Phong Uyên – Trần Đức Thảo và Phật Giáo không gặp nhau ở điểm nào cả
08/02/2010 | 3:21 chiều | 17 Comments
Category: Tôn giáo, Tư tưởng
Thẻ: duy vật biện chứng > hiện tượng luận > Phật giáo > Trần Đức Thảo
Trong mục “Tôn giáo. Tư tưởng” trên talawas ngày 4-2-2010, tác giả Hồ Trung Tú đưa ra luận điểm là có những điểm trùng hợp giữa những ý niệm của triết gia Trần Đức Thảo trong cuốn Recherches sur l’origine du langage et de la conscience (Những tìm kiếm về cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức) và những ý niệm trong Kinh “Thập nhị Nhân duyên” của đạo Phật. Luận điểm này khá độc đáo, khiến người biết ít nhiều về Trần Đức Thảo như tôi vội vã đọc lại Trần Đức Thảo, thử tìm kiếm coi giữa những quan niệm của nhà triết học lừng danh thế giới này và triết lý nhà Phật có những điểm nào có thể coi là trùng hợp nhau không.
Tôi xin thú thực có ý nghĩ ngược lại là triết gia Trần Đức Thảo hoàn toàn xa lạ với Phật giáo. Có thể có sự hiểu lầm là vì những ý niệm triết học của Trần Đức Thảo viết bằng tiếng Pháp không được hiểu đúng nghĩa khi dịch ra tiếng Việt.
Tôi xin tác giả Hồ Trung Tú thứ lỗi phải phản biện những ý chính trong bài viết của tác giả:
1. Trần Đức Thảo không bao giờ “từ bỏ con đường Hiện tượng luận, ngả hẳn về phía chủ nghĩa duy vật biện chứng”
Tôi xin nhắc lại là cuốn sách đưa Trần Đức Thảo ngang hàng với các triết gia nổi tiếng nhất nước Pháp, nếu không muốn nói là cả thế giới thời bấy giờ như J.P. Sartre, L. Althusser, không phải là cuốn Những tìm kiếm về cội nguồn… xuất bản năm 1973 mà là cuốn Phénoménologie et matérialisme dialectique (Hiện tượng luận và duy vật biện chứng) xuất bản năm 1950. Cuốn sách này đã làm mê hồn (fascination) triết gia J. Derrida khi còn là sinh viên, và làm loá mắt ngay cả L. Althusser, ông thày Marxiste ngự trị Phố d’Ulm cả nửa thế kỷ. Sở dĩ như vậy là vì lần đầu tiên có một triết gia thuộc phái Husserl là Trần Đức Thảo đã thành công trong việc kết hợp hiện tượng luận của Husserl với duy vật biện chứng của Marx.
Cũng cần phải nhắc qua hiện tượng luận của Husserl là gì:
Theo Husserl, hiện tượng luận là phương pháp triết học mà cái “Tôi thuần túy” (Ego cogito) tìm cách, bằng kinh nghiệm thuần túy đã được gạn lọc bởi trực giác, xuyên qua những hiện tượng (hình thức biểu hiện) của những sự vật, để phát hiện ra những cấu trúc siêu nghiệm của ý thức và những bản chất (essences) của mọi sự vật.
2. Những khái niệm của Husserl và của duy vật biện chứng đều ngược lại với những ý niệm nhân duyên trong thuyết luân hồi của đạo Phật
Trong thuyết Phật, mọi “hiện tượng” chỉ là hư ảo cần phải loại bỏ vì nó chỉ là những biểu hiện của những sự vật không có thật. Trái lại Husserl coi mọi hiện tượng đều là điểm khởi đầu trong sự đi tìm có ý hướng bản chất thuần túy của mọi thực tại. Duy vật biện chứng cũng coi những hiện tượng là có thật vì phản ánh mọi sự vật được tạo ra từ vật chất, kể cả những sự vật có tính cách tinh thần.
Cái Tôi “giai cấp” của Marx cũng như cái Tôi “thuần túy” của Husserl đều không có trong đạo Phật. Đạo Phật là Vô ngã.
“Vô minh” trong Thập nhị Nhân duyên không phải là “vô thức” (trước khi có ý thức) mà có nghĩa là không sáng suốt (minh) để thấu hiểu mối “Khổ”, tính chất căn bản của cuộc sống. “Hành” trong kinh Phật là làm những hành động tạo “Nghiệp” chứ không phải là có những hoạt động (activités) bắt buộc phải có của bất cứ sinh vật nào dù nhỏ bé tới đâu, kể cả những tế bào.
“Thức” đây không phải là “ý thức” (conscience) mà là cái kết quả tốt xấu của Nghiệp, quy định sự tái sinh trong vòng luân hồi.
Cũng cần nên biết là theo triết lí Phật mọi sự đều có nhân có quả và biến chuyển theo vòng luân hồi nên không có đầu có đuôi và bị khép kín. “Vô minh” là mối đầu mà cũng là mối cuối. Trái lại, triết học Tây phương kể cả biện chứng lịch sử (lịch sử không bao giờ vòng trở lại, nghĩa là có chu kỳ như quan niệm về lịch sử của Tàu), luôn luôn cho là mọi sự đều tiến triển theo đường thẳng, nên có sự tiến hoá, sự bành trướng và sự tiến bộ vô cùng tận. Quan điểm Marxiste vẫn còn mang nặng ý tưởng Chúa không ngừng Sáng tạo của Thiên Chúa giáo nên luôn luôn lạc quan về tương lai là vì vậy.
Nếu tác giả Hồ Trung Tú chịu khó đọc lại cuộc đời và những tác phẩm của Trần Đức Thảo, sẽ thấy thời kỳ có nhiều sáng tác có giá trị nhất là thời kỳ còn ở Pháp. Những tác phẩm viết tại Việt Nam chỉ là theo đơn đặt hàng. Cuốn Những tìm kiếm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức chỉ là những thêm thắt của những bài triết gia Trần Đức Thảo phải viết cho Tập san Đại học Sư phạm ngay từ số 1 năm 1955: Bài 1 “Nguồn gốc ý thức trong sự tiến hoá của hệ thần kinh”. Bài 2 “Biện chứng pháp của hệ thần kinh”.
