talawas blog

Chuyên mục:

J.F. ter Horst và Ralph Albertazzie – Người đẹp đi đêm

20/02/2010 | 6:30 sáng | 13 Comments

Tác giả: Đinh Từ Thức

Category: Chiến tranh Việt Nam, Lịch sử
Thẻ:

Đinh Từ Thức lược dịch

Lời người dịch: Khi tranh cử chức tổng thống năm 1968, Richard Nixon nói đã có sẵn kế hoạch giải quyết cuộc chiến Việt Nam, nhưng không chịu nói rõ giải quyết như thế nào. Ngay sau khi nhậm chức vào đầu năm 1969, Nixon đã có kế hoạch gửi Cố vấn An ninh Henry Kissinger đi Paris để mật đàm với đại diện của Hà Nội.

Kết quả những cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ như thế nào, mọi người đều đã biết. Nhờ thành tích đi đêm này, hai người đã được tặng giải Nobel Hòa bình năm 1973, và cả cơ quan tặng giải lẫn những người được giải đã bị nhiều dị nghị. Lê Đức Thọ từ chối, Kissinger không từ chối, nhưng cáo ốm không đi nhận giải, và tặng phần giải thưởng của mình cho cơ quan từ thiện.

Chẳng những chính quyền VNCH ở Sài Gòn không được biết gì về những cuộc mật đàm này, ngay cả nhiều nhân vật cao cấp trong chính quyền Mỹ ở Washington như Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird, và Bộ trưởng Ngoại giao William Rogers cũng bị qua mặt.

Ngày 20, 21 tháng Hai, 2010, là 40 năm kể từ buổi mật đàm đầu tiên. Ông Nixon và đám phụ tá tin cẩn đã làm thế nào để bảo mật các cuộc mật đàm? Sau đây là câu chuyện do chính người lái phi cơ chở Kissinger đi mật đàm, là Đại tá Ralph Albertazzie kể lại.

Các chuyên viên làm việc tại tháp kiểm soát không lưu ở phi trường Rhein-Main, Frankfurt, bị một mẻ hoảng hồn. Đêm đã xuống tại miền quê nước Đức khi chiếc phi cơ của Bạch ốc hạ cánh. Rồi, bất ngờ, theo sau là chiếc phản lực Mystère 20 của tổng thống Pháp Georges Pompidou. Chiếc máy bay của Pháp nhỏ hơn, rời phi đạo, lăn bánh về phía không lực Mỹ của phi trường, nơi chiếc phi cơ 707 của Hoa Kỳ còn di chuyển chậm chạp trước khi ngừng. Thình lình, như được ra hiệu, tất cả đèn phi trường ở khu vực này đều tắt. Chín phút sau, chiếc Mystère báo tin cho tháp kiểm soát nó sẵn sàng cất cánh. Chiếc phi cơ Pháp thon gọn tăng tốc trên phi đạo, vọt thẳng lên không trung, hướng về Paris ở phía Tây. Một trong những nhà kiểm soát không lưu nhìn theo những đèn nhấp nháy của chiếc phi cơ, cho đến khi nó biến dạng vào đêm đen. Rồi với tay nhấc điện thoại.

Sáng sớm hôm sau, 16 tháng Ba, 1970, một tùy viên không lực Đức tại Paris, len lỏi trong dòng xe cộ đông đảo buổi sáng, tìm về phía Nam thành phố, tới phi trường Villacoublay, nơi đậu của chiếc phi cơ dành riêng cho Tổng thống Pompidou. Đây không phải là chuyện ông ta đã tính trước để làm vào sáng thứ Hai, và dĩ nhiên, ông ta cũng đâu có đợi một lời yêu cầu cấp bách của tình báo Đức. Trong vòng một tiếng, ông ta đã có mặt tại văn phòng của Đại tá Calderon, phi công riêng của Tổng thống Pompidou.

Calderon không hề ngạc nhiên về sự có mặt của vị khách. Ông ta đã báo động phía Hoa Kỳ rằng thế nào phía Đức cũng hỏi này nọ. Ông ta hướng dẫn vị tùy viên vào, mời ngồi, và mời thuốc lá.

Ông khách Đức chậm chạp ngồi xuống ghế. Vắt chân chữ ngũ. Và như thói quen, lấy hai ngón tay cái và trỏ, vuốt theo nếp gấp của ống quần. Ông ngước lên, đưa một cái nhìn bình thường về phía Calderon, và nói bằng một thứ tiếng Pháp hoàn hảo.

“Chuyến bay đêm qua, thưa Đại tá. Chuyện gì vậy?”

Calderon nhận xét ông khách. Có lẽ ông ta biết ít hơn những gì ông biết. Rồi Calderon vừa cười vừa nói: “Ồ, chuyến bay đó – có phải ông muốn nói chuyến bay tối qua đến Rhein-Main?”

Không dễ để mối quan tâm của mình bị coi nhẹ, ông tùy viên Đức nói với vẻ khẩn trương:

“Tối qua, không phận Đức đã bị xâm phạm bởi một phi cơ mang huy hiệu chính quyền Pháp. Phi trình không nạp trước. Không được chấp thuận, không báo trước, chiếc phi cơ này đã bay vào Rhein-Main”.

Ông ngừng lại cho lời nói lắng xuống. Mặt Calderon không thay đổi. Vị tùy viên tiếp:

“Rồi chiếc phi cơ này taxi về phía Hoa Kỳ của phi trường, nơi một chiếc phi cơ tổng thống từ Washington vừa mới tới. Máy bay của ông – phi cơ tổng thống Pháp – đậu lại trên mặt đất chỉ có vài phút, đúng ra là 9 phút. Rồi nó lại bay đi, chắc là trở về Paris. Thật thế, thưa Đại tá, đây là một vấn đề rất nghiêm trọng. Tôi được yêu cầu hỏi ông về một lời giải thích”.

Calderon tỏ vẻ ân hận: “À, vâng, ông bạn ơi, chuyện thủ tục. Luôn luôn là, tôi phải nói thế nào đây, luôn luôn rất quan trọng cho những người như ông với tôi, là những người phục vụ xứ sở chúng ta”.

Calderon đang dẫn tới câu trả lời ông ta đã được xui trước. Nhưng ông ta cũng đang thích thú về vai trò của mình trong chuyện bí mật đêm trước. “Thủ tục, phi trình chính thức và chấp thuận trước, là chuyện rất khó khăn hiện nay cho một người lãng mạn trong một thế giới tôn thờ quy luật”.

Vị tùy viên không lực Đức ngồi thẳng dậy: “Lãng mạn? Tại sao lại có chuyện lãng mạn trong việc vi phạm không phận của Cộng hòa Liên bang Đức?”

Calderon nghiêng người qua bàn giấy, và, với một ngón tay ra hiệu cho vị khách Đức xích lại gần hơn. Rồi ghé đầu nói thầm: “Chuyến bay tối qua, liên hệ tới một người đàn bà.”

“Một người đàn bà?” Vị khách Đức nói gần như kêu lên.

Calderon đặt một ngón tay lên môi, mắt nhìn về phía cửa ra vẻ báo động canh chừng: “Chuyến bay tới Rhein-Main tối qua liên hệ tới một người đàn bà.”

Bây giờ đến lượt vị khách Đức mỉm cười, nói: “Người Pháp các anh”, giọng nói có vẻ khâm phục, và ngạc nhiên: “Anh muốn nói…?”

Calderon gật đầu lia lịa. Mưu mẹo có vẻ hiệu quả: “Một người đàn bà”, ông ta nhún vai nhắc lại, và nói thêm: “Không phải ban đêm – và những chuyến bay – là vì vậy sao?”

Tùy viên không lực Đức sáng mắt lên. Ông ta không thể đợi lâu hơn để trở về tòa đại sứ tại Paris. Ông bắt tay Calderon và lắc mạnh, trong khi tự nói với mình: “Một người đàn bà! Một người đàn bà!” Tại cửa, ông ta quay lại hỏi Calderon một câu chót: “Người đàn bà này – phải chăng là người Đức?”

Mắt Calderon mở lớn ra vẻ ngây thơ: “Tôi chỉ là một phi công, bạn ơi! Tôi chỉ lái máy bay”.

*

Lệnh ban ra trực tiếp từ Tổng thống Nixon. Đại tá Ralph D. Albertazzie, phi công riêng của tổng thống được triệu tập tới Bạch ốc để dự một cuộc họp bí mật vào mùa Hè năm 1969, mấy tháng sau khi Nixon nhậm chức. Albertazzie được đưa tới phòng Roosevelt, đối diện với hành lang từ phòng Bầu Dục. Hiện diện tại đó đã có Đại tá James Hughes, phụ tá quân sự của Tổng thống, và Alexander Haig, phó cố vấn an ninh của Kissinger. Sau đó, chính Kissinger cũng tham dự.

