talawas blog

Chuyên mục:

Chủ quyền Việt Nam tại bãi Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn

29/03/2009 | 5:57 sáng | 21 Comments

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Chưa phân loại, Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: > >

Sự việc hai hãng khai thác dầu ExxonMobil (Hoa Kỳ) và BP (Anh) lần lượt rút khỏi Việt Nam là một gáo nước lạnh, một cái tát rát mặt cho phía Việt Nam, nhưng cũng là một dịp may để các học giả Việt Nam xét lại các dữ kiện cơ bản mà phía Việt Nam dựa lên đó chứng minh chủ quyền của mình tại vùng trũng nam Côn Sơn và bãi Tu Chính – Vũng Mây (TC-VM). May vì còn thời giờ để thảo luận lại nghiêm túc. Đồng thời cũng là dịp để phía Việt Nam đặt lại toàn bộ lý lẽ của mình về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa và hải phận Biển Đông cách nào cho hợp lý.

vung-bien-zee-vn2

Các lô của BP khai thác là 5.2 và 5.3 (xem bản đồ), nằm giữa quần đảo Trường Sa với bờ biển Việt Nam. Hai mỏ được phát hiện các nơi đây năm 1996 là Hải Thạch và Mộc Tinh. Việc thăm dò tạm ngừng từ tháng 6 năm 2007, BP giải thích vì vùng khai thác đang có tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Phía BP nói rằng việc tạm ngưng là: «để cho các nước liên quan có cơ hội giải quyết vấn đề». Tuần qua, ngày 19-3-2009, BP thông báo chính thức rút lui, hủy bỏ hợp đồng khai thác với Việt Nam. Trước đó, tháng 9 năm 2008, ExxonMobil cũng rút lui sau khi đã có những thỏa thuận với Việt Nam sau chuyến Mỹ du của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng 5 năm 2008.

Một ngày sau khi BP tuyên bố rút lui, ông Lê Dũng, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng:  «Điều tôi có thể khẳng định là những lô này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.»

Ông Dũng nói thế, người Việt Nam nào cũng nghĩ như thế, vùng biển đó là của Việt Nam không ai có thể chối cãi. Nhưng đối với người ngoài, các nước trên thế giới họ nghĩ gì? Thái độ rút lui của BP (Anh) rõ ràng là do việc tranh chấp; của ExxonMobil (Hoa Kỳ) lại càng rõ rệt hơn, vì lô khai thác của tập đoàn này nằm trong vùng TC-VM, xa bờ biển Việt Nam hơn cả hai lô 5.2 và 5.3 do BP trúng thầu khai thác. Việc này bắt buộc mọi người Việt Nam phải suy nghĩ lại.

Về địa lý, các lô 5.2 và 5.3 nằm cách đảo Côn Sơn khoảng 200km, cách đảo Đá Lát (thuộc Trường Sa) khoảng 200km và cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 350km. Các con số ghi nhận không chính xác, lấy từ việc đo đạc ước lượng trên bản đồ, chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Hai lô 5.2 và 5.3 nằm trong đường giới hạn ZEE 200 hải lý của Việt Nam, đường này trên bản đồ là đường xanh đậm. Để ý, đường giới hạn vùng ZEE của Việt Nam không ăn khớp với đường bờ biển Việt Nam. Ở khoảng các tỉnh miền Trung thì đường này cách bờ đúng 200 hải lý, phù hợp với qui định của luật quốc tế về biển 1982, nhưng ở vùng các tỉnh miền Nam thì đường này phình lớn ra, nơi lớn nhất đo khoảng 270 hải lý. Việc bất thường này có hai giải thích: 1. do hiệu quả của đường cơ bản của bờ biển Việt Nam ; 2. do hiệu quả của đảo Hòn Hải (thuộc nhóm đảo Phú Quí). Nhưng Hòn Hải lại là điểm A6 của hệ thống đường cơ bản, do đó tuy có hai cách giải thích khác nhau nhưng hiệu quả thì như nhau.

Vùng TC-VM là hình đa giác vẽ bằng màu tím trên bản đồ. Vùng này có hai lô 133 và 134 tô màu vàng. Xét trên bản đồ thì vùng TC-VM một phần nằm ngoài đường ZEE của Việt Nam, rất gần các đảo Trường Sa nếu so với bờ biển Việt Nam.

Phía Trung Quốc cho rằng các lô trên có chồng lấn với hải phận (và thềm lục địa) của Trung Quốc, vì thế phía Việt Nam không thể đơn phương khai thác. Hai tập đoàn, BP đang khai thác ở hai lô 5.2 và 5.3, ExxonMobil dự định khai thác các lô thuộc TC-VM, đều rút lui. Lý lẽ nào của phía Trung Quốc đã khiến cho BP và ExxonMobil rút lui? Phía bên Việt Nam cố gắng giải thích việc rút lui là do lý do kinh tế, khai thác không có lợi, nhưng không hề thuyết phục. Hai lý lẽ thuyết phục nhất có lẽ là: 1. sức ép của Trung Quốc; 2. các bằng chứng thuyết phục về chủ quyền của Trung Quốc.

