là Ý Thức. Như vậy là ngược lại với ý nghĩ của anh Hồ Trung Tú là Vô thức (Vô minh) có trước Thức. Đối với Thiền đạo (hay ít nhất là một phái Thiền), Vô thức và Thức cùng hiện hữu không có cái trước cái sau gì cả. Ở điểm này Thiền đã không hẹn mà gặp Freud. Như anh Kim Sinh nói, Khoa Phân Tâm học đã khám phá ra động cơ (mobile) của mọi hành động thoát thai từ bản năng (instincts) nằm trong tầng sâu nhất trong thân tâm con người là tầng “Vô thức” (Inconscient). Có những bản năng bị chi phối bởi tính dục (như con trai thích mẹ, con gái thích cha) có thể thúc đẩy đi tới những hành động vô luân nên hoặc bị đè nén hoặc được thay thế bằng 1 hành động thanh cao (sublimé) ở tầng trung gian là tầng “Tiềm thức” (Subconscient), trước khi được thể hiện và ghi nhận ở tầng “Nhận thức” (Conscient) dưới một chiêu bài “mỹ miều” (motif). Như vậy Vô thức là động cơ của một chiếc xe và Nhận thức là cái phanh của xe. Sự khám phá của Freud có tầm quan trọng trong y khoa ngang với thuyết Tương đối của Einstein trong khoa Vật lí học.

Tôi cũng xin nói thêm là trong triết học Tây phương Ý thức được định nghĩa là sự  biết phân biệt chủ thể với vật thể khiến nhờ vậy mà biết tư duy. Ý thức (Conscience) như vậy khác nghĩa với Conscient (tôi tạm dịch là Nhận thức) trong Phân tâm học.

Tôi cũng xin thưa thêm với anh Hồ Trung Tú là tôi hơi biết về MRI và bộ não vì là nghề của tôi. Đó là 1 thứ chụp hình rọi kiến tinh vi coi bộ não có đưa ra hình ảnh bất thường nào không để chẩn bệnh chứ không thể thấy được những cái không có hình ảnh như tập tính, ý nghĩ con người.

Nói tóm lại tôi không khẳng định gì cả mà chỉ phản biện một vài định nghĩa về những khái niệm trong Thập nhị Nhân duyên được Hồ Trung Tú lấy ra chứng dẫn.

3. Hệ thần kinh có từ đâu, hay ý thức có từ hệ thần kinh hay linh hồn?

Đúng là có sự hiểu lầm. Khi tôi nói triết gia Trần Đức Thảo “phải xác định vô bằng chứng là hệ thần kinh tạo ra ý thức… thì quả là một sự quá miễn cưỡng”, là tôi muốn nói một triết gia chỉ hơn người ở chỗ dùng trí óc của mình để suy luận tạo ra lí thuyết là đủ, không cần phải chứng minh xác định gì cả. Bắt triết gia Trần Đức Thảo, không phải là một nhà khoa học, phải cóp nhặt trong sách sinh vật học, cơ thể học, cách đây hơn nửa thế kỷ nói về sự thành hình của hệ thần kinh trong mọi sinh vật, điều mà sinh viên y khoa năm thứ Nhất nào cũng biết, để khẳng định một sự hiển nhiên là ý thức (theo nghĩa y khoa) biểu hiện từ bộ não, thì đúng là một sự miễn cưỡng. Chính Trần Đức Thảo cũng đã tự nói trong một cuốn sách xuất bản năm 1991 ở Paris là có nhiều thiếu sót trong cuốn Tìm cội nguồn… Giáo sư khoa xã hội Đại học Aix-en-Provence, Trịnh Văn Thảo, nói trong cuốn Les compagnons de route de Hô Chi Minh (những người bạn đường của Hồ Chí Minh), là cuốn sách đó được nhồi nhét đầy những khẳng định của Lyssenko, Mitchourine, những nhà khoa học Liên Xô được tôn dương lên 9 tầng mây thời bấy giờ. “Ý thức” trong y khoa chỉ có nghĩa là còn tỉnh táo không ở tình trạng hôn mê như trong nhiều trường hợp chấn thương sọ não hay tai biến mạch não chẳng hạn. Y khoa không cần biết có ý thức, biết suy nghĩ, là có linh hồn hay không.

