Xem biểu diễn nhạc Phạm Duy
29/03/2009 | 5:44 sáng | 19 Comments
Category: Văn hoá – Giáo dục, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Văn hóa ứng xử

Đêm nhạc Phạm Duy tại Hà Nội ngày 27/3/2009. Hình: http://www.vnMedia.vn
Tối hôm 27 tháng Ba năm 2009, tôi đã làm một việc động trời: đi xem buổi biểu diễn ca nhạc “Ngày trở về” lần đầu của Pham Duy ở Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội. Tôi đã gợi ý với một người bạn lớn tuổi tìm cách xoay vé, nhưng anh có vẻ không mặn mà – mỗi vé bét nhất cũng 400.000đ, đối với trí thức Việt Nam nhất là trí thức đất Bắc không biết xoay xở giữa thời buổi kinh tế thị trường nhộn nhạo đâu phải là chuyện nhỏ (Ôi tình cảnh của trí thức chúng ta được “trọng thị” như hàng ngũ thứ ba: công, nông, trí !). Nhưng vốn mê nhạc tiền chiến, trong đó có nhạc Phạm Duy, hơn nữa cũng muốn “tìm lại mình” trong một không gian và thời gian “đã mất”, dầu chỉ trong khoảnh khắc, nên tôi và vợ tôi đã kiếm cho được vé và đến được Nhà hát. Chỉ còn 15 phút nữa trước giờ biểu diễn rạp vẫn lưa thưa. Vợ chồng tôi đâm lo. Nhìn xuống thấy nhiều mái đầu bạc mà chúng tôi để ý thấy có mái đầu của GS Hoàng Tụy, vợ tôi nói: “Sẽ đau nhất không phải cho Phạm Duy mà cho Hà Nội là sau 60 năm “xa cách” vì nhiều lý do, nay trở về thì người đời đã quên Phạm Duy”. Tôi thầm nghĩ: Chẳng lẽ chỉ lớp già mới còn muốn đến với Phạm Duy sao? Không có lẽ ! Hóa ra, quả là chúng tôi đã… bé cái nhầm. Đúng vào khoảng 15 phút cuối cùng ấy, người ta mới bắt đầu dồn đến, ào ạt, lộn xộn – một phần cũng do trời mưa – điền hết vào những hàng ghế trống, khiến cho rạp đầy ắp, và không chỉ người già mà người trẻ đến rất đông. Đa số thanh niên chen nhau ở “chuồng gà”. Chúng tôi đưa mắt cho nhau thở phào !
Sau buổi biểu diễn người ta lại dìu Phạm Duy xuống chân cầu thang Nhà hát, ngồi vào một cái bàn đặt tạm, và chen chúc vòng trong vòng ngoài xin chữ ký của ông, kể cả trẻ lẫn già, đến nỗi cố sức len vào bắt tay và xưng danh với ông như một “người quen vong niên cũ” để được ông “à” lên một tiếng, rồi rút ngay, đã những muốn đứt hơi.
Đạo diễn Phạm Hoàng Nam là người có biệt tài, biết cách đưa khán giả nhập vào hành trình nhạc Phạm Duy một cách rất khéo, từ quá khứ gần (“Kỷ niệm”, “Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà”) lùi dần lại những ngày rất xa, với “Bà mẹ Gio Linh”, hoặc “Chiều qua gánh nước cho Vệ quốc quân / Có những o nghèo kể rằng / Quân thù về đây đốt làng” (câu này đã thay đổi chút ít trong bài “Quê nghèo” nhưng tôi vẫn nghe nhạc theo cảm thức xưa cũ), đến “Ngày trở về”, “Áo anh sứt chỉ đường tà” tức Màu tím hoa sim của Hữu Loan phổ nhạc, là đỉnh điểm của cảm hứng sử thi (nhạc sĩ đã rất giỏi biến tấu giữa bi và tráng chứ không chỉ có tráng như những bài ca một thuở, khiến tim người nghe rộn rã xen với những khoảng chùng xuống, lặng thắt), rồi lại trở lại với hiện tại theo kiểu lui vào từng góc của “cái tôi” ở nhiều bình diện và nhiều lớp thời gian, với “Tiếng sáo Thiên Thai”, “Thuyền viễn xứ”, “Ngậm ngùi”, “Nghìn trùng xa cách” và những bản nhạc tình day dứt, xa xót của lứa tuổi năm, sáu mươi đang rất quen thuộc với công chúng yêu nhạc hôm nay (“Cỏ hồng”, “Kiếp nào có yêu nhau”, “Còn gì nữa đâu”…).