Về sức ép của Trung Quốc, điều này đúng, vì Trung Quốc hiện nay là đầu tàu của sự phát triển kinh tế thế giới, là chủ nợ của Hoa Kỳ. Mặt khác, Anh Quốc có rất nhiều quyền lợi tại Trung Quốc do đó BP nhượng bộ yêu sách của Trung Quốc cũng hợp lý. Nhưng khi nói Trung Quốc có chủ quyền ở các vùng này, trên quan điểm Việt Nam thì không có gì phi lý và ngang ngược hơn. Nhưng thái độ của BP và ExxonMobil, dầu sao cũng là các tập đoàn khai thác dầu khí lớn nhất nhì thế giới của Anh và Hoa Kỳ, họ chỉ nhưọng bộ nếu các lý lẽ phía Trung Quốc là hợp lý.

Đây là hậu quả của một sự sơ suất to lớn, phía Việt Nam dường như không hề màng đến các lý lẽ của Trung Quốc, sai lầm kéo dài từ năm 1958 đến nay.

Sai lầm vì, các viên chức Việt Nam lạc quan đã đành, học giả Việt Nam cũng vậy, nhưng thật ra phần lớn đều thiếu tầm nhìn, chỉ giải thích vấn đề theo cảm tính, theo ý muốn của mình mà bất chấp thực tế đã xảy ra như thế nào. Đến hôm nay một số học giả Việt Nam vẫn loay hoay với hỏa mù của Trung Quốc tung ra, mất thời giờ tìm hiểu và giải thích ý nghĩa tấm bản đồ chữ U, còn gọi là bản đồ 9 gạch hay bản đồ «lưỡi bò», mà không biết rằng đó chỉ diện, là hỏa mù có công dụng đánh lạc hướng Việt Nam (và cả thế giới), làm cho phía Việt Nam nếu không mất thì giờ thì cũng trở thành khinh địch.

Việc loay hoay này thấy rõ qua buổi «Hội thảo biển Đông» vừa qua trong nước. Có người mất không biết bao nhiêu thời gian để tìm hiểu và chứng minh «biển lưỡi bò» không thể là biển lịch sử của Trung Quốc v.v… Nhưng các việc đó đều vô ích.

Cả buổi hội thảo, tôi đã nói trên blog của mình từ ngày 19-3, đã không nói lên việc gì mới (ngoài việc tổ chức là mới). Mọi người chỉ nói cho nhau nghe những cái mà mọi người đều biết. Những cái mới, như hồ sơ của Trung Quốc ra sao, lý lẽ họ thế nào, việc phản biện của họ có căn cứ gì hay không… thì không nghe nói tới, từ lịch sử cho đến pháp lý, mặc dầu tài liệu của Trung Quốc nhiều gấp trăm lần tài liệu của phía Việt Nam. Rõ ràng như ban ngày, Trung Quốc làm gì có chủ quyền ở HS và TS, nhưng họ có cả trăm đầu sách, tài liệu, một mặt bắt bẻ, phản biện các lý lẽ của Việt Nam, mặt khác chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại các nơi này. Phía Việt Nam, nếu không nói quá, thì là tay trắng. Học giả Việt Nam đang tự mãn dưới đáy giếng hay đang là con ngựa thồ bị bịt cả hai mắt? Một hai người hiếm hoi có thể đem lại cái mới cho hội thảo, như nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, thì không thấy có mặt. Có lẽ là do phía nhà nước mà thôi. Những học giả như ông Nguyễn Quang Ngọc đã có bài tham luận rất giá trị, đã đi đúng phương hướng, nhưng lại bị giới hạn vì những vật cản chung quanh. Nhà nước có nói với ông Ngọc thế này: «phía học giả Việt Nam đang làm khó nhà nước trong việc hoạch định chính sách». Thì ra nhà nước muốn học giả Việt Nam viết theo định hướng của chính sách nhà nước, tức viết theo lối vuốt đuôi, trong khi các nước khác, chính sách của nhà nước được đặt trên các nghiên cứu của các nhà khoa học. Ai mà không bất mãn?

Trở lại vấn đề là ngày hôm nay, trên hầu hết các Atlas nước ngoài đều ghi nhận công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng đã công nhận HS và TS thuộc chủ quyền của Tàu. Điển hình, cuốn L’Atlas des atlas tháng 9 năm 2008 của Courrier International, một cơ sở truyền thông uy tín hàng đầu thế giới, đã ghi ở trang 91 như thế.

Sự thật là sự thật, nhưng học giả Việt Nam, một số chỉ muốn tự sướng, giải thích cho nhau nghe rằng công hàm này không hề có giá trị về pháp lý. Ai nói khác thì kẻ đó làm lợi cho Tàu, nếu không phản động thì cũng là chống cộng cực đoan. Nhưng không có ai đủ khả năng giải thích được cho dư luận nước ngoài là công hàm này không có giá trị. Phải cay đắng mà kết luận rằng những học giả này vừa kém về phẩm vừa kém về tinh thần học thuật.

Như thế, trước dư luận quốc tế, HS và TS đã là của Trung Quốc. Các học giả Việt Nam (có thể) không biết, và cũng (có thể) không muốn biết, phía Trung Quốc đã đưa các tài liệu gì để vừa thuyết phục vừa đe dọa BP và ExxonMobil?