Tiện đây tôi cũng xin nhắc lại câu hỏi của anh Phụng Nghi là không biết Đức Phật khẳng định Ý thức (ý căn) ở tim hay ở bộ não. Theo tôi, Đức Phật không “duy vật” tới độ cho ý thức là một hocmon được tiết bởi tim hay bởi bộ óc mà có ý muốn nói, bản chất của Ý thức, dù được tạo từ tình cảm (tim) hay từ lí trí (óc), cũng chỉ là một hiện tượng cần phải vượt qua. Đường đi tới Chân Như là đường trực ngộ (intuition).

Khi tôi nói “những kinh nghiệm cận tử (có thể đọc trong Wiki) làm đặt lại câu hỏi về sự có một cái gọi là tinh thần có đời sống độc lập với bộ não không”, tôi không khẳng định gì cả. Phải đợi kết quả những thực nghiệm của các trung tâm nghiên cứu trên thế giới.

Tôi cũng xin lỗi là đã dịch “Réanimation” là “Hồi sinh”. Từ được dùng trong tiếng Việt hiện giờ là “Hồi sức” hoàn toàn khác nghĩa với Réanimation (Resuscitation).

Sở dĩ tôi phải chua những từ ngữ tiếng Pháp hơi nhiều trong bài viết này, một phần là vì những tác phẩm có giá trị của Trần Đức Thảo đều viết bằng tiếng Pháp, một phần là vì những tài liệu tôi thâu thập được cũng bằng tiếng Pháp.

Tôi cũng xin thêm là ở Âu Tây hầu như mỗi tuần có một cuốn sách nói về Phật giáo. Nhưng phần nhiều là sách của các thiền sư Tây Tạng được các học giả Phật giáo phương Tây dịch ra, hay là những sách nói về Phật giáo nguyên thủy (Tiểu thừa) khác với nghĩa Đại thừa Trung Quốc ra đời 1500 năm sau. Tiểu thừa nay gọi là Phật giáo Nguyên Thủy gần quan niệm Brahman Ấn độ hơn. Theo tôi nghĩ những sách Tây phương dịch từ tiếng Phạn có phần chính xác hơn là những sách dịch ra chữ Hán vì một lẽ dễ hiểu là tiếng Tây phương cũng như người Tây phương có nguồn gốc từ Ấn Độ (Người Indo-européens, Âu- Ấn). Những gì tôi biết về đạo Phật đều qua những sách này. Đặc biệt là cuốn Le moine et le philosophe (Ông thày tu và nhà triết học), kể lại những cuộc bàn luận giữa người con, tu sĩ Matthieu Ricard, tiến sĩ sinh vật học, cựu nghiên cứu viên viện Pasteur Paris, nay là thư ký riêng của Đức Đạt Lai Lạt Ma, và người cha là nhà triết học vô thần François Revel. Tôi thấy cũng cần phải phân biệt đạo Phật với triết học Phật. Đạo chỉ cần đức Tin. Triết học bắt buộc phải bàn cãi và sinh ra nhiều trường phái.

Duy tâm hay duy vật là tùy đức Tin của mỗi người. Đức Tin nằm ngoài mọi suy luận của lí trí nên không thể khẳng định bằng lí trí, hay chứng minh bằng khoa học, bằng thời gian được. Trước nay vẫn có xu hướng coi ai không suy luận theo duy vật biện chứng là duy tâm. Có những người không duy vật cũng chẳng duy tâm như tôi chẳng hạn.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Bình luận

11 Comments (bài “Phong Uyên – Xin tiếp tục bàn thêm về Trần Đức Thảo, Freud và Phật giáo”)

  1. Nguyễn Việt Thanh viết:

    Tác hữu trần sa hữu
    Vi không nhất thiết không
    Hữu không như thủy nguyệt
    Vật trước hữu không không
    (Từ Đạo Hạnh)
    (Có thì có tự mảy may
    Không thì cả thế gian này cũng không
    Có không bóng nguyệt lòng sông
    Có không không có, có không khôn cùng?)
    (Dịch giả: Vô danh)