Các ca sĩ cũng hóa thân hết mình vào tiếng nhạc mà những giọng ca truyền cảm phải kể đến Mỹ Linh, Đức Tuấn, Tấn Minh, rồi Duy Quang, Nguyên Thảo… Khi Phạm Duy – dẫn chương trình – xướng lên cái tên Khánh Linh tôi đã giật thót tim vì nghe nhầm ra Khánh Ly, để rồi sau đó được nghe một thứ giọng dịu dàng duyên dáng nhưng có vẻ đuối hơi thì phải, tôi lại càng tiếc đã không có Khánh Ly trong đêm diễn, một Khánh Ly (cũng như Lệ Thu) đầy sức âm vang của chất giọng trẻ mãi không già, lan tỏa trong hồn ta từng đợt như những vòng sóng nước lan ra không dứt khi ai đó ném hòn đá xuống mặt ao, và quyến rũ đến mê hồn mà thời gian hẳn không bao giờ bị chìm vào lãng quên.
Phạm Duy tài năng quá khổ, điều ấy thì ai cũng biết, nhưng phải qua việc được cảm nhận trình diễn nhạc sống trước mắt, ta mới thực thấm thía cái giá trị đó. Hơn thế nữa, phải sống trong “nhạc pháp” (poétique de la musique) Phạm Duy, lý trí vượt ra khỏi nội dung lời nhạc – cũng không còn bị ám ảnh bởi quá khứ “đàng điếm” của “gã hát rong” họ Phạm – và tâm hồn chỉ còn đắm vào cấu trúc âm thanh của ông, ta mới thấy rõ điều gắn sâu trong nhạc cảm Phạm Duy là cái hồn dân tộc, tiếng nói dân tộc, tình tự dân tộc, nỗi khổ đau của dân tộc, biểu trưng thấp thoáng nhưng không bao giờ thiếu vắng là làng quê, giếng nước, trâu cày, con đê, những cánh đồng chiều đẹp lạ lùng với đủ âm thanh hương sắc, song cũng quằn quại lạ lùng vì cái khổ cái nhọc nhằn, cái nhục nhã vẫn bám lẵng nhẵng đến tận nay, chưa biết bao giờ mới hết. Tôi mới hiểu lý do sâu xa của việc Phạm Duy trở về mà trước đây trong email gửi ông tôi còn tỏ ra ngờ vực. Không ! Ông đúng là con người của hồn quê Việt Nam nó là cội rễ con người Việt Nam nhiều đời, ông đã trở về – theo tôi – như một định mệnh.
Điều còn lạ lùng hơn là trước một không gian âm nhạc diệu kỳ như vậy và trước một tài năng lừng lững, người xem Hà Nội ở Nhà hát Lớn tối hôm 27 tháng Ba bỗng trở nên rất “Hà Nội”, nghĩa là hết sức lịch lãm, im phăng phắc và nhiều lúc vỗ tay đến vỡ rạp, y như người Hà Nội thuở nào. Cho hay mọi nhận định về sự xuống cấp của văn hóa Hà thành cần phải xem xét lại. Vấn đề là anh đang đối diện với thứ văn hóa nào. Với cái thứ văn hóa bao cấp áp đặt người ta, làm rầm rộ lên như một hình thức tuyên truyền cho cái nằm ngoài văn hóa; “cho” người ta mà ngay người cho cũng thờ ơ, cũng ngầm chứa trong lòng sự ban phát hay khinh thị… thì người nhận cố nhiên là không ai chịu được (nói dân dã hơn là không “xực” được). Thói quen này đã ăn quá sâu vào các cấp làm văn hóa ở cái xứ rất thiếu văn hóa ứng xử trong mấy thập kỷ nay, theo tôi, đã dẫn đến một tình trạng tạm gọi là biến tướng của phản ứng tự vệ, nhiều khi “vô chính phủ”, trong đủ loại sinh hoạt đại chúng thường ngày: giao thông trên đường, vào xem triển lãm, xem biểu diễn các loại miễn phí và kể cả có khi mất tiền như xem phim (hút thuốc, ăn quà ném thức thừa xuống chân, nói chuyện ồn ào trong rạp), đi lễ hội đền chùa (lễ bái, cầu cúng, thi nhau dâng cỗ thật đắt tiền, đốt hương và vàng mã mù mịt, và tha hồ xả rác), thậm chí không ít cuộc “hội họp” và “hội nghị khoa học” quan phương nghiêm túc mà người lên phát biểu thường được gọi là người “diễn”, chỉ diễn cho hết phận sự còn người nghe thì nhấp nhổm, ngồi chưa nóng chỗ đã lần lượt ra về (hình như lớp người “biến” sớm nhất là cánh phóng viên nhà báo – mươi phút sau khi nhận phong bì hoặc quay xong chụp xong hình ảnh các “đồng chí lãnh đạo”…). Điều ấy nghĩ cho cùng không có gì lạ.