Albertazzie sau đó tả lại mục đích của phiên họp: “Đã có nhiều cuộc họp công khai giữa các giới chức Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam tại Paris dưới thời chính quyền Johnson. Nhưng các phiên họp đều được phía bên kia dùng để tuyên truyền. Bây giờ Tổng thống Nixon muốn dùng Kissinger để thử một đường lối khác, xem Hoa Kỳ và Hà Nội có thể tìm được giải pháp thỏa hiệp không”.

Không nói rõ chi tiết, Kissinger cho biết những điểm chính yếu cho những cuộc họp riêng tư đã được đặt ra. Điều ông ta không nói, là để đáp ứng một lá thư Nixon đã gửi cho Hồ Chí Minh không lâu trước khi ông này qua đời, Kissinger đã có phiên họp sơ khởi với Xuân Thủy tại Paris. Trên đường về từ một chuyến công du nhiều nước của Nixon vào tháng Bảy 1969, Kissinger đã ghé Paris, bề ngoài như là để tường trình với các giới chức Pháp về chuyến đi của Nixon. Nhưng mục tiêu khác của chuyến ghé Paris này là để tìm hiểu ý muốn của Bắc Việt về những cuộc thảo luận riêng tư. Xuân Thủy đã đáp ứng tích cực.

Kissinger hỏi: “Nhưng làm thế nào để chúng ta có thể làm điều này mà cả thế giới không biết?” Không phải chỉ có một vấn đề là báo chí thế giới. Thật ra, Tổng thống không muốn bộ Quốc phòng, bộ Ngoại giao, và cả CIA biết ông gửi Kissinger đi Paris cho những cuộc họp siêu bí mật với Bắc Việt. Chỉ có một đường lối có thể bảo đảm được loại bí mật đó – là giữ nội vụ trong phạm vi một nhóm nhỏ làm việc trực tiếp với Tổng thống tại Bạch ốc.

Albertazzie hình dung ra một kế hoạch với vai trò hiển nhiên của Air Force One, là phi cơ riêng của tổng thống. Chỉ có chiếc phi cơ này, mang số hiệu SAM 26000 (SAM – Special Air Mission), và chiếc thứ nhì để phòng hờ mang số hiệu SAM 970, hay còn gọi là Air Force Two, là những phi cơ tầm xa, dưới quyền kiểm soát trực tiếp của chủ nhân phòng Bầu dục. Ông có thể cử Kissinger đi bất cứ đâu bằng phi cơ của tổng thống. Nhưng làm sao có thể làm như vậy mà tránh được quan tâm của bộ Quốc phòng, và những người hiếu kỳ.

Kissinger giải thích rằng ông ta có thể che giấu sự vắng mặt tại Washington bất cứ khi nào cần một chuyến đi. Sẽ tùy thuộc vào Hughes và Albertazzie tìm lý do chính đáng cho sự vắng mặt của phi cơ tổng thống tại Washington, và sự lui tới của nó tại Âu châu.

“Thật khó mà giấu nổi một chiếc Boeing đặc biệt như vậy”. Haig nói khi cuộc họp chấm dứt. Hughes tiễn Albertazzie ra cửa, nói thêm: “Tất cả mọi chuyện anh cần làm là tìm một duyên cớ hoàn hảo cho chiếc phi cơ nổi tiếng nhất thế giới. Và phải là lý do thật tốt”.

Albertazzie tìm được giải pháp nhờ một bộ máy không hoàn hảo trên Air Force One. Đó là hệ thống nhiễu âm (voice scrambler). Ngay từ thời Tổng thống Johnson, một bộ máy nhiễu âm đã được đặt trên Air Force One, để mỗi khi tổng thống nói qua làn sóng radio, thì chỉ có người nhận nghe rõ, còn những ai nghe lén thì không nghe được. Bộ máy giá tới 25 triệu đô và nặng 1700 pounds, nhưng hoạt động không được như ý. Lấy cớ hệ thống cần sửa chữa cho hoàn hảo, và cần những chuyến bay xa để thử, Albertazzie đã có lý do chính đáng chở Kissinger đi Âu châu, qua mặt cả bộ Quốc phòng, bộ Ngoại giao, và CIA.

*

Chuyến bay bí mật đầu tiên chở Kissinger trên máy bay của tổng thống diễn ra vào cuối tuần 20 và 21 tháng Hai, 1970. Ông ta gặp Lê Đức Thọ tại một biệt thự tư gần Paris.

Vào buổi chiều trước ngày bí mật lên đường, Kissinger cố ý xuất hiện để được nhiều người nhìn thấy, và chụp hình đăng báo, tại một cuộc gặp gỡ đông người ở Georgetown, cặp kè một người đẹp. Sáng sau bí mật đi Paris, ở đấy khoảng từ 14 đến 18 tiếng, rồi lại trở về Washington ngay. Vừa trở về, Kissinger lại cố tình xuất hiện ở chỗ đông người. Như thế, không ai, ít nhất là báo giới, nghi ngờ rằng giữa hai lần xuất hiện, ông ta đã có mặt tại Paris.

Phần khó nhất là việc chuyên chở Kissinger tới Paris và trở về. Mỗi chuyến đi, bao giờ cũng bắt đầu và chấm dứt nhờ nhóm phụ trách chiếc phi cơ của tổng thống. Nhưng việc đưa đón Kissinger tại Pháp là trách nhiệm của Thiếu tướng Vernon “Dick” Walters, tùy viên bộ Quốc phòng tại Đại sứ quán Mỹ ở Paris, người sau này trở thành Phó Giám đốc CIA. Thông thạo nhiều ngoại ngữ, và thường thông dịch cho các tổng thống, Walters che giấu khả năng tình báo của mình dưới diện mạo một doanh nhân. Vai trò của ông trong các cuộc họp bí mật của Kissinger được giữ kín mãi đến khi ông về hưu, và viết trong hồi ký Nhiệm vụ thầm lặng (Silent Missions).

Phi cơ của tổng thống Hoa Kỳ không dễ dàng tới Paris với lý do một chuyến bay huấn luyện. Chính quyền Pháp dưới thời Charles de Gaulle đã phản ứng gay gắt việc Hoa Kỳ đóng vai xếp lớn của NATO. Lấy lý do bảo vệ chủ quyền của một quốc gia độc lập, de Gaulle đã yêu cầu máy bay quân sự Mỹ phải có giấy phép đặc biệt mỗi khi bay qua không phận Pháp. Nước Pháp còn tổ chức lại hệ thống kiểm soát không lưu, và không còn căn cứ không quân Mỹ trên đất Pháp nữa. Do đó, không thể khơi khơi chở Kissinger tới Pháp, mà không cho Pháp biết lý do chính đáng.

Do cố vấn của Walters, và được Nixon cho phép, Kissinger đã nói thật dự án bí mật của mình với tổng thống Pháp Pompidou, và phụ tá thân cận của ông là Michel Jobert. Pompidou đã giúp Kissinger bằng cách cho phép máy bay của tổng thống Mỹ chở Kissinger được đáp xuống nhiều phi trường tại Pháp, và cho đậu tại những nơi khuất nẻo. Chính vào thời gian dư luận thế giới cho rằng liên lạc ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Pháp căng thẳng, Tổng thống Pháp đã tích cực giúp Kissinger. Thiếu sự giúp đỡ này, sứ mạng đi đêm của Kissinger khó có thể thành tựu.

Tại Paris, để Kissinger không bị lộ diện, Walters đã xếp đặt cho Kissinger và thường là hai phụ tá ở ngay tại căn apartment nhỏ của ông ở Neuilly. Trong khi ấy, Albertazzie tìm cách qua mặt bộ Quốc phòng, và bộ Ngoại giao.

Chuyến đi đầu tiên vào ngày 20 tháng Hai, 1970 là một thí dụ điển hình. Theo lộ trình chính thức, chiếc phi cơ của tổng thống bay từ phi trường Không quân Andrew ở ngoại ô Washington tới Wiesbaden, Đức. Dự định cất cánh 10 giờ sáng, mãi 10:30 Kissinger mới tới, khiến chuyến đi hơi vội vàng. Albertazzie không thể nói cho cơ quan kiểm soát không lưu ở Andrew, và cơ quan đặc biệt theo dõi Air Force One tại bộ Quốc phòng, là phi cơ sẽ vòng xuống phía Nam Atlantic để thả Kissinger xuống phi trường Không quân Pháp tại Avord, 100 dặm về phía Nam Paris. Công việc này phải mất thêm một giờ bay. Thêm một tiếng trong chuyến đi thường lệ 7 tiếng, không đến nỗi quá lâu để thành vấn đề. Sở dĩ chọn Avord, vì nơi đây là căn cứ của loại phi cơ vận tải chở nhiên liệu tiếp tế trên không. Ban đêm, chiếc Boeing 707 của tổng thống Mỹ trông không khác các phi cơ chở nhiên liệu.