Phải xác định vô bằng chứng là hệ thần kinh con người tiến hoá từ loài vật đã tạo ra ý thức và Biện chứng pháp có từ cách đây 2500 năm cũng ở hệ thần kinh mà ra, nghĩa là ở vật chất mà ra, thì quả là một sự quá miễn cưỡng đối với một triết gia. Những bài viết về hệ thần kinh của Trần Đức Thảo cách đây hơn nửa thế kỷ phần lớn là lấy lại từ những sách về cơ thể học và phôi sinh học cho sinh viên y khoa năm thứ nhất còn để lại sau cuộc di cư năm 1954, và một phần là tài liệu tuyên truyền cho khoa học Liên Xô, nên đã quá lỗi thời, không thể là những “xác định quan trọng”, những bước “đi xa hơn” như ông Hồ Trung Tú nghĩ.
Sở dĩ cuốn sách này được Editions Sociales (Nhà Xuất bản Xã hội) của Đảng Cộng sản Pháp cho in năm 1973 sau Hội nghị Paris, là vì chính quyền hồi đó có ý nới tay cho Trần Đức Thảo có cơ hội tiếp xúc lại với giới trí thức thiên tả Paris luôn luôn bênh vực chính phủ Hà Nội thời đó, chứ không phải là vì tầm quan trọng của những công trình khảo cứu được trình bày trong cuốn sách này mà hiện nay chả còn ai biết đến.
Những năm gần đây, với sự tiến triển của khoa não bộ học, và khoa hồi sinh khiến có những trường hợp bị coi là chết vì bộ não không biểu lộ một hoạt động gì nữa lại được hoàn sinh. Những người “chết đi sống lại” này kể lại những kinh nghiệm của mình trong khi chết gọi là “kinh nghiệm cận tử” (Near Dead Experience, NDE) thấy mình bay khỏi xác, khiến những khẳng định là bộ não tạo ra tinh thần, tạo ra ý thức cần phải được xem xét lại. Có lẽ câu hỏi của ông Hồ Trung Tú “ý thức con người từ đâu mà có” sẽ tìm được câu trả lời.
© 2010 Phong Uyên
© 2010 talawas
Bình luận
17 Comments (bài “Phong Uyên – Trần Đức Thảo và Phật Giáo không gặp nhau ở điểm nào cả”)
1 2 Trang sau »
“Vạn pháp do tâm tạo”: Chữ Pháp theo tôi hiểu trong Đạo Phật là phương pháp, nguyên lý, lý luận, luận đề, giáo lý… nói chung là sản phẩm của tư duy nhằm xây dụng cốt lõi cho triết lý Nhà Phật…” (Lê Quốc Trinh).
Pháp (Dharma)có nhiều nghĩa, là quy luật chung, hay là giáo lý Phật giáo (như trong Phật Pháp Tăng, Chính Pháp), và theo tôi hiểu, ông Lê Quốc Trinh nói chung như trên thì cũng đúng. Nhưng trong câu “vạn pháp do tâm tạo” của Duy Thức học (thiền sư Nhất Hạnh gọi là Duy Biểu học), Pháp bao gồm các hiện tượng vật chất và phi vật chất, mọi sự việc, kể cà những khái niệm, ý niệm nảy sinh trong tâm thức con ngưới. Theo sách Duy Thức, những ý niệm về những điều không hề có trong thực tại, như “lông rùa, sừng thỏ” đều là Pháp. Vậy thì hình ảnh Tôn Ngộ Không, chủ nghĩa cộng sản (nguyên thủy hay sau cùng, đúng hay sai) đều là Pháp, xét theo nghĩa Duy Thức học. Nếu hiểu như thế, tất cả những gì do tâm trí tạo tác đều là Pháp.
Nhưng còn về các hiện tượng vật chất, như dòng suối, cây tùng, mặt trăng trước chùa có phải do Tâm tạo ra ? Tôi không có thời gian để tìm câu trả lời trong kinh sách Phật giáo đã đọc (nếu may mắn có đọc), và chỉ góp ý ở đây theo suy diễn thiển cận riêng. Theo Duy Thức, chúng ta cảm nhận các Pháp (tức hiện tượng) qua 6 thức, là những tri giác đến từ năm giác quan và ý thức (giúp nhận biết, phân biệt, suy luận). Mắt cho cái biết về hình dạng, màu sắc của một vật, gọi là “nhãn thức”, nhờ đó ta thấy được suối, cây, hay trăng. Gọi đó là nhãn thức, vì nhờ có cái tâm thức đứng đằng sau con mắt, chứ riêng con mắt chỉ trong vai trò vật lý (quang học) đơn thuần không thể thấy và biết được cây tùng đang đứng trước nó. Như vậy theo tôi hiểu, tâm thức nếu không tạo tác các hiện tượng vật chất thì ít nhất đã làm cho chúng hiển lộ ra, bằng không muôn đời chúng dù có cũng như không. Nói cách khác, tâm thức giúp vạn vật thể hiện, biểu hiện.
Thật ra, Thich Ca không giải thích các câu hỏi đặt ra về siêu hình, như thế giới, vạn vật từ đâu mà có, do ai tạo ra. Nhưng kinh sách Phật vẫn nói đến Đại Giác là bản thể nằm đàng sau, bên trong “vạn pháp”. Nếu nghĩ đơn giản, có phải cái đại giác này là những quy luật chi phối các hiện tượng, vật thể cực nhỏ và cực lớn trong vũ trụ không, thí dụ như luật dẫn lực (các vật thề có khối lượng hấp dẫn nhau) để khiến tạo nên ngân hà, thái dương hệ, và sự sống trên trái đất. Tôi thật không hiểu, và không chắc là vậy (tôi nghĩ Đại giác phải vận động có ý thức). Nhưng nếu cho vật chất tự nhiên có thì các quy luật chi phối vật chất có phải cũng tự nhiên mà có không? Chắc là vật chất không tự tạo ra được các quy luật giúp chúng vận hành.
Mến chào bác Phùng Tường Vân,
Thật sự tôi đã từng nghe nhiều người hiểu chữ “Phật Pháp” nhiều cách khác nhau, tuy rằng họ tu tập Thiền Hành lâu năm, do đó tôi muốn mượn Diễn Đàn Talawas này để nêu lên vấn đề cho mọi người cùng nhau thảo luận.