Về pháp lý cũng vậy, một số các học giả, những nhà nghiên cứu Việt Nam cũng chỉ nghiên cứu theo lối uống thuốc an thần, chỉ giải thích luật lệ theo ý muốn của mình. Việc giải thích bộ Luật Quốc tế về Biển 1982 là một điển hình.

Mọi người đều biết bộ luật này còn rất nhiều điểm chưa hoàn chỉnh. Ở một số điều người ta có thể giải thích theo nhiều cách khác nhau mà cách nào cũng đúng. Trường hợp tranh cãi giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về chiếc tàu Impeccable là một thí dụ. Đây là một trong nhiều kẻ hở của Luật Biển 1982. Vậy mà một số học giả Việt Nam chỉ giải thích luật này theo lối có lợi cho mình, không cần nghiên cứu xem đối thủ của mình giải thích ra sao! Biết địch biết ta mới hy vọng thắng. Biết ta không cần biết địch, mà biết ta cũng rất lơ mơ, thua là cái chắc.

Các bài viết của ông Dương Danh Huy đã đăng rộng rãi trên các kênh truyền thông lớn trong nước và hải ngoại gần đây về hải phận Biển Đông và chủ quyền HS và TS là thí dụ điển hình cho lối làm việc đó.

Ông này viết về chủ quyền của Việt Nam tại TC-VM như sau: «Thật ra, theo luật quốc tế, giả sử như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc về Trung Quốc một cách hợp pháp đi nữa, thì vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn nằm ở phía bắc ranh giới với Indonesia vẫn thuộc về Việt Nam…»

«Trong việc vạch ranh giới, tập quán luật quốc tế và ngoại giao không tính những đảo nhỏ, xa bờ, tự thân không có các điều kiện cho sự cư trú của con người và đời sống kinh tế riêng, như các đảo trong hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để tránh việc những đảo này ảnh hưởng không công bằng tới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nguyên tắc này được Toà án Công lý Quốc Tế tuyên bố từ năm 1969 trong phiên toà chia thềm lục địa Bắc Hải và được khẳng định trong Điều 121, Khoản 3 của UNCLOS. Từ năm 1969 tới nay, Toà án Công lý Quốc Tế luôn luôn tôn trọng nguyên tắc này, thí dụ như trong những phiên toà Lybia/Malta, Vịnh Maine, Guniea/Guniea-Bisseau…» http://www.tuanvietnam.net/Việt Nam/tulieusuyngam/5522/index.aspx

Tác giả viết rằng «giả sử như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc về Trung Quốc một cách hợp pháp đi nữa» thì ảnh hưởng các đảo này không ăn thua gì hết, TC-VM vẫn là của Việt Nam.

Tác giả giải thích Luật Biển 1982 trên tinh thần chủ quan và đưa ra những bằng chứng là các phiên tòa và các án lệ quốc tế như đã dẫn trên.

Nhưng các bằng chứng này không đúng với sự thật. Thí dụ, việc phân định hải phận và thềm lục địa giữa Lybia và Malta, tại đây việc phân định đặt trên tinh thần đồng đẳng theo đường trung tuyến chứ không có việc «không tính các đảo nhỏ xa bờ» như ông Huy đã nói. Về Vịnh Maine là một vịnh nhỏ của USA và Canada, không hề quan hệ và không thể so sánh với các đảo HS và TS. Việc phân định giữa Guniea và Guniea-Bisseau cũng thế, không thể so sánh với các đảo HS và TS. HS và TS là những quần đảo, quan trọng của nó là vùng nước giữa đảo này với đảo kia.

Tác giả Dương Danh Huy đưa chứng từ sai – một lỗi học thuật rất nặng – để chứng minh một lập trường không có lợi cho Việt Nam, thuyết phục Việt Nam chấp nhận lập trường đó, là có dụng ý gì nếu không phải là muốn Việt Nam bỏ HS và TS cho Trung Quốc vì nó không có giá trị?

Hiện nay ai có thể có những bài viết, tài liệu dồi dào mà các nhà nghiên cứu khác không thể có, được ưu tiên đăng ở các kênh truyền thông nhà nước, nếu không phải là người của chính quyền? Tôi cho rằng các bài viết của tác giả này phản ảnh lập trường của nhà nước Việt Nam, viết theo định hướng của chính sách nhà nước, trong vấn đề HS và TS và hải phận của Việt Nam tại Biển Đông. Những bài viết này có tác dụng chuẩn bị dư luận. Nguy cơ nhà nước Việt Nam muốn bỏ HS và TS cho Trung Quốc là có thật.

Trở lại lời thì thầm của nhà nước cho ông Nguyễn Quang Ngọc: «học giả Việt Nam đang làm khó nhà nước trong việc dựng chính sách».

«Chính sách» của nhà nước ẩn hiện quan các bài viết này đấy! Học giả Việt Nam bỏ công nghiên cứu làm chi nữa, mọi việc đã an bài.

Phía Trung Quốc thì giảng giải luật theo ý của họ (và tập quán quốc tế). Qui chế về đảo theo điều thứ 121 của Luật Quốc tế về Biển 10 tháng 12 năm 1982 như sau:

1. Une île est une étendue naturelle de terre entourée d’eau qui reste découverte à marée haute.

2. Sous réserve du paragraphe 3, la mer territoriale, la zone contiguë, la zone économique exclusive et le plateau continental d’une île sont délimités conformément aux dispositions de la Convention applicables aux autres territoires terrestres.