  2. Kim Sinh viết:

    Nhắc lại với anh Tri Ngộ một câu kinh khá hay, hé lộ cho ta biết thế nào là sự giác ngộ qua cách hiểu rất gần nhau giữa anh và tôi, mà tác giả HTT đã trích dẫn từ kinh Lăng Già: “Này Mahamati, Niết Bàn chính là sự tự giác thánh trí của tàng thức chuyển.
    Và tôi thường “chuyển ngữ” theo cách nói hiện đại: Giác ngộ chính là tàng thức chuyển !
    Chúc anh năm mới thân tâm thường an lạc 🙂

  3. Tri Ngộ viết:

    @ Kim Sinh
    Nói là thức thứ sáu do Hành Vô Minh sanh tôi nghĩ cũng chỉ là một cách nói thôi và tôi cùng anh hình như cũng nói giống nhau. Tôi thì nói Ý Thức (YT) bị Mạt Na sai khiến ví Mạt Na là boss (CĂN) của hắn. Mà chính Mạt Na ô nhiễm và làm YT ô nhiễm theo. Và cái “lọc” của anh chính là Mat Na của “tôi”. Muốn cho cái “lọc” đó tha cho mình và cho mình tự do thì mình phải tìm cách tháo gỡ “biến kế chấp” qua phương pháp “Y Tha Khởi” của DTH (tức là một cách tu trong 84,000 cách tu). Và đường đi gian nan lắm. Nếu không gian nan thì chúng ta đã chẳng có hàng vạn người tỉnh thức ? Vậy mà số người tỉnh thức thì hình như chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Nghe Kinh mà tỉnh thức liền như Ngài Huệ Năng hoặc làm cư sĩ như Ngài Cưu Ma La Thập mà đạt ngộ thì ngày nay có vẻ càng ngày càng hiếm.
    Bàn thêm cho vui : nếu thật sự “tâm cảnh nhất như” thì một cách để chuyển đổi tình cảnh xã hội VN hiện nay để đi đến dân chủ và tự do thực sự và bớt tha hoá hơn là mình làm sao cho người dân xứ đó có cái tâm bình an thật sự hơn. Và muốn như vậy, những chủng tử của người dân xứ đó phải được “huân tập” thật nhiều những gì thật tốt hơn (trong chiều hướng Chân Thiện Mỹ) và để việc huân tập được hoàn mỹ, xã hội đó phải có nhiều điều kiện tốt và trong lành hơn. Với nhà cầm quyền CS hiện nay thì những điều kiện tốt này rất khó xảy ra. Kính.

  4. Nguyễn Việt Thanh viết:

    Về cuộc tranh luận giữa Trần Đức Thảo và J.-P. Sartre, xin trích một vài nhận xét của Phạm Trọng Luật ( http://www.viet-studies.info/TDThao/TDThao_PTLuat.htm):
    « Về bản thân cuộc tranh luận với Jean-Paul Sartre, Trần Đức Thảo đã lược thuật nội dung 5 buổi gặp gỡ và tóm tắt quan điểm của ông trong Ghi Chú Tự Truyện [Note Biographique]. Chúng tôi chỉ xin lưu ý thêm đôi điều. Về hình thức, đây là các buổi tọa đàm có ghi tốc ký nhằm xuất bản sau dưới dạng một cuộc đối thoại, do đó, các bản ghi có thể vẫn còn được lưu giữ trong văn khố của triết gia Pháp: chúng ta chưa mất hết hy vọng một ngày kia sẽ được đọc. Mặt nội dung, tất nhiên «phải coi trọng chủ nghĩa Marx cả về triết học» đúng như ông Thảo đã khẳng định, nhưng có thể Sartre cũng không hoàn toàn sai, khi cho rằng Marx chưa giải đáp được thoả đáng nhiều vấn đề triết học mà quan trọng nhất là vấn đề ý thức. Gÿorgy Lukács đã chẳng phải vật vã kết hợp các khái niệm «bản chất» và «hình thái» của hiện tượng học vào những «bối cảnh lịch sử» cụ thể để đi đến nhận định rằng «ý thức giai cấp» chính là một thứ ý thức lịch sử được cảm nhận ở mức độ cá nhân đấy sao? [27] Và ngay cả Trần Đức Thảo cũng đã chẳng phải bận tâm đi tìm một sự bổ túc nào đó cho chủ nghĩa Marx trong lĩnh vực «lao động tinh thần cụ thể» ở hiện tượng học của Husserl hay sao? »