Cái khó khăn phức tạp nhất trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu Đạo Phật là vấn đề ngôn ngữ. Từ tiếng Phạn chính gốc dịch ra tiếng Hán xong rồi xâm nhập vào Việt Nam, cả ngàn bộ kinh Phật đó chứa biết bao từ ngữ khó hiểu, mâu thuẫn và lắm khi văn phạm sai bét nhè, thế mà cả triệu người vẫn ê a tụng kinh hàng ngày trong chùa, mà trong đầu họ thực tình có hiểu gì đâu! Tôi đã từng hỏi và họ cũng thú nhận rằng họ không hiểu và… họ vẫn thích thế!
Chúng ta biết rằng Đạo Phật do một người thật bằng xương bằng thịt như chúng ta sáng lập cách đây hơn 2500 năm. Đó là một Đạo giáo duy nhất không có giáo chủ, bời vì chúng sinh ai ai cũng có Phật tính trong tâm, có khả năng Giác Ngộ thành Phật. Vì giáo lý Đạo Phật chính thống dựa trên tinh thần tìm hiểu, phát triển Trí Tuệ để phá tan bức màn Vô Minh, nguồn gốc của Khổ đau, trong một phương hướng Đại Từ Đại Bi, lòng thương bao la đại đồng. Đây chính là chỗ tương đồng giữa Đạo Phật và khoa học (phát triển trí tuệ đi đến Giác Ngộ, phục vụ nhân loại). Vì vậy nghiên cứu giáo lý Nhà Phật qua lăng kính khoa học là phương pháp hữu hiệu để giải mã nhiều khúc mắc. Và khoa học dựa trên nền tảng rõ ràng minh bạch, từ định nghĩa khởi đầu làm tiền đề, đi đến những định đề, nguyên lý, định luật, tất cả mọi nghiên cứu đều mang tính Vô Ngã (vô tư, trung thực) giống như triết lý Nhà Phật.
Từ đó mà có người quả quyết rằng Chủ Nghĩa Cộng Sản (K. Marx, qua công trình của Trần Đức Thảo) có nhiều điểm tương đồng với Đạo Phật làm tôi nghi ngờ. Lý thuyết Cộng Sản mang tính chất Duy Ngã (ngu dân, mỵ dân) cùng cực, đến mức độ đã gây biết bao thảm cảnh đau khổ cho nhân loại suốt một thế kỷ nay, đến giờ này sắp tàn lụi, thế mà có người còn muốn gầy dựng lại, có lẽ họ muốn tiếp tục đưa nhân loại trở về thời kỳ đồ đá (ăn lông ở lỗ) chăng?
Vài hàng thô thiển trao đổi cùng bác cho vui trong những ngày cuối năm.
Mến chào bác,
THÂN CHÚC BÁC VÀ CÁC BẠN TRONG TALAWAS MỘT NĂM MỚI VUI VẺ, HẠNH PHÚC, SỨC KHOẺ DỒI DÀO, TINH THẦN KHANG AN.
Lê Quốc Trinh
Thân gửi Bác Lê Quốc Trinh,
Đã tự nhận mình là “hiểu biết về Phật Học của tôi là lập lòe lắm” mà lại phát biểu một cách khá khẳng định, quyết liệt như tôi đã góp ý, thật là, ngay với tinh thần ôn nhu của Đạo Lành cũng đã là một sự sai rồi, xin bác miễn chấp cho vì thực tình là tôi đã định xin rút xuống cái phản hồi âý mà không kịp, xin được cung kính nghe tiếp các thảo luận chung quanh đề tài và một lần nữa xin bác hỷ xả phát tâm từ bỏ qua cho nhé.
Bác Lê Quốc Trinh nói:
“Hiểu được rốt ráo chữ TÂM là gì thì hiểu được tại sao “Vạn pháp do tâm tạo”, và hiểu thêm được triết lý Nhà Phật, . . .”
Tôi không tin luận điểm này đúng. Hiểm cái TÂM con người ta có lẽ không ai hơn nhà Phân tâm học S.Freud. Ông là người đầu tiên biết được, nhìn thấy được đằng sau những hành vi mĩ miều, những vẻ ngoài cao đạo là những động cơ tối tăm thậm chí thối tha của những dục vọng bị ức chế. Hiểu rõ Tâm đến vậy nhưng Freud có phải là người giác ngộ và hiểu được vạn pháp do tâm tạo ?
Đinh nghĩa tâm là chuyện không khó, đó là toàn bộ đời sống tinh thần tâm lý của con người. Dĩ nhiên cũng sẽ có định nghĩa khác như tâm chính là linh hồn, là giác tánh, là cái thường biết…
Nói gì thì nói tôi vẫn đồng ý với ý kiến của HTT về chuyện Tâm (tức thức, tâm tồn tại dưới dạng một niệm, tức là Thức chứ tâm không phải là một thực thể độc lập. Ngũ Uẩn và lục căn đều không có khái niệm Tâm). Mà thức thì do Vô Minh sanh. Có nghĩa TÂM cũng do từ vô minh khởi sanh. NhàThiền có câu: TỪ MỘT NIỆM BẤT GIÁC MÀ SINH RA SƠN HÀ ĐẠI ĐỊA
Núi sông đất rộng kia từ cái tâm vô minh ta mà thành. Cả vũ trụ này chỉ có một mình ta thôi !
Ui, nhà Phật hay thật !
Chào bác Phùng Tường Vân,
Tôi mong muốn nghe lời chỉ dạy của bác. Khi tôi nêu định nghĩa, tôi đã dần chứng rõ ràng chữ Pháp rút ra từ ba thứ quý giá nhất trong Đạo Phật (Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng) để dẫn chứng. Chính đức Thế Tôn trước khi nhắm mắt đã từng gửi gấm lại rằng: “Khi Ngài ra đi, chúng đệ tử cứ nương theo Pháp mà học hỏi”. Nếu ai thấy không chính xác cứ tự nhiên lên tiếng, đây là Diễn Đàn trí thức, chúng ta vào đây cốt để học hỏi nhau.