3. Les rochers qui ne se prêtent pas à l’habitation humaine ou à une vie économique propre, n’ont pas de zone économique exclusive ni de plateau continental.

(1/ Ðảo là một dải đất tự nhiên, có nước bao bọc chung quanh và không bị nước phủ lúc thủy triều lên. 2/ Một đảo có lãnh hải [lãnh địa hải phận], vùng tiếp cận, vùng kinh tế độc quyền và thềm lục địa riêng, ngoại trừ điều kiện ghi dưới phần 3. 3/ Những bãi đá [cồn đá] mà người ta không thể sinh sống, hoặc tạo một nền kinh tế tự tại thì không có vùng kinh tế độc quyền cũng như không có thềm lục địa).

Với định nghĩa như thế mọi người có thể suy diễn theo ý của mình về thế nào là đảo. Một kiến nghị đưa lên Liên hiệp Quốc nhằm phân biệt đảo, nội dung như sau:

– Đá (rocks) có diện tích nhỏ hơn 0,001 hải lý vuông

– Đảo nhỏ (islets) có diện tích 0,001 – 1 hải lý vuông

– Đảo vừa (isles) có diện tích 1 – 1.000 hải lý vuông

– Đảo lớn (islands) có diện tích trên 1.000 hải lý vuông

Như thế đảo là những thứ nhô lên mặt biển có diện tích khoảng trên 1km².

Nhưng cũng có nhiều trường hợp ngoại lệ. Một thí dụ: Năm 1955, Nữ hoàng Anh đã ra lệnh cho hải quân cắm cờ, dựng bia chủ quyền trên Rock All rộng 3 m vuông, cao 21 m, để tuyên bố vùng đặc quyền về kinh tế xung quanh Rock All là 200 hải lý. Mặc dầu hiện nay Anh đã rút lại đòi hỏi về hải phận ZEE nhưng về thềm lục địa họ vẫn giữ nguyên tuyên bố 200 hải lý quyền khai thác.

Các đảo TS, hầu hết đều lớn hơn đảo Rock All, có đảo có nước ngọt và cây cối, hơn nữa đây là một «quần đảo», tọa lạc trên một vùng biển có diện tích rất lớn, chiều Bắc Nam dài hơn 500 Km, chiều Ðông Tây dài hơn 1.000 km, chiếm khoảng 160.000 km2, ước nào có chủ quyền ở đây (và HS) đương nhiên chiếm lĩnh cả Biển Đông, vì biển giữa quần đảo được xem gần như là nội hải. Theo Luật Biển 1982: Quốc gia quần đảo có chủ quyền với vùng nước, vùng trời và vùng đáy và lòng đất tương ứng cũng như tài nguyên ở đó.

Kết quả hôm nay BP rút lui, ExxonMobil bỏ cuộc, trong khi dư luận quốc tế đứng về phía Trung Quốc. Các bản đồ Atlas trên thế giới hiện nay hầu hết đều cho là HS&TS là của Trung Quốc, đặc biệt có ghi chú công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng công nhận TS&HS thuộc Trung Quốc.

Thái độ rút lui của BP và ExxonMobil càng làm cho tư thế của Trung Quốc thêm vững tại Biển Đông. Điều dễ hiểu, nếu Trung Quốc có chủ quyền ở TS thì họ có quyền lên tiếng phản đối và đe dọa, nếu cần họ sử dụng vũ lực mà không ai có thể can thiệp, nếu Việt Nam khai thác tại các lô 5.2 và 5.3 hay vũng Nam Côn Sơn và bãi TC-VM, là các vùng có chồng lấn ZEE của các đảo TS.

Đảo Trường Sa của Việt Nam, nằm gần bãi Tu Chính – Vũng Mây hội đủ các điều kiện về đảo để có vùng ZEE và thềm lục địa. Nếu đảo này thuộc Trung Quốc, đương nhiên Việt Nam phải phân định hải phận với Trung Quốc để chia vùng biển này.

Lý lẽ của Trung Quốc hiện nay là như thế mà họ không nói ra. Trung Quốc úp úp, mở mở trong bản đồ chữ U, các học giả Việt Nam lần mò đi theo giải mã, đi lý giải luật biển theo lối tự sướng, thật là một việc mất thì giờ.

Sự việc sẽ đơn giản nếu ta chịu khó giải thích Luật Biển theo lối Trung Quốc và theo tập quán quốc tế.

Vấn đề chủ quyền của Việt Nam ở TC-VM vì thế tùy thuộc vào ai là chủ quyền của các đảo TS.

Nói như ông Dương Danh Huy «Thật ra, theo luật quốc tế, giả sử như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc về Trung Quốc một cách hợp pháp đi nữa, thì vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn nằm ở phía bắc ranh giới với Indonesia vẫn thuộc về Việt Nam» là nói theo lối uống thuốc an thần, là vừa dọn sân để nhà nước làm bàn thờ «cống» TS cho Trung Quốc, vừa để mất bãi Tu Chính – Vũng Mây.

Tóm lại, Việt Nam muốn có chủ quyền vùng trũng Nam Côn Sơn và bãi Tu Chính – Vũng Mây thì Việt Nam phải khẳng định chủ quyền của mình tại TS. Không cách nào khác hơn được vì Việt Nam đã có bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền của mình ở HS và TS.