Đợi đến khi máy bay tới gần Âu châu, quyền kiểm soát không lưu chuyển từ Trans-Oceanic ở New York sang cơ quan kiểm soát ớ Shannon, Ireland, Albertazzie mới xin đổi đường bay, ghé Paris trước khi tới Wiesbaden. Gần đến Paris, Albertazzie lại xin đổi phi trình, đáp xuống Avord, thay vì Paris. Trước đó, Walters đã xin Pháp chấp thuận, nên không gặp rắc rối gì. Nhưng cơ quan theo dõi Air Force One tại bộ Quốc phòng không biết những thay đổi này.

Tại Avord, SAM 26000 được hướng dẫn tới đậu tại một khu hẻo lánh. Kissinger và hai phụ tá lên một máy bay nhỏ của Pháp để tới phi trường Villacoublay gần Paris. Tại đây, Walters đợi sẵn, đưa Kissinger và các phụ tá về nhà mình nghỉ qua đêm, để sáng mai gặp Lê Đức Thọ, trước khi quay trở lại Avord để về Mỹ. Về phần SAM 26000, sau khi thả Kissinger tại Avord, bay đến Wiesbaden nghỉ qua đêm, rồi hôm sau quay lại đón Kissinger.

Trong chuyến về, Albertazzie cũng phải tìm cách để không bị lộ tẩy. Ra khỏi không phận Đức, Albertazzie báo cho Wiesbaden là phi cơ đã tới Shannon, để Wiesbaden không còn trách nhiệm với SAM 26000 nữa. Nhưng Albertazzie lại báo cho Shannon là phi cơ đang trên đường tới Avord, trước khi tới Shannon, và yêu cầu không cần báo cho ai biết.

Do thói quen không đúng giờ của Kissinger, bí mật đã suýt bị lộ tại Avord. Thay vì gặp lúc 3 giờ chiều như hẹn trước, mãi 6:30 Kissinger mới trở lại, vào lúc Albertazzie không thể chờ đợi lâu thêm nữa. Thế là phi cơ phải bay thẳng về Mỹ, thay vì đáp xuống Shannon. Nhưng trên giấy tờ vẫn ghi về từ Shannon. Trước khi rời Avord, SAM 26000 đã được đổ gần bốn chục ngàn lít xăng, nhưng Pháp không lấy tiền, giúp nội vụ không bị phát giác khi thanh toán hóa đơn.

Chuyến đi nào của Kissinger cũng đại khái căng thẳng như vậy. Trong khoảng thời gian 1970-1971, có tất cả 13 chuyến đi, nhưng bí mật vẫn không bị lộ. Mãi đến ngày 25 tháng 1, 1972, Tổng thống Nixon mới cho biết trong một diễn văn được phát đi trên toàn quốc, rằng đã có những cuộc mật đàm tại Paris giữa Mỹ và Bắc Việt. Không riêng giới truyền thông bị qua mặt, cả các nhân vật cao cấp trong chính quyền cũng không biết gì. Trong số này có Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird, và Bộ trưởng Ngoại giao Willam Rogers, và ngay cả phần lớn bộ tham mưu Bạch ốc.

*

Trên trời, tiếng nói của phi công là luật. Hành khách có thể ở địa vị cao hơn, nhưng phi công là người duy nhất chịu trách nhiệm về an ninh của khách và phi cơ. Trong trường hợp chở Kissinger đi mật đàm, phi công còn nắm trong tay quyền quyết định giữ kín hay lộ bí mật về một mưu toan của tồng thống. Đó là chuyện xảy ra trong chuyến đi vào tháng Ba năm 1970.

Từ đầu đến thời gian này, Albertazzie vẫn chở Kissinger bằng phi cơ của tổng thống SAM 26000, chính là chiếc phi cơ đã chở Tổng thống Kennedy tới Dallas vào buổi sáng ngày 22 tháng 11 năm 1963, và buổi chiều chở xác ông về lại Washington. Lần này, Albertazzie muốn thử đi bằng chiếc phi cơ phòng hờ, giống hệt chiếc thứ nhất, mang số hiệu SAM 970. Chiếc phi cơ này mới được tu bổ trong hai tháng ở New York. Albertazzie muốn sử dụng nó cho một chuyến bay thử đường xa, trước khi chở tổng thống. Chuyến bay thử cũng là một lý do tốt để che đậy mục tiêu thật của chuyến đi.

Kế hoạch dự trù giống hệt chuyến bay đầu tiên ngày 20 tháng 2, 1970. Cũng đi từ Andrew, rồi xin đổi đường bay khi đến Âu châu, tạt qua thả Kissinger xuống Avord vào ban đêm, trước khi tới Wiesbaden.

Kissinger thích SAM 970 hơn SAM 26000, vì tuy bề ngoài giống hệt nhau, nhưng bên trong mới được tu bổ và trang trí thích hợp hơn. Nhưng không ai ngờ chuyện căng thẳng đã xảy ra.

Nửa đường trên Đại tây dương, kỹ sư phi hành Joe Chappell báo cho Albertazzie biết hệ thống bơm dầu bị giảm áp lực. Đến khi áp lực xuống thấp hơn nữa, anh ta sẽ phải châm thêm dầu.

Một giờ sau, Chappell cho biết: “Tôi đã châm thêm dầu. Nhưng dầu không giữ được lâu”. Albertazzie ra lệnh cho Chappell châm thêm nữa, và canh chừng chuyện này. Một lát sau, Chappell trở lại báo cáo: “Thưa Đại tá! Chúng ta thực sự gặp rắc rối. Dầu châm vào bao nhiêu, vơi đi bấy nhiêu. Và tôi đã hết dầu để châm thêm”.

Albertazzie khẽ chửi thề. Hệ thống bơm dầu làm mọi chuyện trên các máy bay kiểu mới. Từ chuyện máy bay nâng hay hạ cánh phụ, trợ lái, hạ bánh xe và thắng hơi khi đáp. Albertazzie thử vài động tác, quả nhiên hệ thống bơm dầu không còn tác dụng. Từ đây trở đi, chỉ còn bắp thịt đối phó với động cơ.

SAM 970 giờ đây đã bay quá nửa đường trên Đại tây dương, không còn đủ nhiên liệu để trở lại Mỹ. Bắt buộc phải hạ cánh xuống một nơi nào đó tại Âu châu, nhưng ở đâu? Tại Avord, nơi Kissinger vẫn được thả xuống là tiện hơn cả, nhưng ở đây không đủ phương tiện sửa chữa, khiến bí mật sẽ bị lộ. Chỉ có mấy nơi ở Âu châu đủ phương tiện, là: Shannon, London, Paris, Frankfurt, Rome.

Được hỏi ý kiến, Kissinger đáp: “Tôi không cần phải nói rằng Tổng thống không muốn chuyến đi này bị thay đổi. Mặc dù những khó khăn, công tác này phải được bảo tồn. Nói giản dị là phải tìm ra một cách nào đó để đưa tôi tới Paris mà không bị lộ”. Kissinger quay sang ra lệnh cho Haig, người tháp tùng: “Liên lạc với Tổng thống để xin chỉ thị”.

Tại Bạch ốc, Nixon mau chóng trả lời: “Chuyến đi không thể bỏ được. Phải thực hiện bằng mọi giá”. Ông bảo Kissinger và Haig liên lạc với Dick Walters ở Paris, xem ý kiến của ông ta như thế nào. Liên lạc vô tuyến được thiết lập từ SAM 970 đang bay trên Atlantic tới Paris, qua Phòng Tình hình tại Bạch ốc.

Chỉ còn 3 giờ bay, Albertazzie đã lấy quyết định đáp xuống phi trường nhộn nhịp Rhein-Main ở Frankfurt. Tại đây có phi đạo dài, cần cho phi cơ có thể ngừng với bộ thắng thiếu hơi trợ lực, và có không lực Mỹ đóng ở đó, có phương tiện sửa chữa của Lufthansa, và nhất là không quá xa Paris.

Quyết định của Albertazzie đến với Walters ở Paris vào lúc 8 giờ tối. Còn có mình ông ta; nhân viên đã về hết và văn phòng đã đóng cửa. Ông ta quyết định, chỉ có một người có thể giúp được, là Tổng thống Pompidou.

Viên hiến binh canh cửa Điện Elysée ngạc nhiên báo cho Michel Jobert, phụ tá thân cận nhất của Tổng thống Pompidou là có Walters đang đợi ở cửa. Sau khi biết chuyện, Jobert xin lỗi chạy đi một lát, rồi trở lại hướng dẫn Walters vào phòng của Tổng thống Pompidou, để trình bày cho ông biết những gì đang xảy ra.