Nào, xin mời bác Phùng Tường Vân,
Bác Phung Nghi:
Bác viết: Chúng ta chỉ chuẩn bị mình để tiếp thu kiến giải của những bậc cao minh trong đạo Bụt nếu họ chịu hạ cố đáp lại những thắc mắc mà bác đã nêu lên trước. (Xin bác để ý là tui đã mở đầu và kết thúc như thế trong bài trao đổi với bác kia mà!) Ý kiến bác thấy thế nào?
Đệ xin trả lời: Cho dù đã đọc lại bài bác đệ vẫn không hiểu bác muốn nói đến “bậc cao minh” nào sẽ “hạ cố” xuống giải đáp thắc mắc cho đệ ? Và đệ phải chuẩn bị mình để tiếp thu như thế nào ?
Đọc kinh sách nhà Phật đệ thường thấy câu “Chớ vội tin…” Có nghĩa là đức Phật không bao giờ tự cho mình là một đấng có quyền năng vô hạn, , và Ngài cũng không mong cầu hàng đệ tử xem Ngài như là một đấng tối tôn tuyệt đối. Đức Phật không phải là thánh thần có năng lực ban ơn, giáng họa. Ngài chỉ là một con người, một con người đã trải qua quá trình tu tập và đã đạt được sự giác ngộ, giải thoát. Và Ngài khuyên các đệ tử của mình rằng, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, không ai có khả năng cứu rỗi ai cả, mỗi người hãy tự khơi sáng ngọn đuốc trí tuệ của chính mình, mỗi người đều chịu trách nhiệm cho sự giác ngộ và giải thoát của chính mình. Các vị hãy lấy giáo pháp làm thầy của các vị
đệ hiểu người thầy lớn nhất của mình chính là mình, nếu mình không tự khám phá chính mình thì không có bậc cao minh nào có thể giúp mình thành tựu được
Vậy thì huynh nói muốn nói BẬC CAO MINH nào vậy? Nêu tôi đoán không nhầm thì bác đã có vị cao minh ấy và bác bước đầu muốn giới thiệu đến với mọi người? Tại sao bác không nói thẳng ra?
Chào bác Lê Quốc Trinh:
Tôi đồng ý với tất cả những điểm bác đã khai mở thêm. Để chia xẻ quan điểm bác đã nêu “Nếu hai bác đồng ý với tôi rằng Vạn Pháp là bao gồm hết tất cả lý thuyết, tư duy, nhận định, phương pháp, giáo lý, hệ thống tư tưởng, ý thức hệ, thì chúng ta đã cùng đi được nửa đoạn đường rồi, …” Tui xin cọp bi một phần định nghĩa của Pháp (Dharma) từ PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN – BUDDHIST DICTIONARY VIETNAMESE – ENGLISH của Thiện Phúc để bổ sung thêm:
6) Dharma (skt)—Đạt Ma—Đàm Ma—Đàm Vô—Giáo pháp của Phật hay những lời Phật dạy—Con đường hiểu và thương mà Đức Phật đã dạy—Phật dạy: “Những ai thấy được pháp là thấy được Phật.” Vạn vật được chia làm hai loại: vật chất và tinh thần; chất liệu là vật chất, không phải vật chất là tinh thần, là tâm—The teaching of the Buddha (Understanding and Loving)—Law—Doctrine—Things—Events—Phenomena—The way of understanding and love taught by the Buddha—The Buddha says: “He who sees the Dharma sees me.” All things are divided into two classes: physical and mental; that which has substance and resistance is physical, that which is devoid of these is mental (the root of all phenomena is mind).
7) Toàn bộ giáo thuyết Phật giáo, các quy tắc đạo đức bao gồm kinh, luật, giới: The doctrines of Buddhism, norms of behavior and ethical rules including pitaka, vinaya and sila.
8) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, chữ Dharma có năm nghĩa như sau—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the word “Dharma” has five meanings:
a) Dharma là cái được nắm giữ hay lý tưởng nếu chúng ta giới hạn ý nghĩa của nó trong những tác vụ tâm lý mà thôi. Trình độ của lý tưởng nầy sẽ sai biệt tùy theo sự tiếp nhận của mỗi cá thể khác nhau. Ở Đức Phật, nó là sự toàn giác hay viên mãn trí (Bodhi): Dharma would mean ‘that which is held to,’ or ‘the ideal’ if we limit its meaning to mental affairs only. This ideal will be different in scope as conceived by different individuals. In the case of the Buddha it will be Perfect Enlightenment or Perfect Wisdom (Bodhi).
b) Thứ đến, lý tưởng diễn tả trong ngôn từ sẽ là giáo thuyết, giáo lý, hay giáo pháp của Ngài: Secondly, the ideal as expressed in words will be his Sermon, Dialogue, Teaching, Doctrine.
c) Thứ ba, lý tưởng đề ra cho các đệ tử của Ngài là luật nghi, giới cấm, giới điều, đức lý: Thirdly, the ideal as set forth for his pupils is the Rule, Discipline, Precept, Morality.
d) Thứ tư, lý tưởng là để chứng ngộ sẽ là nguyên lý, thuyết lý, chân lý, lý tính, bản tính, luật tắc, điều kiện: Fourthly, the ideal to be realized will be the Principle, Theory, Truth, Reason, Nature, Law, Condition.
e) Thứ năm, lý tưởng thể hiện trong một ý nghĩa tổng quát sẽ là thực tại, sự kiện, sự thể, yếu tố (bị tạo hay không bị tạo), tâm và vật, ý thể và hiện tượng: Fifthly, the ideal as realized in a general sense will be Reality, Fact, Thing, Element (created and not created), Mind-and-Matter, Idea-and-Phenomenon.
9) Những phản ánh của các hiện tượng vào tâm con người, nội dung tâm thần, ý tưởng: Reflection of a thing in the human mind, mental content, object of thought or idea.
10) Những nhân tố tồn tại mà trường phái Tiểu thừa cho đó là nền tảng của nhân cách kinh nghiệm: Factors of existence which the Hinayana considers as bases of the empirical personality.