Nhưng Trung Quốc cũng có bằng chứng không thể chối cãi là công hàm của ông Đồng công nhận hai quần đảo này là của Trung Quốc.

Các học giả Việt Nam nói cho nhau nghe là công hàm này không có giá trị pháp lý nhưng quốc tế đâu có nghe như vậy!

Trở lại bài viết của tôi mới đây về «ý nghĩa pháp lý của công hàm ông Phạm Văn Đồng», tôi đã thấy sự việc từ lâu, trước dư luận thế giới công hàm ông Đồng có giá trị về pháp lý (hay tuyên truyền), dư luận hiểu và nhìn nhận HS&TS là của Trung Quốc. Mặc dầu không muốn nói nhưng cuối cùng tôi phải nói. Vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam mà tôi nói, không thể để trễ hơn. Tôi nói để các học giả Việt Nam thận trọng, qua những dấu hiệu vừa thấy, nhà nước Việt Nam sắp buông tay tại HS và TS.

Thời hạn chót nộp hồ sơ thềm lục địa mở rộng là ngày 13 tháng 5, chỉ còn không đến hai tháng nữa. Nhiều bài viết lên tiếng yêu cầu Việt Nam công bố hồ sơ thềm lục địa mở rộng, nhưng việc quan trọng không phải kêu gọi Việt Nam phải nộp cho đúng thời hạn, vì rất thừa, nhà nước Việt Nam biết mình phải làm gì, quan trọng là nội dung hồ sơ đó như thế nào! Trong số các bài viết đó, có vài bài tính cách như dọn sân để nhà nước Việt Nam làm lễ triều cống HS và TS cho Trung Quốc hơn là khuyến cáo nhà nước có một hồ sơ vững chắc, bảo vệ quyền lợi chính đáng của Việt Nam.

Một trong các bài viết theo lối dọn sân đó của ông Dương Danh Huy, dựa (?) trên thèse của ông Marc Valencia người Phi Luật Tân, thì các nước chia đôi với nhau Biển Đông theo Luật Biển, các đảo HS&TS chỉ có lãnh hải 12 hải lý mà không có vùng kinh tế độc quyền ZEE 200 hải lý. Viết như thế cũng là một hình thức uống thuốc an thần và cũng là một hình thức tự bắn vào chân mình. Bắn vào chân vì HS và TS là của Việt Nam, đương nhiên các đảo này phải có hiệu lực theo định nghĩa của Luật Biển chứ tại sao chỉ có lãnh hải 12 hải lý mà không có ZEE 200 hải lý? Nhưng có biết rằng Trung Quốc giải thích các đảo này như thế nào và tập quán quốc tế ra sao?

Nếu thông minh hơn thì xét lại bản đồ luật biển của Phi Luật Tân vừa công bố. Các đảo TS của Việt Nam mà họ giành lấy, ngoài khoanh vàng trong khoanh xanh, có ghi chú: Regime of Islands. Qui chế của các đảo được Luật Biển 1982 định nghĩa theo điều 121 có ghi trên. Như thế Phi Luật Tân đâu loại trừ vùng biển ZEE của các đảo, đặc biệt vùng biển ở giữa các đảo? Luật biển nào cấm việc này?

tnt2

Kết luận

Nếu vụ khai thác Bô-xít hiện nay tại Tây Nguyên là nguy hại cho Việt Nam về môi trường và địa-lý chiến lược, thì việc để mất HS&TS cho Trung Quốc thiệt hại còn lớn gấp ngàn lần; vì đó là vùng sinh tồn của các thế hệ Việt Nam trong tương lai.

Nhà nước Việt Nam không thể công bố bất kỳ hồ sơ nào hay một tuyên bố nào có ảnh hưởng đến chủ quyền của Việt Nam tại HS và TS qua hồ sơ thềm lục địa mở rộng sắp tới. Sẽ là một tội phạm trời đất không dung thứ nếu nhà nước Việt Nam bỏ HS&TS cho Trung Quốc hay có những tuyên bố có hàm ý như thế. Công việc của nhà nước ngày hôm nay là làm các việc cần thiết để giải độc công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Công việc của trí thức Việt Nam là thảo luận rốt ráo các ngõ ngách của luật lệ để vô hiệu hóa công hàm của ông Đồng. Bài viết của tôi về hiệu lực pháp lý của công hàm này đang chờ sự phản biện nghiêm túc từ các học giả Việt Nam. Chạy trốn nó là chạy trốn một sự thật: dư luận thế giới đã công nhận HS&TS của Trung Quốc là do hiệu lực của công hàm 14 tháng 9 năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng.

Tài liệu tham khảo

–  Sổ tay pháp lý cho người đi biển do Tuần Việt Nam tóm lược và đăng tải 16-03-2009. Sách do Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới Chính phủ và NXB Chính trị Quốc gia phát hành, năm 2002. http://www.tuanvietnam.net/Việt Nam/nghexemdoc/sachhaynendoc//6509/index.aspx

– Bản đồ của Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Dương Danh Duy công bố (minhbien.org). Bản đồ đính kèm luật biển Phi Luật Tân, nguồn Tuần Việt Nam.