Phản ứng của tổng thống Pháp là với tay lấy điện thoại gọi cho phi hành đoàn của ông tại phi trường Villacoublay, nơi đậu của chiếc Mystère 20, là phi cơ riêng của ông. Nói xong, ông bảo Walters: “Tới Villacoublay. Họ đợi và đưa ông tới Frankfurt, để chở Kissinger về đây”.

Walters tới Villacoublay, máy bay của tổng thống Pompidou và Đại tá Calderon đợi sẵn. Chiếc phản lực Mystère vọt lên khỏi phi đạo, phóng tới Frankfurt, Đức.

Mấy phút trước khi tới phi trường Rhein-Main, Calderon liên lạc được với Albertazzie, đang lúc ông này sửa soạn cho chiếc Boeing hạ cánh. Calderon theo sau.

Albertazzie kể: Tôi đã nói qua radio với chỉ huy trưởng không lực Mỹ tại Rhein-Main là tôi đến bất ngờ trong một chuyến bay mật, và tôi không muốn được chú ý nhiều khi hạ cánh. Tôi không cho biết chuyện chúng tôi gặp rắc rối về kỹ thuật. Tôi chỉ nói xin cho người đẩy tới một cái thang, và ngay cả việc gặp ông ta, tôi cũng không muốn.

SAM 970 dùng tối đa chiều dài phi đạo khi hạ cánh, mặc dầu đã phải cho hai động cơ đẩy phản hồi. Rồi rời phi đạo, đi khá xa hướng về phía không lực Mỹ.

Chiếc phi cơ nhỏ của tổng thống Pompidou đã đến trước. Walters nhảy xuống, ra hiệu tắt tất cả các đèn pha. Rồi SAM 970 dừng lại. Kissinger không có cặp kính quen thuộc, cổ áo kéo lên, cùng các phụ tá vội vàng leo lên chiếc Mystère.

Trên đường về Paris, Calderon mời Walters vào phòng lái để hỏi ý kiến về việc sẽ phải đối phó với một vấn đề mới. Nhìn quang cảnh bất thường mới diễn ra tại Rhein-Main, Calderon nghĩ là sẽ có chuyện rắc rối cho Tổng thống Pompidou; phi cơ của ông không hề có thói quen hạ cánh không báo trước tại các phi trường Đức. Chắc chắn phía Đức sẽ tới, và đặt ra nhiều câu hỏi. Trả lời như thế nào?

Đó là chuyện ngoài dự trù. Im lặng giây lát để suy nghĩ, rồi một ý kiến chợt đến với Walters. Ông ta nói với Calderon:

“Nói với họ chuyện này liên hệ tới một người đàn bà. Họ sẽ tin chuyện này đối với người Pháp, và sẽ giữ bí mật”.

Nguồn: J.F. ter Horst & Col. Ralph Albertazzie, The Flying White House, Chương 9: Cherchez la Femme, trang 275-295. Coward, McCann & Geoghegan, Inc. New York, 1979.

Bản tiếng Việt © 2010 Đinh Từ Thức

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

Bình luận

13 Comments (bài “J.F. ter Horst và Ralph Albertazzie – Người đẹp đi đêm”)

  1. nguyenthuan viết:

    Chào tất cả,

    Tiếp tục về nhân quyền và dân chủ của VNCH trước năm 1975:

    NẠN NHÂN CỦA CHIẾN DỊCH LÙNG VÀ DIỆT (SEARCH & DESTROY)

    ++(1) Trong thời kỳ chiến tranh xâm lược VN, Mỹ đã đẻ ra chương trình SEARCH & DESTROY (lùng và giết) để tiêu diệt VC.

    ++(2) Mỹ đã thực hiện chương trình này bằng cách cho những tiểu đội trinh thám tìm (search) và sau khi đã tìm ra, tiểu đội này gọi hoả lực vào để tiêu diệt (destroy) NHỮNG GÌ HỌ ĐÃ TÌM RA.

    ++(3) Thông thường là cái tiểu đội này gọi đại pháo (105 ly hoặc 150 ly) hoặc không lực Mỹ để tới NAPALM hoặc dập nơi có “địch quân” THÀNH BÌNH ĐỊA.

    Nhưng than ôi… Ai là nạn nhân của chương trình SEARCH & DESTROY NÀY? Người dân thường VNCH chứ còn ai nữa hén..

    Điển hình là:

    ++(4) Tại Bàu Cát và Quảng Tín, SEARCH & DESTROY đã gọi B-52, pháo binh ĐÃ PHÁO NÁT CÁC LÀNG MẠC, RUỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI DÂN VÔ TỘI… mà Mỹ đánh giá là kẻ thù.

    ++(5) Hậu quả là người dân VNCH phần thì chết oan, phần thì nhà cửa, RUỘNG VƯỜN, MỒ MẢ TỔ TIÊN bị bom đạn, chất độc hoá học…

    ++(6) Người dân miền Nam phải bỏ tất cả ĐỂ CHẠY TỴ NẠN NƠI CÁC THÀNH PHỐ LỚN…

    ++(7) Tại Bàu Cát không thôi có tới 300,000 người chạy tị nạn bom đạn, pháo binh Mỹ.

    ++(8) Tại Quảng Tín có tới gần 200,000 người bỏ chạỵ.

    ++(9) Hai nơi này thôi, chỉ trong một năm mà đã có nữa triệu người Việt chịu cảnh mất của, mất mát bỏ chạy lên thành phố lớn…

    ++(10) HỌ chạy lên thành phố lớn TẠO RA THẤT NGHIỆP, MẤT TRẬT TỰ, NGHÈO KHỔ ===> ĐƯA TỚI ĐĨ ĐIẾM TRÀN LAN trong các Snack Bars của Mỹ.

    ++(11) Như vậy, Search & Destroy đã CỐ TÌNH TẠO RA CẢNH: ĐỐT HANG ĐỂ CHUỘT CHẠY RA THÀNH PHỐ… từ đó tiêu diệt CS.

    ++(12) Mỹ đã CỐ TÌNH BOM ĐẠN, PHÁO BỪA BÃI để DÂN BỎ LÀNG MẠC CHẠY LÊN THÀNH PHỐ và miền quê thì không ai GIÚP ĐỠ CS NỮA.

    Nhưng làm như vậỵ,

    ĐẤT NƯớC, RUỘNG NƯƠNG, NGƯỜI DÂN MẤT MÁT,

    Như vậy:

    Cả triệu người VNCH bị giết oan, mất nhà cửa, ruộng nương, mồ mả tổ tiên CHỈ VÌ CÁI GỌI LÀ THÀNH TRÌ CỦA THẾ GIỚI TỰ DO CUỒNG TÍN TÔN GIÁO này hén!

    Vậy, họ, người dân VNCH có cần phải bị LŨ KHỈ ĐÍT ĐỎ CSVN lường gạt để đứng lên lật đổ cái chế độ bù nhìn, tàn nhẫn, coi mạng sống và gia sản của người dân miền Nam chẳng ra gì không?

    Vâng, có đàn áp thì phải có đấu tranh, chủ nghĩa khủng bố VNCH không thể nào tồn tại trên đất nước Việt Nam mình được hén.

  2. Tri Ngộ viết:

    @ nguyenthuan
    Ngày xưa sự hiện diện của người Mỹ ở VN có làm đảo lộn đời sống xã hội của dân miền Nam. Không ai phủ quyết điều đó. Với sự hiện diện của gần nửa triệu lính Mỹ ở một thời điểm kinh hoàng của chiến tranh quốc cộng, sụ đảo lộn này cũng là điều bình thường và cũng nhỏ thôi. Tôi lớn lên ở miền Nam, ngay trong một trong những khu lao động nghèo nhất Sài Gòn và cũng nhận thấy có những người con gái chạy theo những đồng đô la thơm phức này của Mỹ và họ cũng đã bán thân để nuồi gia đình và để thoát ra cảnh nghèo khó. Tuy nhiên số người còn lại giữ được nền đạo đức của cha ông vẫn nhiều gấp bội và cái cảnh các cô gái theo Mỹ trong cái khu lao động ấy chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay.
    Ngày nay sau 35 đất nước “thống nhất”, khi Mỹ đã cút và Ngụy đã nhào, cả nước VN, nhờ vào tài cai trị của ĐCSVN, đã biến thành một nước phục vụ tình dục và bán dâm cho các anh Tàu phù, cho những người đàn ông Đài Loan, Đại Hàn và Hồng Kông Singapore sang VN tìm vợ. Đi lựa vợ cũng như đi vào chợ bán thịt. Chưa lúc nào người phụ nữ VN bị coi thường và mất nhân phẩm đến độ như vậy trong lịch sử VN. Tổng số những người phụ nữ thật đáng thương và tội nghiệp này theo thống kê của các báo chí khắp nơi lên đến hơn trăm ngàn người.
    http://tintuc.timnhanh.com/kieu-bao/20100126/35A9F9A3/Phan-doi-cua-phu-nu-Viet-lay-chong-Trung-Quoc-phi-phap.htm
    Con số lớn này cho thấy mặc dù đất nước độc lập và có chủ quyền nhưng sự nghèo khổ cùng cực và cách cai trị phi nhân của ĐCSVN đã biến nước VN thành một nước bán tình dục lớn nhất trong lịch sử loài người.