11) Theo phái Trung Quán, chữ Pháp trong Phật Giáo có nhiều ý nghĩa. Nghĩa rộng nhất thì nó là năng lực tinh thần, phi nhân cách bên trong và đằng sau tất cả mọi sự vật. Trong đạo Phật và triết học Phật giáo, chữ Pháp gồm có bốn nghĩa—According to the Madhyamakas, Dharma is a protean word in Buddhism. In the broadest sense it means an impersonal spiritual energy behind and in everything. There are four important senses in which this word has been used in Buddhist philosophy and religion:
a) Pháp có nghĩa là thực tại tối hậu. Nó vừa siêu việt vừa ở bên trong thế giới, và cũng là luật chi phối thế giới: Dharma in the sense of one ultimate Reality. It is both transcendent and immanent to the world, and also the governing law within it.
b) Pháp theo ý nghĩa kinh điển, giáo nghĩa, tôn giáo pháp, như Phật Pháp: Dharma in the sense of scripture, doctrine, religion, as the Buddhist Dharma.
c) Pháp có nghĩa là sự ngay thẳng, đức hạnh, lòng thành khẩn: Dharma in the sense of righteousness, virtue, and piety.
d) Pháp có nghĩa là thành tố của sự sinh tồn. Khi dùng theo nghĩa nầy thì thường được dùng cho số nhiều: Dharma in the sense of ‘elements of existence.’ In this sense, it is generally used in plural.
Trong phần trao đổi với bác Kim Sinh, tôi có nói “Nếu khớp nữa, xin bác hãy lặp lại cho đến khi nào hết Pháp thì thôi.” Ý tôi muốn nói là bác hãy tiếp tục quán sát tu chứng cho đến …khi ngộ thì sẽ có câu trả lời cho chính mình. Nhưng xem ra bác Kim Sinh tu chứng thần tốc quá tui chạy theo không kịp (nên bị lệch pha).
h
Và tôi 100% nhất trí với câu kết của bác:
“Hiểu được rốt ráo chữ TÂM là gì thì hiểu được tại sao “Vạn pháp do tâm tạo”, và hiểu thêm được triết lý Nhà Phật, . . .”
Mến chào bác.
“Vạn pháp do tâm tạo”: Chữ Pháp theo tôi hiểu trong Đạo Phật là phương pháp, nguyên lý, lý luận, luận đề, giáo lý… nói chung là sản phẩm của tư duy nhằm xây dụng cốt lõi cho triết lý Nhà Phật…” (Lê Quốc Trinh)
Hiểu biết của tôi về Đạo Phật là lập lòe lắm, tuy nhiên tôi gần như chắc chắn rằng, trong văn học Phật Giáo chữ “PHÁP” hay “VẠN PHÁP” hiểu như ông bạn Lê Quốc Trinh cho định nghĩa ở trên là gần như không có một ai chia sẻ .
Chào bác Kim Sinh:
Cảm ơn bác đã đáp lời lại những trao đổi của tui với bác. Tui đã hiểu những điều bác trình bày và có ý kiến như thế này: tui và bác đã lệch pha cho nên tui xin chấm dứt trao đổi về đề tài này ở đây, vì nếu bác và tui cứ tiếp tục kiểu này thì chỉ tổ làm mất thời gian của nhau mà thôi (và vừa làm choán chỗ của diễn đàn vừa làm ngứa mắt độc giả nữa không chừng! (Cười.)) Tuy nhiên, tôi cũng vẫn bảo lưu những điều tôi đã trao đổi ở bài trước với bác: Chúng ta chỉ chuẩn bị mình để tiếp thu kiến giải của những bậc cao minh trong đạo Bụt nếu họ chịu hạ cố đáp lại những thắc mắc mà bác đã nêu lên trước. (Xin bác để ý là tui đã mở đầu và kết thúc như thế trong bài trao đổi với bác kia mà!) Ý kiến bác thấy thế nào?
Chúc bác liễu ngộ và an lạc với những gì bác đang theo đuổi.
Ông Kim Sinh viết: “(nếu…) kinh Đại Niết Bàn đã không nói Niết bàn có các thuộc tính là: Thường, Lạc. NGÃ, Tịnh. Niết bàn có ngã thì hà cớ gì cõi ta bà này lại vô ngã?”
Theo tôi hiểu, kinh Đại Niết Bàn, nằm trong hệ thống kinh điển Đại Thừa, cho Niết Bàn là Thường Tịnh, cao vượt hơn chốn thế gian sinh tử. Vì vậy khi thế gian là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, thì Niết Bàn là các mặt đối nghịch như Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Nếu hiểu như thế thì đã có “cớ” để nói (chúng sinh) ở chốn thế gian sinh tử là vô ngã (do duyên sinh, do vạn pháp vô thường). Về mặt lý luận, nếu thế gian là Thường, Ngã cũng như Niết Bàn thì cần gì phải nhập Niết Bàn, hay đạt tới giác ngộ, giải thoát (khỏi khổ).
Lời kinh Phật nhiều như lá rừng, và mỗi kinh trình bày một phần cách nhìn của đạo Phật, hay một phần sự thật theo quan điểm Phật giáo (gọi là chân đề), vì vậy nhiều khi người đọc kinh thấy ý kinh như mâu thuẫn nhau. Không nên lấy kinh này “chọi ” lại kinh kia, lấy câu kinh này bác bỏ câu kinh kia. Thường kinh Đại Thừa nhấn mạnh ở việc phá chấp, cho nên kinh thuyết vô ngã là để phá cái chấp ngã, và nếu nêu thuyết Ngã là để phá cái chấp vô ngã. Có kinh viết chấp vô ngã còn tệ hơn chấp ngã, nhưng vì chúng sinh chấp ngã từ nguyên thủy nên đưa thuyết vô ngã trước để phá cái chấp sâu dày này. Chân Tâm hay Bàn Tính trong Phật giáo (hoặc riêng Thiền tông) vượt trên quan niệm nhị nguyên về ngã hay vô ngã. Và kinh Duy Ma Cật gọi đó là quan điểm Bất Nhị (không là cái này, cũng không là cái kia, không phải là cả hai, mà siêu vượt lên cả hai).
“Vạn pháp do tâm tạo”
Thân chào hai bác Phụng Nghi và Kim Sinh,
Ngồi nghe hai bác đàm đạo Phật Pháp tôi thấy vui vui, vì lẽ triết lý Nhà Phật quả thật phức tạp vô cùng, rất nhiều người đã từng bị “tẩu hoả” khi cố công nghiên cứu tìm hiểu, ở đây tôi chưa nói đến chuyện “nhập ma”, có thể xảy ra lắm trong thế giới Thiền!