  5. Kim Sinh viết:

    Anh Tri Ngộ:
    Thưa anh Thiền Tông không quán chiếu gì cả, cũng không thiền định mà nói chính xác là thiền Trực chỉ nhân tâm, tức trực chỉ vào chỗ một niệm chưa sinh, chỗ khởi sinh tâm.

    Theo kinh 12 Nhân duyên thì Thức (ý Thức Thức thứ 6), khoan bàn mạcna hoặc alạida thức; là do Hành vô minh sanh.
    Trong thực tế chúng ta thấy quả thật mỗi niệm, mỗi mỗi ý nghĩ, tư duy của chúng ta đều quả thật đều bị “giật dây” điều khiển từ một cái vô thức bản năng sâu xa nào đó. (xin anh tìm đọc Human Instinct của Robert Winston do BBC ấn hành).
    Cho nên, mỗi ý thức, mỗi mỗi ý niệm của ta đều luôn phải qua cái bộ lọc, cái filter nào đó nó có tên là bản ngã, danh dự, sinh tồn, tính dục, sợ hãi…
    Làm sao để mỗi ý nghĩ, mỗi hành vi của chúng ta không phải “chui” qua cái filter đó ? Liệu đó có phải thực là thế giới thanh tịnh mà nhân loại chúng ta mưu cầu ?

  6. Tri Ngộ viết:

    @ Anh Kim Sinh
    Cám ơn anh đã đóng góp. Tôi thì không biết nhiều về Thiền Tông, nhưng nếu Thiền Tông quán chiếu theo phương pháp của Duy Thức Học (DTH), có thể sẽ “khắc chế” (tôi thích chữ hủy diệt được gốc rễ) mọi biến kế vọng tưởng. Gốc rễ của những nhận thức sai lạc này (tà kiến) nằm rất sâu xa trong A Lại Gia (còn được gọi là chiều sâu của vô thức nếu mình dùng danh từ của Freud). Những tiềm năng của tà kiến này trong chiều sâu của vô thức còn được gọi là tùy miên. Nhưng Ý Thức (thức thứ sáu) đóng vai trò quan trọng nhất trên đường đi tới giác ngộ (theo các sách về DTH). Nhờ vào sự quán chiếu và thiền định, Ý Thức cuối cùng giúp hành giả tiêu diệt được tà kiến và chuyển thành Diệu Quan Sát Trí là thế. Thân kính.

  7. Tri Ngộ viết:

    2. nói thêm về Ý Thức (suite et fin)
    Theo nhưng gì tôi đọc được và suy ngẫm, con người chúng ta do Trời Đất Tạo Hoá Tổ Tiên sinh ra thật không hoàn hảo (nous ne sommes pas bien faits).

    Vấn đề chúng ta là một vấn đề cấu tạo sinh lý vì nếu không có ông Mạt Na Thức thì chúng ta đã thành Phật dễ dàng và khổ đau đã không có mặt.

    Ý Thức (thức thứ sáu mà các sách Tây dịch là la conscience, sách Anh dịch là Consciousness), lại lấy ông Mạt Na này làm CĂN, thành ra ngay từ nguyên thủy Ý Thức đã vô cùng chủ quan vì Mạt Na chính là “câu sinh ngã chấp”.

    Ác nghiệp (trong đó có vô minh và tà nghiệp) cũng là bản chất của Mạt Na. Và vì vậy Ý Thức dắt ta đi vào vai trò tạo nghiệp (tất cả những lòi nói (khẩu), hành động (hành) và tư duy (ý nghiệp) đều do Ý Thức (thức thứ 6) chủ động.