  3. nguyenthuan viết:

    [Bạn có nói gì chăng nữa cũng không thay đổi cuộc diện.]

    Dân chủ nhân quyền mà bạn muốn có giá trị hơn hàng triệu sanh mạng người dân miền Nam Việt Nam mà.

    Nói đến chiến tranh là phải có chết chóc, và khi Mỹ nói đến nhân quyền và dân chủ thì dân Việt Nam mình bị giết như giết gà giết heo nghen.

    Vietnam War Crimes Hearings:
    http://www.vietnamese-american.org/dellums.html
    While our operation was going on, which is about 2 to 5 miles south of Danang, 90% of the surrounding countryside was a free-fire zone. It was understood by me, by all of us in tactical Operations Center and elsewhere, that we were allowed to shoot anything that moves in that area.

    Tạm dịch:

    Lúc chúng tôi đang hành quân, từ 2 đến 5 miles phía Nam của Đà Nẳng, 90% của nông thôn là free-fire zone. Tôi hiểu là, chúng tôi có quyền bắn bất cứ những gì di chuyển trong khu vực đó.

    THE FREE FIRE ZONES (VÙNG BẮN TỰ DO) Hay lính Mỹ gọi là ‘THE TURKEY SHOOTS’ tức là BẮN GÀ TÂY

    ++(1) Trong cuộc chiến VN, Mỹ đã phát minh ra cái gọi là THE FREE FIRE ZONES để chia rẽ DU KÍCH VÀ THƯỜNG DÂN..

    ++(2) Các vùng Free Fires Zones (FFZ) này là các vùng BẮN TỰ DO, MUỐN BẮN THÌ BẮN, MUỐN GIẾT THÌ GIẾT.. Do đó gọi là Free Fire Zones.

    ++(3) Trong vùng này, lính Mỹ muốn bắn giết ai cũng được…HỂ AI DI ĐỘNG LÀ BẮN, LÀ GIẾT… Do đó gọi là “Turkey Shoots”

    ++(3) B-52 có quyền QUẦN NÁT VÙNG FFZ NÀỴ.. VÀ MỸ MUỐN LÀM BẤT CỨ GÌ TRONG VÙNG FFZ NÀY.

    ++(4) Biết bao nhiêu ruộng đồng, làng mạc của dân, làng xóm, thôn quê, chuà chiền NẰM TRONG VÙNG FFZ NÀY..

    ++(5) Để tránh phẩn nộ, Mỹ phải lùa dân ra khỏi vùng FFZ này và vào vùng kiểm sóat của Mỹ và quốc gia gọi là “TRẠI TẬP TRUNG” THE DETENTION CENTER..

    Những trại tập trung này thường được bao bọc bởi dây thép gai, và Mỹ thả truyền đơn cho dân và bảo họ phải rời vùng FFZ và vào vùng Detention Center..

    Nói một cách trắng ra CÁC TRUYỀN ĐƠN CỦA MỸ NÓI là:

    Chúng mày rời khỏi làng xóm chúng mày, không thì TAO BOM CHẾT MẸ CHÚNG MÀY HẾT..

    Trích lời tường trình của một lính Mỹ từng tham gia vào chương trình FFZ này:

    – We dropped leaflets in much of the surrounding countryside to thousands of people. On 1 side of the leaflet I remember there was a picture of a B-52 bomber, and the other side said in Vietnamese, “Come to the New Life Hamlet, Come to peace, freedom and justice.” Of course, the message was clear to the people in the countryside: “LEAVE YOUR HOMES OR WE WILL KILL YOU.”

    – Chúng tôi thả truyền đơn xuống các nông thôn nơi có cả ngàn người đang sống. Tôi nhớ có truyền đơn một mặt in hình máy bay ném bom B-52, mặt khác thì viết thông cáo bằng tiếng Việt: “Đến với làng xóm mới, đến với hoà bình, tự do và công lý.” Dĩ nhiên, thông điệp rỏ ràng cho mọi ngừ nông dân biết là: “Rời bỏ nhà cửa chúng mày, hay là chúng tao giết chúng mài hén!”.

    ++(4) Cả chục ngàn dân đã phải rời bỏ ruộng đồng, làng mạc, thôn xóm để vào sống trong những vùng FFZ XUNG QUANH BAO BỌC BỞI DÂY THÉP GAI.

    ++(5) Hậu quả là..5 TRIỆU DÂN PHẢI RỜI BỎ LÀNG MẠC, RUỘNG VƯỜN, CHÒM XÓM, LÁNG GIỀNG mà ra đi. NHỮNG KẺ Ở LẠI FFZ THÌ BỊ BẮN CHẾT (turkey shoots), BỊ BOM B-52 GIẾT, BỊ PHÁO BINH MỸ..

    ++(6) Nói tóm lại, Mỹ đã tạo ra một ĐẢO LỘN TRẬT TỰ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM. VỚI 5 TRIỆU DÂN DI TẢN, MẤT MÁT RỜI XA LÀNG QUÊ.

    Mỹ đã tạo ra một đảo lộn xã hội VÀ BỆNH TRẠNG XÃ HỘI NẶNG NỀ CHO MIỀN NAM..

    Trong khi đó..

    Thì chú bác quốc gia VNCH vẫn tỉnh queo coi như chẳng có gì xẩy ra cho dân, cho nước. Sài gòn và các khu gần các đồn, căn cứ Mỹ VẪN LÀ NHỮNG TRUNG TÂM PHỤC VỤ NHU CẦU ĂN CHƠI, VÀ TÌNH DỤC CHO LÍNH MỸ..

    TỰ DO DÂN CHỦ, TỰ DO TÔN GIÁO LÀ THẾ Ư !???

  4. Tri Ngộ viết:

    @ nguyenthuan
    Bạn có nói gì chăng nữa cũng không thay đổi cuộc diện. Cái ác của quân đội Bắc Việt (BV) và của ĐCSVN (hay Việt Minh, VM) nó khủng khiếp hơn nhiều bạn ạ.

    1. Trong thời gian Việt Minh đang thắng thế ở BV năm 1946, ĐCSVN đã mở chiến dịch truy lùng và tàn sát các phần tử quốc gia (không CS) yêu nước. Trong Nam, VM (ĐCSVN) đã bắt cóc và thủ tiêu nhiều trí thức yêu nước không CS và nhiều chức sắc của hai tôn giáo có quân đội riêng là Cao Đài và Hoà Hảo (đặc biệt là vụ ám sát Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ). Oán thù chồng chất.

    2. Chính sách đối xử với những viên chức và quân nhân Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) không phải chỉ nhắm vào việc trả thù cá nhân những người làm việc dưới chế độ cũ mà còn trừng phạt luôn cả gia đình của họ, hậu quả làm tê liệt sự phát triển của đất nước và thực tế là đẩy đất nước vào tình trạng nghèo đói và tụt hậu. Về mặt tinh thần, chính sách rất ác này đã để lại một vết thương rất sâu trong lòng dân tộc, gây oán hận cho hàng trăm ngàn gia đình ở miền Nam kể cả gia đình của nhiều người “có công với cách mạng”. Đó là chính sách học tập cải tạo đã được áp dụng một cách tàn bạo, trái ngược với chủ trương hoà giải hoà hợp dân tộc thường được các nhà lãnh đạo miền Bắc nhắc đến trước ngày chiến thắng. ĐCSVN ra thông cáo là những binh lính và nhân viên cấp dưới sẽ phải đi học tập 3 ngày, những nhân viên và binh sĩ hạng trung phải học khoá 10 ngày, những viên chức cao cấp thì phải học khoá 30 ngày. Hầu hết mọi người đều trình diện đi học tập theo đúng lời yêu cầu của nhà nước. Nhiều văn nghệ sĩ và ký giả cũng bị bắt đi học tập cải tạo. Như thực tế đã cho thấy, thời gian cải tạo không phải là một tháng hay 3 tháng mà lâu tới 3 năm hay 5 năm, có người bị giam trong trại cải tạo đến hơn 15 năm (nhà văn Phan Nhật Nam là một điển hình). Một chính sách trả thù như thế chỉ thấy có ở những nước chậm tiến, thiếu tầm nhìn về sức mạnh dân tộc và tương lai đất nước. Con số bị đưa lao động cải tạo lên đến khoảng 300 ngàn người và số người chết trong trại cải tạo lên đến 165000 người. Vợ con của những nười bị bắt đi cải tạo hay bị sát hại đó cũng trở thành nạn nhân của những biện pháp kỳ thị và ngược đãi. Tổng số nạn nhân đủ loại như vậy có thể lên đến vài triệu.