Tuy nhiên tôi vẫn thích thú theo dõi cuộc thảo luận của hai bác, vì muốn chứng thực những gì tôi đã tìm, xin phép hai bác được bàn ké vài điều.
Trước tiên, muốn buổi thảo luận đạt kết quả tốt đẹp thì tôi cũng xin phép tự đưa ra vài nhận định căn bản như sau:
“Vạn pháp do tâm tạo”: Chữ Pháp theo tôi hiểu trong Đạo Phật là phương pháp, nguyên lý, lý luận, luận đề, giáo lý… nói chung là sản phẩm của tư duy nhằm xây dụng cốt lõi cho triết lý Nhà Phật. Trong Tam Bảo mà Phật tử chính thức làm lễ quy y gồm có, theo thứ tự ưu tiên:
1)- Quy y Phật: nguyện một lòng theo về với đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người sáng lập ra Đạo Phật cách đây hơn 2500 năm, người đầu tiên Giác Ngộ;
2)- Quy y Pháp: nguyện một lòng theo học giáo lý Nhà Phật, tựu chung là những lời giảng dạy của đức Thế Tôn, gồm có những lý thuyết căn bản như: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Vô Thường, Vô Ngã, Nhân Duyên, Nhân Quả, Luân Hồi, Thập Nhị Nhân Duyên, Sắc Sắc Không Không và Duy Thức Luận, vv…
3)- Quy y Tăng: nguyện một lòng cung kính nghe lời giảng dạy của các chư Tăng, những người đi trước từng tu tập giáo lý Nhà Phật lâu năm;
Tuy nhiên, đức Phật Thích Ca đã nhập Niết Bàn từ hơn 2500 năm qua, Ngài không còn hiện hữu trên thế gian này để giải thích giáo lý của Ngài, do đó chỉ còn Pháp (kinh sách, giáo lý) là cơ sở tài liệu để chúng ta trau dồi tìm hiểu, khi nào không hiểu thì tìm đến Tăng học hỏi. Thế nhưng vấn đề trọng đại đặt ra là có thật chư Tăng ngày nay có đầy đủ đức độ, thấu hiểu Phật Pháp và đủ khả năng để giải thích hết những thắc mắc của đại đa số Phật tử không ?
Chi cần nói đến chữ TÂM là bắt đầu nảy sinh bàn cãi rồi, huống gì cả toàn câu “Vạn pháp do tâm tạo”. Nếu hai bác đồng ý với tôi rằng Vạn Pháp là bao gồm hết tất cả lý thuyết, tư duy, nhận định, phương pháp, giáo lý, hệ thống tư tưởng, ý thức hệ, thì chúng ta đã cùng đi được nửa đoạn đường rồi, chỉ còn lại chữ TÂM là cần phải nhất trí thông qua.
Vậy thì TÂM là gì vậy ??? TÂM là cái gì vĩ đại đến nỗi có thể tạo ra tất cả lý thuyết, ý thức hệ, bao trùm phạm trù tư duy, tư tưởng nhân loại ? Có ai đã nhìn thấy, nghe thấy và chạm tay rờ mó vào cái TÂM chưa ? Tâm tròn hay méo ? To hay nhỏ ? Đen hay trắng ? Tâm của người này có giống Tâm người khác không ? Nếu chấp nhận “Vạn pháp do tâm tạo”, thì thử hỏi : “Cái gì tạo ra TÂM vậy ?”. Câu nói “Vạn pháp do tâm tạo” có thật do Đức Thế Tôn giảng dạy khi còn tại thế hay không ? hay chỉ là câu truyền miệng từ môn phái Đại Thừa bên Trung Hoa thời xưa (đệ nhất Tổ Bồ Đề Đạt Ma: giáo ngoại biệt truyền, dĩ Tâm truyền Tâm)?
Hiểu được rốt ráo chữ TÂM là gì thì hiểu được tại sao “Vạn pháp do tâm tạo”, và hiểu thêm được triết lý Nhà Phật, tôi thầm nghĩ như thế !
Mến chào hai bác,
Lê Quốc Trinh
Xin được đỡ lời bác Phụng Nghi:
Quả thật, cho đến hiện nay, tôi thấy không có thứ gì trên thế gian này lại được hiểu nhiều, cách khác nhau như Phật giáo. Cũng ở các khái niệm bác Phụng Nghi đưa ra tôi xin cung cấp những cách hiểu khác, liệu xem rồi bác Phụng Nghi có xem cách hiểu của mình là duy nhất đúng hay không 🙂
1/Chuyện vạn pháp do tâm tạo: Nói thật các “hướng dẫn” thực hành để “thực chứng” vạn pháp do tâm tạo của bác tôi đọc đi đọc lại nhiều lần vẫn không hiểu. Ví dụ như câu này rất then chốt trong diễn đạt của bác “Rồi bác bỏ vài nghĩa đó vào trong cái máy “Vạn pháp do tâm tạo” xem coi chúng có khớp không” tôi sự thự tù mù khi bỏ cái chén, cây bút “vào trong cái “máy” vạn pháp do tâm tạo là phải thực hiện như thế nào.
Tuy nhiên, việc cứ ám thị một ý tưởng nào đó lên một sự vật nào đó cho dù phi lý đến thế nào đi nữa thì cuối cùng nó cũng sẽ thành sự thật trong tâm trí người đó. Ngồi thiền xem ta không có, ta vô ngã, cứ ám thị mãi như thế rồi sẽ thấy ta không có thật. Nhìn cục đá, cứ ám thị cục đá là quỷ dữ thì nó sẽ thành quỷ dữ thật. Có nhiều ví dụ về chuyện này mà!