Còn đến khi người ta thưởng thức văn hóa như một nhu cầu tự thân, thật sự được trọng thị, chủ thể và khách thể hoàn toàn bình đẳng, hòa nhập vào nhau, có mối tương thông non dit ngay từ lúc nhập cuộc, thì người ta sẽ lập tức trở lại là mình. Và nếu cái “mình” ấy đã bị triệt tiêu vì một thực tế quá phũ phàng trong bao nhiêu năm, cứ ép người ta dạt vào hết “lề đường” này đến mỏi gối chồn chân trước những điều khoản “dưới luật” nọ nhiều không xiết kể, thì ít ra trong giây phút thăng hoa đột ngột, chỉ trong giây phút đó thôi tự nhiên người ta cũng không ý thức mình đang biến hóa thành một bản ngã khác. Sự chinh phục lạ kỳ của văn hóa là ở chỗ đó.
Hà Nội 28 tháng Ba năm 2009
Beethoven viết giao hưởng số 3 nhằm vinh danh Napoléon Bonaparte. Lúc đầu ông đặt tên cho giao hưởng này là “Giao hưởng Bonaparte”. Song, khi được tin Napoléon tự phong hoàng đế vào năm 1804, Beethoven đùng đùng nổi giận, cầm lấy bản thảo, xé luôn một nửa trang đầu tiên, phần có tên Bonaparte. Sau đó ông đã đổi tên giao hưởng này thành “Giao hưởng Anh hùng” vì ông từ chối dùng tác phẩm của mình để vinh danh một kẻ mà ông coi là độc tài, mặc dù ông vẫn cho phép xuất bản bản giao hưởng này với dòng chữ “Nhằm vinh danh một vĩ nhân”. Tuy nhiên, khi nghe tin Napoléon chết tại Saint Hélène vào năm 1821, Beethoven đã than: “Tôi đã viết nhạc cho sự kiện buồn thảm này 17 năm về trước.” Các nhà phê bình sau này, vì thế, tha hồ xài giấy mực để bình luận về cảm xúc của Beethoven đối với Bonaparte.
Nhạc sĩ Phạm Duy, cố nhiên, không phải là Beethoven. Đổi vài câu cho “hợp thời” thì có gì là ghê gớm? “Thế chiến quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế!”
Phạm Duy làm hàng chục loại nhạc khác nhau. Loại nào cũng một số khác thật tầm thường, nhưng cũng có bài thật hay, ngay cả những bài như “Quê Nghèo”, “Bà Mẹ Gio Linh” v.v. thuộc loại nhạc tuyên truyền, nhưng quá hay. Nhạc hay thì đổi lời nó vẫn hay. Theo tôi đổi lời theo thời thế để có thể hát hay nghe mà không sợ bị “trù ẻo” cũng còn hơn là đem chôn luôn?
Chỉ những bản nhạc phổ thơ, như những bản “Ngục Ca”, phổ thơ của “ngục sĩ” Nguyễn Chí Thiện, thì không thể đổi lời. Dĩ nhiên những bài thơ này nội dung quá “phản động” thì đời nào nhà nước CSVN dám cho phép hát. Nhưng vì đa số những bài này nhạc và lời hay quá nên tôi thấy ngay cả những người “chửi” Phạm Duy ra rả, lúc hứng chí cũng mang ra hát một cách say sưa. Có sao đâu?