    3. Hầu hết những người trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) đều có thân nhân xa gần là nạn nhân của cái chính sách học tập sát máu đó. Hầu hết các thành viên của MTGPMN cũng bị kỳ thị và bị gạt ra khỏi guồng máy cai trị nước của ĐCSVN.

    Đây chỉ là nói một phần của cái ác của quân Bắc Việt và ĐCSVN. Còn rất nhiều những cái ác khác như vụ cải cách ruộng đất, vụ Nhân Văn Giai Phẩm, vụ xua quân sang tấn công Kam Pu Chia, vụ Tết Mậu Thân ở Huế v.v…

    Qua lịch sử tranh đấu oai hùng của dân tộc VN hơn hai ngàn năm, cái gì dân tộc VN đòi hỏi thiết tha nhất là một đời sống vật chất tương đối đầy đủ, một đời sống tinh thần tương đối ổn định có những quyền tự do căn bản. Hạnh phúc của loài người phải được xây dựng trên dân sinh và dân quyền.

    Phương hướng sửa chữa những sai lầm của ĐCSVN và nhà nước VN hiện phải là sự thực hiện một chế độ pháp trị chân chính và một chế độ dân chủ thật sự.

  5. Hưng Quốc viết:

    1. Lại bàn về những trò dã man của Mỹ. Con người ta bao giờ cũng có cái dã tâm ẩn giấu, nó sẽ sinh sôi nảy nở ngay khi có cơ hội, đặc biệt là đối với những dân tộc khác. Những dân tộc bị trị không có cách nào khác ngoài chuyện phải chấp nhận “luật chơi” của kẻ thống trị. Khác máu tanh lòng. Không kể giặc Tàu, Nhật là người Á, ngay như người Pháp vẫn có tiếng về “văn minh, lịch thiệp, và lãng mạn” ấy thế mà cũng có đủ trò đốn mạt với dân ta chứ đâu có kém cạnh người Mỹ nổi tiếng về thực dụng. Cũng như đối với Mỹ, nhiều người cho đến nay vẫn “tôn thờ” thời Pháp thuộc cho lắm. Người Việt nhỏ con, yếu đuối, tưởng dễ bắt nạt nhưng lịch sử cho thấy không phải vậy. Ngay như người Tàu với cả nghìn năm đô hộ cũng chưa chắc đã hiểu được người Việt nữa là người Pháp, người Mỹ. Họ đã từng đến, chiếm cứ, cai trị ít nhiều đấy nhưng sau khi được “mời” ra, chắc gì họ đã hiểu người Việt? Về chủ nghĩa dân tộc, cuốn “Mẫu thượng ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh có những lý giải mà theo tôi rất xác đáng và thú vị, tạm thời xin chưa viện dẫn ra đây.

    2. Cũng khó có thể gọi nền dân chủ VHCH non trẻ (chưa đầy 20 tuổi) là thực sự dân chủ. Trong thời gian đó các sĩ quan binh lính lo buôn lậu, lo đấu đá, đảo chính nhiều hơn lo việc nước. Mọi sự dù là nhất cử nhất động đều có bàn tay của Mỹ. Tuy nhiên VNCH có một “ưu điểm”, đó là các thời tổng tống đều không chấp nhận sự có mặt của Mỹ, có lẽ đó là đặc điểm của dân tộc Việt Nam, không chịu được ách thống trị (của ngoại bang), nổi bật nhất là anh em Diệm Nhu. Thế nhưng nếu không có sự xuất hiện của Mỹ thì VNCH chắc chắn “ra đi” sớm hơn 1975 nhiều, sự loại trừ lẫn nhau là không thể tránh khỏi. Tuy là một VNCH con nít hay vòi “kẹo” nhưng đó là niềm “tự hào” của không ít người dưới chế độ đó cho đến nay, khi mà CS sau khi chiến thắng và lộ rõ những thối nát. Kẻ “chiến thắng” không thực sự giành được nhân tâm, không để cho “kẻ bại” thấy “tâm phục, khẩu phục”. Thế nên nhiều người thường “ca” VNCH “tốt hơn” nhiều VNXHCN (Thật buồn cười, cùng một nghĩa nhưng ít thấy ai nói “trong hai cái xấu thì một cái “đỡ” xấu hơn”). Thời CSVN ngày nay rõ ràng khốn nạn hơn VNCH rất nhiều nhưng tại sao nhân dân (đa phần) vẫn “an phận thủ thường”, phải chăng đấu tranh chống ách thống trị “dễ” hơn đấu tranh chống bất công đè lên đầu nhau? Phải chăng “biết bài” của nhau thì dễ trị nhau hơn? Dù sao đi nữa cũng cần phải có thời gian, thế thôi, Việt Nam mới thống nhất có 35 năm, ăn thua gì với lịch sử dân tộc.

  6. nguyenthuan viết:

    Khi nói về chiến tranh Việt Nam, tôi nhớ lại cuống sách viết về chiến dịch Phượng Hoàng ở miền Nam Việt Nam, tức là xứ khủng bố VNCH đấy.

    The Phoenix Program (Chiến Dịch Phượng Hoàng)
    http://www.douglasvalentine.com/works.htm

    Created by the CIA in Saigon in 1967, Phoenix was a computer-driven program aimed at “neutralizing”, through assassination, kidnapping, and torture, the civilian infrastructure that supported the insurgency in South Vietnam. It was a terrifying “final solution” that violated the Geneva Conventions and traditional American ideas of human morality.

    Tạm dịch:

    Được thành lập ra ở Sài Gòn (Pháp đặt, tên thành phố gọi bằng tiếng của người Khờ Me) bởi CIA, Phượng Hoàng là chương trình viết ra dùng bằng máy vi tính có tác dụng dụng nhắm vào ám sát, bắt cóc, và tra tấn có hệ thống, đối với mọi tầng lớp trong công chúng, thường dân, những người Việt yêu nước đấu tranh đòi dân chủ… Chiến dịch Phượng Hoàng, nó nhầm khủng bố chống lại thường dân đã vi phạm hiệp ước Geneva dzà đã phản lại truyền thống tự do dzà đạo đức của nhân dân Mỹ.

    ++(1) Trong chiến dịch Phượng Hoàng, Mỹ đã thiết lập tại mỗi tỉnh một trung tâm chất vấn PIC (provincial investigation center)

    ++(2) Trung tâm PIC này thuê mướn những tên giết mướn, tội nhân từ VN, Lào, Cambodia, và những kẻ cuồng tín tôn giáo và có cả các chú Ba Tàu, dùng để TRA TẤN TÌNH NGHI VÀ NGHI CAN VC..

    ++(3) Mỗi năm có cả TRĂM NGÀN NGƯỜI DÂN THƯỜNG VNCH BỊ BẮT VÀ TRA TẤN TRONG CÁC TRUNG TÂM PIC NÀY.

    ++(4) Hình thức tra tấn gồm có:

    1. Hãm hiếp và giết chết: LÍNH MỸ và LÍNH VNCH THƯỜNG THẤY CÔ GÁI NÔNG THÔN TRẺ ĐẸP LÀ BẮT VÀO HÃM HIẾP VÀ ĐỖ TỘI CHO VC..

    2. Lấy điện GIẬT BỘ PHẬN SINH DỤC NAM VÀ NỮ, nhất là nữ;

    3. Lấy đũa ĐÓNG VÀO LỖ TAI;

    4. Ngoài ra còn các hình thức đánh đập dã man khác.

    ++(5) Năm 1969 không thôi, tỉnh KIẾN HOÀ có hơn chục ngàn người bị tra tấn thê thảm và chết TRONG CÁC TRUNG TÂM PIC CỦA CHHIẾN DỊCH PHƯỢNG HOÀNG NÀY.

    ++(6) Những người nào XUI XẺO còn sống thì CŨNG THÀNH PHẾ NHÂN VÀ BỊ ÁC MỘNG THEO ĐUỔI SUỐT ĐỜI.

    ++(7) Con gái bị bắt vào là BỊ CÁC TÊN ĐỒ TỂ THUÊ BỞI MỸ HÃM HIẾP LIÊN TỤC, LẤY ĐIỆN GIẬT CÁC BỘ PHẬN SINH DỤC, ĐẦU VÚ, đánh đập tàn nhẫn..