2) Lời khuyên của Phật “Chân lý như mặt trăng, đạo ta như ngón tay chỉ mặt trăng” nó khác hoàn toàn với việc bác nói: “hãy dùng chén đũa muỗng mà ăn cơm chứ không nên lấy chén đũa muỗng mà ăn kẻo không sẽ bị mẻ răng, sứt môi”. Bác đánh tráo khái niệm khi dùng chữ công cụ. Công cụ để ăn, để lao động và công cụ để tu hành nó không giống nhau. Công cụ để tu hành nó dễ khiến người ta có nhiều cách hiểu khác nhau trong khi công cụ lao động ăn uống chỉ có một nghĩa. Không nên dùng những so sánh thiếu sức khái quát này rồi bảo người đối thoại thành kẻ ngớ ngẩn đi ăn chén đũa thay cơm. Bác nhé
Bác nói: “Còn nói đến sự thật, thì Bụt đã chỉ ra trong Tứ Diệu Đế – Bốn Chân Lý Cao Cả: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, và Đạo Đế.” Xin hỏi bác, Chân lý là bất di bất dịch, đúng trong mọi lúc, mọi hoàn cảnh, vậy hà cớ gì Bát Nhã lại dạy “KHÔNG CÓ KHỔ TẬP DIỆT ĐẠO?” Ý kiến sau nếu có trả lời bác hãy chỉ trả lời một ý chỗ này thôi, tôi xin hứa theo bác đến cùng để tìm xem chân lý trong đạo Phật nó có cái nghĩa gì?
Nhân đây nói luôn: Nếu Khổ tập diệt đạo là chân lý thì nó là mặt trăng, lời Phật là mặt trăng. Vậy hà cớ gì Phật lại nói lời Ta không phải là mặt trăng? Khổ tập diệt đạo là ngón tay trong trường hợp nó là một nhận thức ngắn hạn giúp con người vượt qua một chặng đường nào đó, chặng đường sau cần những “chân lý” khác. Và đây là toàn bộ ý nghĩa của câu nói trong kinh Kim Cang “qua sông hãy bỏ bè”
3) Về vô ngã: Không phải chỉ có Vô Ngã mà bất cứ khái niệm nào một khi được xác tín nó đều thành sự thật. Cũng với cách chứng minh bằng lập luận về cái bàn vô ngã, các tín đồ Cơ Đốc đã chứng về sự tồn tại có thực của Thượng Đế. Vì vậy khoan hãy nghe sự êm tai trong lập luận, thoạt nghe vậy thôi nhưng không phải không bẻ gãy được nó:)
Nhận thức về vô ngã, giác ngộ thực chứng về vô ngã, sống như vô ngã, ta sống đây mà như không hề có trên đời… đó là mục đích cuối cùng của Phật giáo ư huynh Phụng Nghi? Tôi không tin đâu. vô ngã, hết khổ chưa phải là mục đích cuối cùng của Phật đâu.
Phật nói: “Những điều ta giảng cho các ông, so với những gì ta biết, cũng giống như nắm lá trong tay ta so với cánh rừng, nhưng thế cũng quá đủ để đạt được giác ngộ giải thoát”.
Vâng, có thể với người này nắm lá trong tay là quá đủ nhưng với người kia thì khao khát cánh bạt ngàn kia. Có thể có người này mong hầu nước cho Phật là đủ nhưng cũng có người kia vào nhà Như Lai mặc áo Như Lai, ngồi cạnh Như Lai mới gọi là đủ.
Và tôi đồ chừng rằng đó là nguyên nghĩa gốc của hai khái niệm Đại Thừa và Tiểu Thừa.
Khoan hãy vội bảo cách hiểu của mình là duy nhất đúng, huynh à 🙂
Và tôi cũng mong rằng bác không phụ ý tốt của tôi khi cố thuyết phục mở lòng ra để hiểu những cách hiểu khác về các khái niệm của Phật giáo. Còn chuyện thực nghiệm thì, nói thật, chỗ này không phải là chỗ nói. Cứ trên mặt chữ mà suy, tâm thông thì ngôn thông, không phải để dễ nói được những khái niệm nhiều chiều đa nghĩa của Phật giáo, phải không bác ?
Chúc bác thành công.
Những câu hỏi của bác Kim Sinh là những câu hỏi mà những người mới “học” Phật thường hay nêu ra. Để trả lời đầy đủ và rốt ráo những câu hỏi này chắc chắn phải cần rất nhiều thời gian, công sức, và quan trọng nhất là phải có kinh nghiệm thực chứng. Trong khi chờ đợi được những bậc thức giả trong đạo Bụt chỉ giáo, mình (bác Kim Sinh và tui) có thể từng bước làm như thế này để thấy vấn đề sáng lên một chút.
1) Hãy tạm gác chuyện “Vạn pháp do tâm tạo” có phải là một “chủ trương” hay không qua một bên, và hãy xem “Vạn pháp do tâm tạo” như là một mệnh đề cần chứng minh. Chứng minh ở đây không phải bằng lý thuyết/lý luận suông mà phải bằng trải nghiệm thực của bản thân. Bác Kim Sinh hãy làm như thế này: Hãy ngồi yên lặng, tập trung vào hơi thở vào ra của mình và quán sát lấy “tâm” mình. Bác chỉ quán sát thôi đừng cạn dự (thắc mắc, ngăn cản) gì vào giòng sinh diệt bất tận của những ý niệm. Chú ý trong đạo Bụt, Pháp (tiếng Samkrist là Dharma) có rất nhiều nghĩa cho nên bác nên tra cứu xem Pháp có những nghĩa gì. Rồi bác bỏ vài nghĩa đó vào trong cái máy “Vạn pháp do tâm tạo” xem coi chúng có khớp không. Nếu khớp, bác cũng đừng nên vội đi đến kết luận “Vạn pháp là do tâm tạo” là một chân lý. Bác hãy tiếp tục ngồi yên, thở và quan sát “tâm” rồi, bước kế tiếp là bác bỏ thêm vài nghĩa khác nữa của Pháp vào cái máy “Vạn pháp do tâm tao” rồi quán sát nó xem sao. Nếu khớp nữa, xin bác hãy lặp lại cho đến khi nào hết Pháp thì thôi. Lúc đó việc kết luận “Vạn pháp do tâm tạo” có là cái gì gì thì hoàn toàn tùy bác. Biết đâu chừng tới đó bác không thèm gọi nó là gì nữa thì thiệt là mệt đó! (Cười)
2) “Nếu có sự thật thì Phật Thích Ca đã không nói chân lý như mặt trăng và những lời ta nói như ngón tay chỉ mặt trăng mà thôi, mà phải nói lời ta là sự thật !” cái này là tui trích lại nguyên xi lời của bác. Ý chính của câu Bụt nói là: Những lời giảng của Bụt chỉ là phương tiện (means), công cụ (tools) mà thôi. Người thực hành đạo Bụt không nên lấy phương tiện, công cụ làm chân lý. Lời khuyên này giống như bác Kim Sinh dạy con của bác hãy dùng chén đũa muỗng mà ăn cơm chứ không nên lấy chén đũa muỗng mà ăn kẻo không sẽ bị mẻ răng, sứt môi mà không hết đói bụng đó. Theo ý này, nhiều đệ tử của Bụt sau này thường hay bảo: lời giảng của Bụt, kinh sách, lễ nghi trong đạo Bụt tất thảy chỉ là cái Bè. Nếu muốn đi từ bờ bên này qua bờ bên kia thì mình phải leo lên Bè rồi chèo chống nó đi, khi tới bờ kia rồi thì bỏ Bè mà nhảy lên bờ, chớ đừng vác Bè theo mình làm chi cho mệt! Đạo Bụt là đạo của thực chứng, không phải là môn học hàn lâm lý thuyết. Còn nói đến sự thật, thì Bụt đã chỉ ra trong Tứ Diệu Đế – Bốn Chân Lý Cao Cả: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, và Đạo Đế. Bác nên tìm hiểu về bốn sự thật này xem thử như thế nào. Thêm nữa, Chân lý theo đạo Bụt được phân thành hai loại: Đạo Đế (Chân lý tối thượng) và Tục Đế (Chân lý thế gian) bác cũng nên đi tìm hiểu xem sao. Tui nói thiệt với bác: Đạo Bụt là đạo khoa học thực nghiệm tự thân.