–  Atlas des Atlas, Courrier International, 2008

–  20 ans de jurisprudence de la Cour internationale de justice, 1975-1995, Par Brigitte Stern, Edition: illustrated, Publié par Martinus Nijhoff Publishers, 1998, ISBN 9041111220, 9789041111227.

–  Luật Quốc tế về Biển 1982

© 2009 Trương Nhân Tuấn

© 2009 talawas blog

Bình luận

21 Comments (bài “Chủ quyền Việt Nam tại bãi Tu Chính – Vũng Mây và vùng trũng Nam Côn Sơn”)

  1. Trương Nhân Tuấn viết:

    Góp ý với bạn HL :
    1/ Như trong bài đã viết, mà có người nói tôi lặp lại ít ra hai lần, công hàm của ông Đồng có ảnh hưởng đến dư luận quốc tế. Các Atlas nước ngoài có ghi nhận chủ quyền của TQ tại HS &TS là do hiệu quả của công hàm này.
    Phía VN nghĩ sao thì nghĩ, tôi chỉ đưa ra một dữ kiện.
    2/ Việc rút lui của BP và Exxon-Mobil, tôi viết trong bài, là do áp lực của TQ và do hiệu quả của (1). Kết luận ở đây cũng dựa trên dữ kiện.
    3/ Trong bài tôi có ghi lại việc nhà nước nói với ông Nguyễn Quang Ngọc : Các học giả VN làm khó nhà nước trong việc lập chính sách.
    Công việc của các học giả VN là thiết lập bằng chứng chủ quyền của VN tại HS&TS. Nhà nước muốn học giả VN làm gì khi nói câu đó ?
    Cộng thêm việc một diễn giả nói trong buổi hội thảo : HS xem như mất, không lấy lại được.
    Kết luận, khi tôi nói nhà nước muốn « buông » HS&TS là dựa lên dữ kiện chứ không dựa lên cảm tính (chính trị).
    4/ Điểm này ông Huy vừa lên tiếng, nhưng không giải tỏa được điều gì. Hy vọng ông sẽ giải thích rõ hơn trong lần lên tiếng sắp tới (như việc đưa bằng chứng không có thật chẳng hạn).
    Tóm lại, tất cả những ý kiến của tôi trong bài, mặc dầu cần phải thảo luận lại (mục đích của tôi là như thế, ghi rõ trong bài), nhưng tất cả đều đặt trên dữ kiện kiểm chứng được. Không hề có tình cảm hay chính trị chen vào trong đây. Có chăng là tình yêu nước thúc đẩy mình phải viết, thế thôi !

  2. Tanviet viết:

    Nhận xét của tôi:
    1/ Nhận định của tác giả về DDH mang tính suy diễn. Tôi cho là hoàn toàn không cần thiết, thậm chí làm chệch điểm quan trọng hơn về luận điểm của phía TQ của tác giả. Tại sao người Việt cứ phải chửi bới nhau? Tranh luận là phải bới móc cá nhận?
    2/ Về lý luận Exxon và BP rút khỏi dự án vì luận điểm của TQ thì tôi thấy không thuyết phục. Nếu bảo luật biển là mù mờ thì tại sao chỉ chấp nhận luận điểm TQ mà không chấp nhận luận điểm VN? Hay tác giả coi luận điểm VN là vứt đi?
    3/ Atlas không phải là luật quốc tế. Nếu quốc tế chấp nhận luận điểm TQ thì đã không gọi là HS, TS là disputed area. Đánh đồng thông tin trên Atlas với việc quốc tế công nhận công hàm của PVĐ cũng là tự bắn vào chân mình!
    4/ Philippines hay TQ có thể tuyên bố theo kiểu họ muốn về TS và HS, không có nghĩa thế giới sẽ chấp nhận. VN cũng có thể tuyên bố như Philippines, nhưng cũng chỉ là giấy lộn nếu không có thực lực. Cứ tiếp tục kiểu vỗ ngực tuyên bố này đến khi TQ dùng vũ lực cưỡng chiếm…

  3. Đông A viết:

    Có ý kiến về bài viết hay không tôi còn phải xem phản ứng của Talawas đã. Bởi vì nếu tôi nhớ không nhầm, Talawas cũ đã từng nhất quyết không đăng một bài phản hồi của ông Hoàng Ngọc Tuấn vì bài phản hồi đấy đã được đăng trên mạng trước. Talawas mới như thế nào thì tôi còn phải quan sát để hiểu rõ hơn những điều lệ ở đây. Cũng giống như người xưa từng nói: “Niên niên tuế tuế hoa tương tự / Tuế tuế niên niên nhân bất đồng”, năm năm tháng tháng hoa như cũ, tháng tháng năm năm người khác xưa. Nếu tôi chưa hiểu điều lệ ở đây thì tôi chẳng thể có ý kiến được.

  4. HL viết:

    (tiếp theo) Tôi nói ý kiến của tác giả ở phần này “hơi có màu sắc chính trị”, là muốn nói trong khi các phần khác, sự thảo luận có nhằm vào học thuật, hoặc trên cơ sở một số sự kiện thời sự, thì kết luận ở phần này có phần mang tính yêu ghét chính trị (dù sự “yêu ghét” ấy, tôi nghĩ là rất đáng thông cảm :))
    4. Tôi nghĩ nên tranh luận về học thuật, còn những kết luận kiểu ai dọn đường cho ai, có lẽ không nên…
    Cám ơn tác giả Trương Nhân Tuấn đã quan tâm tới mấy góp ý nhỏ của tôi!