    ++(8) Mỗi tỉnh tại VN, nhất là thôn quê đều có một trung tâm PIC…

    Hàng trăm ngàn người Việt đã bị tra tấn, hãm hiếp, giết chết một cách tàn nhẫn…

    THỬ HỎI, NGƯỜI DÂN MIỀN NAM CÓ CẦN PHẢI BỊ LŨ KHỈ ĐÍT ĐỎ CSVN LƯỜNG GẠT ĐỂ ĐỨNG LÊN HY SINH ĐỜI MÌNH, HẠNH PHÚC, TƯƠNG LAI ĐỂ LẬT ĐỔ CÁI CHẾ ĐỘ BÙ NHÌN, CUỒNG TÍN KHỦNG BỐ MỌI RỢ VNCH NÀY KHÔNG???

    Chắc chắn là không?

    Bạn có thể tưởng tượng NHÂN QUYỀN của VNCH là MỘT CHUỒNG CỌP 5X9 FEET giam 5 người, chân bị xiềng chặc xuống đất; ĐÁI ỈA TRONG ĐÓ.. và bị giam như thế NGÀY NÀY QUA THÁNG NỌ.

    Thú vật còn sống không nỗi.. huống hồ con người.

    Chỉ vì… họ lên tiếng chống lại CÁI BÙ NHÌN, LỆ THUỘC CỦA CHẾ ĐỘ TỰ DO này hén.

  7. nguyenthuan viết:

    Đọc sử ta mới biết, không có trận chiến nào dã man và thãm khốc như trận chiến khủng bố diệt chủng dân tộc Việt Nam trước năm 1975 cả.

    Chủ nghĩa khủng bố diệt chủng người Việt Nam (1955-1975).

    Cương quyết thi hành dịch vụ diệt chủng, Không Quân Mỹ phát động chiến dịch “Rolling Thunder” tấn công dân miền Nam Việt Nam năm 1964. Riêng cuộc tấn công này đã thả xuống dất nước nhỏ bé nhiều bom hơn là toàn thể số bom dùng trong Đệ Nhị Thế Chiến.

    Trong 5 năm tiếp theo, nhiều trăm ngàn người dân miền Nam Việt Nam, đàn ông, đàn bà, trẻ con bị nghiền nát và thiêu sống bởi những phi hành đoàn của Không Quân Mỹ. Đất nước Việt Nam phải chịu đựng 22 tấn thuốc nổ cho mỗi 1.6 km vuông. Nghĩa là 660 kg chất nổ mạnh cho mỗi người, đàn ông, đàn bà và trẻ con.

    Trong 13 năm chiến tranh ác ôn của Mỹ chống dân tộc Việt Nam, tổng cộng là 8 triệu tấn bom (bom Napalm và bom chùm) và chất độc khai quang màu Cam đã thả trên đất nước – và ít ra là 3 triệu người đã bị tàn sát.

    Hầu hết người Mỹ có lẽ không thể nào hiểu nổi điều này nghĩa là gì.

    Chỉ những người Mỹ sống sót trong những lò thiêu tập thể người Do Thái (6 triệu), Serbian (1 triệu, và người Russian-Ukranian (20 triệu) trong Đệ Nhị Thế Chiến trong tay của người Đức hoặc người [Công Giáo] ở Croatia, hoặc những chuyện trong gia đình của thổ dân bị Mỹ tàn sát tập thể (90 triệu), hoặc dân Armenian (2 triệu), Hi Lạp (1 triệu) và dân Assyrian (nhiều trăm ngàn) trong những thập niên 1920, 1930 dưới tay của người Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq và Kurd – chỉ những người như thế này may ra mới có thể hiểu được những gì người Đông Nam Á phải trải qua dưới bàn tay của quân lực Mỹ.

  8. nguyenthuan viết:

    Chiến tranh xâm lược khủng bố diệt chủng hàng triệu người Việt Nam là một sự kiện lớn nhất trong lịch sử của nhân loại ở thời hiện đại. Vâng, tính tất cả bom đạn được tiêu thụ trong Thế Chiến Thứ Hai cũng không bằng bom đạn mà Mỹ và đồng minh dùng trên đất nước thân yêu Việt Nam của mình đấy. Đòi dân chủ là như thế sao mấy chú bác?

    Vâng, các bạn cứ đọc lại và tra xét coi, thấy các vụ khủng bố đẫm máu, kinh khủng nhất là 9/11 ở New York, Mỹ, nhưng mà đem ra để so lại đối với Việt Nam thì chẳng là cái gì cả, không bằng hạt cát trong chậu bông nhỏ ở nhà tôi trồng nữa đấy.

    Hàng triệu người Việt Nam mình hy sinh cho cái gọi là “dân chủ và nhân quyền tự do tôn giáo” mà người Mỹ hứa là sẽ đem đến cho dân Nam mình đấy các bạn ơi. Mỹ Lai, Thanh Phong, Bến Tre, Trảng Bàng, Huế (68) và Hà Nội mình bị quân lực Mỹ biến thành bình địa…

    Muốn có dân chủ, nhân quyền thì phải diệt chủng con người trước sao, ai phải chết cho những người không đáng sống chớ?

    Còn nữa, tài liệu mật từ giấu kín trong tủ tài liệu ở Nha Trắng cho thấy, TT Nixon đòi thả bom nguyên tử xuống Bắc Việt đấy, có tin không? Loại bom nguyên tử mạnh gấm chục lần bom thả xuống Nhật trước đấy.

    Bạn muốn có dân chủ nhân quyền mà hàng triệu người Việt Nam mình phải hy sinh sao?

  9. nguyenthuan viết:

    Trong cuốn sách “The Politics of Heroin in Southeast Asia” trong đó có nói nhiều về chính quyền VNCH, Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa đều buôn á phiện cho Du đãng Mỹ (gốc Ý) và Du đãng Pháp và sự việc tồi tệ hơn nữa là năm 1971, Quốc hội đã được CIA báo cho biết miền Nam Việt Nam, tự do nhân quyền đến độ có á phiện còn nhiệu hơn thuốc lá và kẹo Mỹ đấy.

    *** In 1971, a Congressional study said that drugs in South Vietnam were “more plentiful than cigarettes and chewing gum.” Another report estimated 30,000 American heroin addicts in the country. Narcotics were eroding discipline. Drug abuse, concluded an official survey, had become a “military problem.”
    Trích từ: http://www.pbs.org/wgbh/amex/vietnam/series/pt_07.html

    Thử hỏi có đất nước nào trên thế giới mà có á phiện nhiều hơn cả thuốc lá và kẹo gum không các bạn.

    VNCH mình trước kia có nhân quyền nhất trên thế giới đó nghen.

  10. Hưng Quốc viết:

    Ông Trương Nhân Tuấn,
    Rất vui được ông góp ý, tôi cũng xin trả lời:

    1. Cảm ơn ông đã cho biết từ “dầu” trong ngôn ngữ miền Nam. Tuy nhiên tôi nghĩ hiện nay người ta đã phổ biến từ “thủy lực” rồi.

    2. B707 dùng hệ thống nhiều thắng đĩa (multiple-disk brake) dùng hệ thống thủy lực để nén piston vào các đĩa. Mất áp của hệ thống thủy lực thì thắng mất tác dụng. Tuy nhiên nếu ông nói : “thắng « hydraulic » là thắng hơi” thì nghe hơi lạ nhưng tôi chấp nhận vì đúng là chưa từng nghe đến.

    “thiếu hơi” thì từ hơi có vẻ là từ “hơi” trong “hơi thở, hơi sức”. Tôi cứ nghĩ đó là “hơi” trong “khí” (air)

    3. Trong câu
    “SAM 970 dùng tối đa chiều dài phi đạo khi hạ cánh, mặc dầu đã phải cho hai động cơ đẩy phản hồi. Rồi rời phi đạo, đi khá xa hướng về phía không lực Mỹ.”

    “Động cơ đẩy phản hồi” ở đây đúng phải là “thrust reverser” là một hệ thống “thổi ngược” (được dịch trong tiếng Việt), nhưng có lẽ do đọc nhanh mà tôi nghĩ đó là “động cơ phản lực” (jetengine). Thành thật cáo lỗi với ông Đinh Từ Thức.

    Đây là hệ thống gồm các lá thổi ngược (scoop-shape door) mở ra khi máy bay hạ cánh, (có cơ cấu mechanical phòng trường hợp hydraulics mất, thế cho nên ở đây AF2 mới dùng được) đổi hướng ra phía trước dòng khí thải (deflect exhaust gas) làm giảm đến 50% lực đẩy của động cơ (kill thrust), chứ Thrust reverser không có tác dụng “thắng”.