    Quyền năng của Ý Thức rất lớn. Vì vậy Jean Paul Sartre đã phải thốt lên : “l’homme est la somme de toutes ses actions” (con người là tổng thể của mọi hành động của hắn).

    Làm thế nào biến đổi được thức Mạt Na là chúng ta sẽ có cái nhìn thực chứng (bình đẳng tính trí). Khoa học hiện đại có cách nào giải phẫu chúng ta để không cần phải tu nữa. Giống như instant coffee, giải phẫu xong là chúng ta thành Phật?

  8. Kim Sinh viết:

    @ anh Nguyễn Việt Thanh:
    Anh vẫn có thể yêu cầu anh Phong Uyên trả lời các thông tin vô cùng mới, và vô cùng hay ấy, bằng một cách hỏi nhẹ nhàng, vui vẻ kia mà?

  9. Kim Sinh viết:

    @ Anh Tri Ngộ:
    Có nói gì đi nữa thì 12 nhân duyên cũng đều quay vòng trong cái vòng tròn của “ông chủ” VÔ MINH.
    Nhận thức nó, dùng “Bát chánh đạo” để khắc chế nó là một trong rất nhiều phương pháp, tông phái tu tập.

    Tuy nhiên xin anh biết cho rằng còn có một tông phái không tin rằng con người với THỨC có thể khắc chế được VÔ MINH, nó giống như là đá đè có, lấy dầu mà dập lửa… đó là Thiền Tông.

    Còn Thiền Tông làm gì với vô minh, để nó tùy tiên sai xử hay sống chung, hay có được phá tan hầm sâu vô thủy vô minh thì lại là chuyện khác.

  10. Tri Ngộ viết:

    1. Thập nhị nhân duyên : Mười hai điều kiện tương quan này cũng chỉ là một ý niệm (notion) dùng để giải thích nghiệp báo và luân hồi. Chúng ta phải rất cẩn thận khi dùng ý niệm này vì đây cũng chỉ là sự đơn giản hoá và chúng ta cũng không nên quên tính chất vô ngã vô thường (y tha khởi) của mỗi nhân duyên : một nhân duyên trong số 12 nhân duyên kia không thể có một bản chất (identité) và một sự hiện hữu (existence) độc lập. Các nhân duyên (cũng như bát chánh đạo) phối hợp và liên hệ chằng chịt với nhau. Thành thử khi nói “vô minh” là ý niệm đầu tiên sinh ra vân vân và vân vân là đi sai thuyết Phật. Mỗi hiện tượng luôn vừa là nhân vừa là quả ! Trong Duy Thức Học (DTH), người ta nói đến hai loại vô thường (một tên khác của vô ngã) : sát na vô thuờng và nhất kỳ vô thường để diễn bày cái tính chất “tất cả chỉ là một dòng sinh diệt liên tục mà không có ngã hay linh hồn bất biến” và theo tôi đây chính là tinh yếu (essence) của lý thuyết vô ngã trong DTH.
    Sẽ xin bàn tầm phào tiếp trong một đóng góp tới. Thân kính.

  11. Nguyễn Việt Thanh viết:

    “[…]Theo các nhà triết học thời ấy, Trần Đức Thảo là người thắng cuộc. Sartre bị đuối lí quay ra nói xấu Trần Đức Thảo khiến Trần Đức Thảo tính kiện. Chính phủ Việt Nam hồi ấy khuyên bỏ kiện để lấy lòng Sartre đang bênh vực Việt Nam.” (P.U.)
    ——————
    Thưa ông Phong Uyên,
    Nhờ ông vui lòng dẫn ra những tài liệu đáng tin cậy về cuộc tranh luận (giữa Trần Đức Thảo và Sartre ) này. Tài liệu nào đề cập đến việc Sartre nói “xấu” Trần Đức Thảo? Rồi, Chính phủ VN “khuyên” TĐT “bỏ qua” cho Sartre lúc đó là Chính phủ nào vậy, thưa ông?
    Tôi xin phép hỏi ông như vậy vì- theo thiển ý- trong một bài viết nghiêm túc không nên có những chuyện mang tính chất “giai thoại”, mơ hồ kiểu “nghe người ta nói thế!” .

    Kính.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>