  5. HL viết:

    Xin được hồi âm tác giả Trương Nhân Tuấn.
    1. Về tính pháp lý của công hàm PVĐ, đã có một số bài viết đề cập, cả của ta (trong các hội thảo ngoài nước), cả của “Tây” (trên BBC chẳng hạn). Cá nhân tôi thấy nó không có giá trị pháp lý, và cũng không rõ đã được TQ đưa ra tại một diễn đàn luật nào trên thế giới hay chưa? Vấn đề này vẫn có thể thảo luận, với sự tham gia của các chuyên gia luật.
    2. Tôi chưa đủ thông tin để (tự) có kết luận gì.
    3. Hội thảo vừa qua tôi có để ý, và có được đọc một số nội dung trong đó.
    Hội thảo ấy, mặc dù tổ chức được phải có sự chấp thuận của chính quyền, nhưng không phải hội thảo do chính quyền tổ chức, nên có ai nói gì cũng chưa thể kết luận được.
    (còn tiếp)

  6. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tôi thấy hình như bạn Nghiêm Quang quên trả lời câu hỏi của tôi, nhưng không sao. Chỉ muốn nói với bạn là khó có thể so sánh một bài bình luận với một bài nghiên cứu. Ông Phạm Hoàng Quân viết bài nghiên cứu, tôi viết bài bình luận, bạn Nghiêm Quan lôi kéo Ông Quân vào e không thích hợp. Tuy nhiên, nay mai, nếu còn dịp, tôi sẽ gởi lên một vài bài nghiên cứu của tôi để ông Nghiêm Quang phê bình.
    Về bạn Đông A, xin chào cố nhân. Bạn đã thành công trong việc «sa thải» ban biên tập báo Du Lịch chưa ? Hy vọng là chưa để bầu trời Việt Nam còn màu xanh hy vọng. Hôm nay hân hạnh lại được bạn góp ý, chỉ tiếc một chút là bạn không góp ý với nội dung của bài.
    Về việc có vi phạm nội qui của Talawas hay không, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm và sẵn sàng đón nhận mọi biện pháp chế tài từ Talawas. Bạn yên tâm, ban biên tập Talawas không quan hệ gì đến quyết định của tôi đã đăng bài nơi này hay nơi khác. 100% lỗi là tại tôi.

  7. duongdanhhuy viết:

    Đọc những bài viết và trao đổi liên quan tới HSTSBĐ từ khi Talawas mở cửa lại cho tới thời điểm này, người Việt nói chung và người quan tâm tới HSTSBD nói riêng, chắc không ít người cảm thấy nỗi buồn nào đó.

    Sân chơi của trí thức Việt Nam đã hẹp và kém phát triển, sân chơi cho v/đ HSTSBĐ cũng không hơn gì mấy. Tôi không muốn góp phần thêm cho nỗi buồn trong sân chơi đó.

    Bài viết của bác Tuấn có một số điều đáng được người Việt chú ý tới và đáng được trả lời.

    Tuy nhiên, QNCBD và tôi có chương trình viết về tranh chấp HSTSBĐ và tôi thấy chương trình đó, ngoài việc thực hiện những mục đích khác, sẽ trả lời những điều đáng trả lời, và tôi thấy không cần phải thay đổi chương trình đó.

    Tất nhiên, chương trình đó, cũng như trong những bài HSTSBĐ của QNCBD và tôi trên báo chí và blogs, sẽ không dính dáng tới những chuyện “ông A là người XYZ”, “ông Huy dọn sân”.

    Mong những người quan tâm tới HSTSBĐ đón đọc.

    Hãy luôn vì Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông.

  8. Nghiêm Quang viết:

    Tôi đồng tình với ý kiến của bạn HL và xem như là phần trả lời cho ông Trương Nhân Tuấn.

    Bài viết của ông Tuấn thực sự có những đóng góp “hữu ích” nhưng cần thiết phải thảo luận thêm như HL đã nêu. Hơn nữa, phần chỉ trích gay gắt liên quan đến Dương Danh Huy nên để Dương Danh Huy trả lời.

    Tóm tắt các ý chính chỉ nhằm góp ý về cấu trúc bài viết hầu có thể dễ theo dõi hơn những vấn đề ông đặt ra. Quả thực bất kỳ ý nào trong bốn ý đó cũng được đề cập ít nhất hai lần trong bài.

    Tuy vậy, tôi chưa có khẳng định đúng sai về các vấn đề này, xin phép được theo dõi thêm.

  9. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tôi có nhiều ý kiến quá cho nên 1000 chữ là không thể đủ. Xin thông cảm và cho post thêm đoạn này cho đủ ý:
    Và xin hỏi lại, bạn HL thấy điểm này hơi có màu sắc chính trị, vậy «màu sắc» đó là chỗ nào?
    Bạn HL có biết hay không, trong buổi hội thảo vừa qua có diễn giả nói là HS xem như mất: «Điểm nút, nóng là Trường Sa, Hoàng Sa mất rồi, ko thể lấy lại được»; nghe vậy bạn không lo hay sao?
    4/ Về anh Dương Danh Huy, tôi nghĩ rằng tôi có đủ lý lẽ để kết luận. Nhưng các lý lẽ này liên quan cá nhân, tôi nói trong bài như thế là đủ.