    Vâng, đúng là động cơ cánh quạt thì người ta xoay cánh (change to negative pitch).Thế cho nên ở máy bay cánh quạt thì máy bay có thể đi “lùi” được còn máy bay có động cơ phản lực thì chỉ có thể tiến 😀

    Trong hạ cánh, sự giảm tốc bằng nhiều hình thức và phải theo thứ tự. Để giảm tốc khi sắp hạ cánh, spoilers là các lá nằm trên cánh bật lên trước, sắp tiếp cận đường băng thì cánh tà thả ra (flap và slat) để tăng lực nâng. Tiếp xúc đường băng thì Thrust reverser tức hệ thống thổi ngược làm việc trước (tự động bật ra khi tay ga chuyển về vị trí Idle), cuối cùng mới dùng thắng ở bánh xe. Ở trường hợp AF2 do thắng bánh xe không hoạt động nên mới phải “tận dụng” hết chiều dài đường băng (chỉ dừng lại bằng..lực trọng trường).

    4. Trong phản hồi của ông Tuấn ông vẫn dùng từ “phi đạo” thay cho “đường băng” vậy có lẽ tôi nên hiểu từ trong miền Nam để gọi “runway” là “phi đạo”chăng?

    Cảm ơn ông Tuấn về sự góp ý.

  11. nguyenthuan viết:

    Tra lại các tài liệu về chiến tranh Việt Nam, càng đi sâu hơn mình càng thấy rõ cuộc chiến chống cộng, khủng bố diệt hàng triệu người Việt Nam mình có liên quan đến á phiện ở Đông Dương, hai chữ “chống cộng” chỉ là cái cớ, bảo vệ Tam Giác Vàng là chính.

    TT Ngô Đình Diệm và TT Mỹ Kennedy bị ám sát dã man đều có dính líu đến thuộc địa nô lệ VNCH và du đãng Mỹ (gốc Ý) và du đãng Pháp.

    JFK đã đích thân yêu cầu một sĩ quan cao cấp trong Quân đội Mỹ tiến hành ám sát Tổng thống Diệm. Ba tuần sau cái chết của Diệm, chính Kennedy cũng bị ám sát. Bây giờ có một chủ đề mà tất cả chúng ta đều nghe nói tới: cái chết của JFK, một sự cố có lẽ là ám sát bí ẩn nhất của mọi thời đại. Hàng chục giả thiết đã phát triển quanh vụ ám sát Kennedy trong gần bốn mươi năm qua, tuy rằng chỉ có hai cuộc điều tra chính thức đã được tiến hành.

    Tất cả những mối liên hệ đáng tin đã nối kết chặt chẽ những thông tin trên để kết luận rằng hợp đồng giết tổng thống Kennedy không xuất phát từ CIA hay liên minh quân sự – công nghiệp mà từ một sự hợp tác giữa Mafia Mỹ, tập đoàn bạch phiến Pháp, và chính quyền Nam Việt Nam.

    Nói chung, nếu các bạn có thời gian thì hãy nên tìm hiểu thêm về vụ án diệt chủng người Việt nam trước năm 1975 này. Tất cả đều do du đãng Mỹ và Pháp chủ xướng gây ra. Có lẽ đây là tin sốc đối với các nhà cách mạng chống cộng đòi dân chủ cho Việt Nam. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, chỉ có điều là dân mình có chịu chấp nhận sự thật hay không thôi.

  12. Trương Nhân Tuấn viết:

    Vài chi tiết kỹ thuật góp ý với hai ông HQ và ĐTT :
    1/ Theo tôi hiểu những gì diễn tả trong bài viết, « hệ thống bơm dầu » của chiếc phi cơ « Air Force Two » có « vấn đề ». Vấn đề ở đây có thể là ống dẫn dầu bị « xì » ở nơi nào đó.
    Nói như tác giả ĐTT « hệ thống bơm dầu » là nói theo ngôn ngữ miền Nam VN.
    Người ta có thể nói chuyện với nhau trong « chốn hàn lâm » hydraulic systems là « hệ thống thủy lực ». Nhưng nói vậy ít ai (miền Nam) sẽ hiểu. Vì hầu như trong tất cả các hệ thống hydraulics, chất lỏng (fluid) được dùng luôn là một loạt dầu (nhớt) có độ nhờn cao, không ai dùng « nước » làm chất truyền lực.
    Nói « hệ thống bơm dầu » như ông ĐTT là không nói sai (trên thực tế).
    2/ Hệ thống bơm dầu bị « yếu », do đó « thắng » không « ăn », break no eat !
    Ở miền Nam thì gọi thắng « hydraulic » là thắng hơi, bất kể hệ thống dùng « fluid – chất lỏng » là cái gì. Mặc dầu một số hệ thống thắng dùng fluid hoặc dầu, hoặc « gió – air » hay cả dầu lẫn « gió – air ».
    Ông ĐTT nói « bộ thắng » chiếc Air Force Two « thiếu hơi trợ lực » thì cũng đúng thôi. Hơi ở đây có thể hiểu là « lực » hay « gió ».
    3/ Một chi tiết kỹ thuật về diễn tiến giảm tốc phi cơ khi vừa đáp xuống. Theo tôi, ông HQ đã hiểu sai ông ĐTT.
    Có hai cách để để giảm tốc phi cơ khi phi cơ vừa đáp xuống phi đạo: bằng hệ thống thắng hay bằng reverse thrust (chuyển ngược lực đẩy).
    Đạp thắng thì ai đi xe cũng biết, nhưng chuyển ngược lực đẩy thì chỉ có trên các phi cơ (mà không phải loại nào cũng có).
    Lực đẩy của phi cơ do các động cơ phản lực hay cánh quạt luôn đẩy về phía sau (để phi cơ tiến về phía trước). Nhưng các động cơ này cũng có thể chuyển lực đẩy về phía trước để sử dụng vào việc giảm tốc phi cơ (khi vừa đáp xuống).
    Đối với động cơ phản lực thì bộ phận ống đẩy (nozzle) có bộ phận có thể hướng dẫn hơi ra phía trước (tạo góc 45° với vùng dẫn khí vào).
    Với động cơ cánh quạt thì thay đổi « pas de pales », tức là xoay rẻ quạt một góc vài mươi độ để lực đẩy hướng về phía trước.
    Trường hợp phi cơ phải đáp ở các phi đạo ngắn, nếu chỉ dùng hệ thống thắng (bánh xe) thì không an toàn vì « thắng gấp » phi cơ có thể « cắm đầu », do đó phải dùng song song với cách chuyển ngược lực đẩy.
    Trường hợp chiếc Air Force Two hệ thống thắng bị hư, no eat, do đó phải chuyển ngược lực đẩy các động cơ ra phía trước để thắng.
    Ông ĐT nói các phi công dùng « hai động cơ đẩy phản hồi » để làm ngừng phi cơ là không có gì sai, nếu mình hiểu một chiếc phi cơ « thắng » như thế nào.
    Một nhận xét khác là tiếng Việt của mình đôi khi rất « lôi thôi », một ý phát biểu người này có thể hiểu người khác người kia. Do địa phương cũng có mà do thiếu từ cũng có.

  13. Hưng Quốc viết:

    Cảm ơn ông Đinh Từ Thức về bản dịch, rất cuốn hút.

    Tuy không có bản gốc tiếng Anh nhưng cũng xin vài góp ý nhỏ về vài từ trong bản dịch:

    Từ “phi đạo” mà ông dùng ở đây chính là “runway”, đó là đường băng cất hạ cánh.

    “hệ thống bơm dầu bị giảm áp lực”

    Đây chính là hệ thống thủy lực (dùng từ dầu không chuẩn xác) (hydraulics). Chuyện bị “giảm áp” là do rò rỉ (leak) rất nghiêm trọng với máy bay sử dụng hệ thống thủy lực. Trường hợp máy bay bị rò rỉ thì theo luật phải được fix mới được bay tiếp.

    “cánh phụ” chính là “cánh tà” (flap) để điều khiển lực nâng.

    “SAM 970 dùng tối đa chiều dài phi đạo khi hạ cánh, mặc dầu đã phải cho hai động cơ đẩy phản hồi.”

    “động cơ đẩy phản hồi” chính là “jet-engine” được Việt hóa bằng từ “động cơ phản lực”, có nghĩa là tạo lực đẩy bằng “phản lực”.

    “thắng hơi”: trong kỹ thuật thắng máy bay ở bánh thì không có thắng hơi, mà là thắng đĩa, gồm nhiều đĩa thắng nén lại với nhau bởi thủy lực hay khí nén. Dùng từ “thắng hơi” với hệ thống thủy lực không đúng, và nghe có vẻ như “hơi” làm nhiệm vụ thắng trong khi “hơi” (air) chỉ để truyền tải.

    Rất cảm ơn ông về những bài dịch gần đây, và mong được đọc thêm.

    Trân trọng,

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>