3) Bây giờ mình lược sơ qua một chút về Vô Ngã. Vô Ngã: Anatma hoặc Nairatmyam (skt), tiếng Anh có thể dịch là egolessness, no-self, not self, non-ego, hoặc the emptiness of a self. Vô Ngã là sự thực thường hằng bất biến (ít nhất trong thế giới ta bà theo cái hiểu hiện thời của tui! Nếu mai tui ngộ đạo thì câu chuyện sẽ khác ạ!) chứ không phải là sự thực sau cùng tối hậu hay sáng hậu gì cả. Nó ngay đây và ngay tức thì sờ sờ đây nè. Bác hãy thử tìm xem coi có cái vật gì hiện tượng gì kể cả ý niệm, cảm xúc xem chúng có có một cái gì đó là bản chất bất di bất dịch (ngoài trừ sự không ngừng biến đổi mà trong đạo Bụt gọi là Vô Thường) trường tồn bất biến hay không? Nếu có thì thế giới này sẽ không phải là thế giới của những chuyển hóa sinh sinh diệt diệt thiên thu kì hồi tuyệt vời như thế này. Bác thấy, trong vũ trụ này tất cả mọi thứ đều là những tổ hợp của những cái không phải là nó: cái bàn gỗ được có mặt là do những cái không phải là bàn như thân cây, đinh, keo, không gian, thời gian, và sức lao động khéo léo của người thợ mộc mà tao nên. Không có cái gì là cái bàn cả! Cái bàn là vô ngã. Và cả vũ trụ này cũng vậy: Vô Ngã. Tui – Phụng Nghi là vô ngã. Thế thì cái gì là Vô Ngã và cái gì là Ngã? Đên đây chắc bác đã thấy Ngã và Vô Ngã tất cả đều là giả danh mà thôi.
4) Sau cùng là thuộc tính NGÃ của Niết Bàn. Điều này thì tui xin khất lại vì tui chưa nếm được, vào được, trở thành một với Niết Bàn nên tui không thể nói gì được về “thuộc tính” của nó cả. Bác hãy xem tui như một con thỏ sống cạnh bên một con sông. Một hôm có con ếch sau khi lặn xuống chơi dưới sông lên và kể cho tui hay rằng ở dưới đó bọn cá không hít thở không khí như tôi mà vẫn sống vui tươi. Tui làm sao mà tin được lời của con ếch! Ếch ơi, mi nói dốc quá đi! Dốc gì mà dốc, chính mình khi xuống ở dưới đó mình cũng phải làm như bọn cá thì mình mới ở chơi được với tụi nó một hồi. Bác phải tin lời tôi mới được! Hay là bác theo tôi xuống dưới đó một chuyến ‘thực tế’ xem sao cho biết. Làm sao mà tôi có thể nhận lời mời của bạn ếch đi theo xuống dưới sông chơi cho được, trong khi tôi chưa một lần tập dượt, thọc đầu xuống dưới đó được năm bảy giây đồng hồ! Ngộm không chịu nổi!
Trao đổi sơ qua đôi điều với bác về những thắc mắc bác đã nêu trong phản hồi. Mong rằng bác không phụ ý tốt của tôi mà tập thử như tôi đã trình bày để may ra mình có được chút ít “thực nghiệm” bản thân, chuẩn bị mình để tiếp thu kiến giải của những bậc cao minh trong đạo Bụt (mình tin sẽ có không chống thì chầy!) Chúc bác thành công.
Vạn pháp do tâm tạo là một “chủ trương” duy tâm hay duy vật ?
Sự thật ? Trong đạo Phật có sự thật ư ? Nếu có sự thật thì Phật Thích Ca đã không nói chân lý như mặt trăng và những lời ta nói như ngón tay chỉ mặt trăng mà thôi, mà phải nói lời ta là sự thật ! Và nếu Vô Ngã là sự thật tối hậu cuối cùng thì kinh Duy Ma Cật đã không nói “Ngã với vô ngã bất nhị” và kinh Đại Niết Bàn đã không nói Niết bàn có các thuộc tính là : Thường, Lạc. NGÃ, Tịnh. Niết bàn có ngã thì hà cớ gì cõi ta bà này lại vô ngã ?
Tôi hoàn toàn đồng ý với ông Phong Uyên về quan điểm này . Phật Giáo không chủ trương Duy Tâm hay Duy Vật là vì vậy. Sự thật mà Phật Giáo luôn muốn mọi người thấy rõ là Vô Ngã. Ai thấy được điều này bằng thực chứng chứ không bằng lý luận thì kẻ đó “chứng đắc” Niết Bàn .