  10. Đông A viết:

    Theo như tôi được biết, Talawas không đăng lại các bài viết đã đăng trên các website khác. Bài viết này của ông Trương Nhân Tuấn đã đăng trên trang Thông Luận ngày 28-3-2009 (xem http://thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3649 ), và phần lớn bài viết đã đăng trên blog Truong Nhan Tuan ngày 27-3-2009 (xem http://fr.blog.360.yahoo.com/blog-EGs0TdElabNXphrx56VTXO2Qa8378w–?cq=1&p=430 ). Không biết tôi có hiểu sai điều lệ của Talawas không?

  11. Trương Nhân Tuấn viết:

    Cám ơn bạn HL đã cảm nhận rằng bài viết của tôi là « cần thiết » và những (bốn) ý kiến đã đặt ra là «hữu ích». Đây cũng là câu trả lời giùm bạn Nghiêm Quang.
    Về 4 ý kiến:
    1/ Công hàm của ông Đồng đương nhiên là còn phải thảo luận. Không thảo luận mới là có vấn đề. Link dưới đây là bài viết của tôi về giá trị của công hàm ông Đồng và phương cách để vô hiệu hóa nó. Không hiểu sao link trong bài không đi đến đâu hết. http://fr.blog.360.yahoo.com/blog-EGs0TdElabNXphrx56VTXO2Qa8378w–?cq=1&p=430#comments
    2/ Ý này tùy thuộc ý 1. Hiện nay dư luận thế giới, qua các Atlas, cho thấy công hàm ông Đồng có giá trị nhìn nhận HS&TS là của TQ. Nếu ngừng ở đây thì việc rút lui của BP là ExxonMobil là có cơ sở.
    3/ Tôi mong muốn điểm này tôi nói sai. Nhưng nếu hôm nay nhà nước có ý buông, nhưng do tôi «la làng» lớn quá, nhà nước «nắm» lại, thì bài này cũng đóng góp chút ít cho đất nước vậy.
    Và xin hỏi lại, bạn HL thấy điểm này hơi có màu sắc chính trị, vậy «màu sắc» đó là chỗ nào?

  12. HL viết:

    Bài viết của ông Trương Nhân Tuấn là cần thiết, và những vấn đề (mà Nghiêm Quang có tổng kết lại thành 4 ý chính) tác giả đặt ra cũng hữu ích.
    Tuy nhiên, tôi cảm thấy là, ý 1 (về công hàm của ông Phạm Văn Đồng) vẫn còn có thể thảo luận, ý 2 (lý do Exxon Mobil và BP rút) còn chưa thật có cơ sở, ý 3 (nguy cơ Việt Nam buông HS TS nên “chuẩn bị dư luận”) hơi có màu sắc thuần túy chính trị, còn ý 4 (Dương Danh Huy “dọn sân” cho nhà nước Việt Nam) lại thiên về cảm tính, chưa đủ lý lẽ.
    Tóm lại, nên có thêm nhiều ý kiến trao đổi về những vấn đề ông Trương Nhân Tuấn đặt ra…

  13. Trương Nhân Tuấn viết:

    Bạn Nghiêm Quang có thể thích hay không thích lối viết «vòng vo» của tôi, bạn có quyền, và tôi tôn trọng, cho dầu nhận xét của bạn không đúng.

    Vấn đề là 4 điểm mà bạn ghi nhận, nó đúng hay sai? Nếu sai thì sai ở chỗ nào? Xin bạn cho biết ý kiến.

    Và bạn cũng viết thế này: Một điểm không thể không nhận thấy: khác Phạm Hoàng Quân, ông Trương Nhân Tuấn sử dụng định kiến chánh trị thay cho các bằng cớ xác đáng ở một vài nhận định trong bài.

    Một vài nhận định đó là một vài nhận định nào vậy thưa bạn?

  14. Nghiêm Quang viết:

    Nhận xét đầu tiên về bài này, tác giả mất nửa bài để nói vòng vo, lặp đi lặp lại 4 ý chính:
    – Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 có giá trị pháp lý.
    – Exxon Mobil và BP rút lui vì Trung Quốc có lý lẽ thuyết phục.
    – Có nguy cơ nhà nước Việt Nam buông tay 2 quần đảo HS-TS.
    – Dương Danh Huy là một trong những tác giả dọn sân cho việc này.

    Một điểm không thể không nhận thấy: khác Phạm Hoàng Quân, ông Trương Nhân Tuấn sử dụng định kiến chánh trị thay cho các bằng cớ xác đáng ở một vài nhận định trong bài.

  15. Salin viết:

    Nếu có thể, tác giả nên post bài này trên những website khác để tất cả mọi người dễ truy cập và so sánh vì website talawas bị tường lửa ở Việt Nam. Tôi đã mắc sai lầm khi gởi cho những người khác bài của Dương Danh Huy mà chưa đối chiếu cẩn thận! Quan trọng là mọi người phải phát hiện ra cái sai sớm và thúc ép nhà nước Việt Nam phải bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ không nhân nhượng!

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>