Đọc những phát biểu của Phạm Duy và đọc sách của ông, nhất là các quyển Hồi ký Phạm Duy, tôi không hiểu có PD có bao giờ nói thật với lòng mình không? Trong Hồi ký Phạm Duy , nếu tôi không lầm ông nói bài nhạc Trường ca Sông Lô là ông viết… láo, chỉ có vài vệ quốc quân mà ông đã làm như có một đoàn quân anh dũng v.v., giết sạch bao nhiêu quân thù . Rồi những bài Ngục ca, Bầy chim bỏ xứ, ông có viết theo tình cảm của ông không? Và những quyển được gọi là Hồi ký Phạm Duy, bao nhiêu phần trăm là sự thật?
Nhân ông Nguyễn Huệ Chi đính chính lại về việc Phạm Duy đổi lời ca, tôi thử tìm tòi thì thấy quả là cái lời “Chiều qua gánh nước cho Vệ quốc quân” là lời cũ mà Phạm Duy đã viết ở Bình-Trị-Thiên năm 1948. Sau này vô Nam, ông đã đổi lời lại để khỏi… mất lòng Tây. Bài “Bao giờ anh lấy được đồn Tây” bị đổi lại thành “Quê nghèo”. Ở đoạn cuối bài hát có câu “Bao giờ anh lấy được đồn Tây, hỡi anh? / để cho cô con gái không buồn vì chiến tranh” đã bị Phạm Duy đổi thành “Bao giờ cho lúa được mùa luôn, lúa ơi / Ðể cho cô con gái không buồn vì gió Ðông”, v.v. Để thích ứng với chế độ chính trị, Phạm Duy đã đổi lời nhiều bài khác nữa. Ở nước ngoài, trong những năm 80, cao trào chống Cộng đang rầm rộ, ông cũng viết hàng loạt ca khúc chống Cộng, rồi đi khắp nơi để trình diễn và thu tiền. Đến bây giờ, thì ông đã xóa sạch mọi vết tích của tập “Ngục ca”, xoá sạch những “Bài ca người tử sĩ quê tôi”, “Cung khúc Võ Đại Tôn”, v.v. Thời nào, thức ấy. Thứ văn hóa ấy thì quá là “hồn quê Việt Nam” chứ còn gì!
Thưa chị/anh Lê Thúy Hà, lời hát “Chiều qua gánh nước cho vệ quốc quân / Có những o nghèo kể rằng / Quân thù về đây đốt làng” là lời cũ nhất, Phạm Duy viết lúc còn ở chiến khu kháng Pháp kia. Sau này về thành, ông mới đổi lời hát lại như chị đã dẫn, và ca sĩ Quang Linh vẫn hát đúng những lời như chị dẫn chứ không hát như tôi dẫn đâu, nhưng vốn là “con người của quá khứ” nên tôi vẫn nghe theo cái tai rất cũ, và trong khi ca sĩ hát, lòng tôi cứ vẳng lên những lời cũ kỹ ấy. Lạ thế đấy, song tôi không hề trách nhạc sĩ đã đổi lời. Vì thế tôi mới viết: “Câu này đã thay đổi chút ít trong bài “Quê nghèo” nhưng tôi vẫn nghe nhạc theo cảm thức xưa cũ”. Có lẽ cách diễn đạt không sáng rõ của tôi khiến chị/anh hiểu nhầm.
Theo ký ức của tôi, câu ““Chiều qua gánh nước cho Vệ quốc quân, Có những o nghèo kể rằng: Quân thù về đây đốt làng” có trong bài hát từ thời kháng chiến chống Pháp, chắc là khi “dinh tê” nhạc sĩ đã phải bỏ/đổi đi cho… thuận với “vùng tề”, bây giờ lại khôi phục chứ sao! Việc này hơi giống việc Nguyễn Đình Thi mấy lần thay đổi văn bản bài thơ “Không nói” mà tôi đã trình bày trong bài “Cuộc tranh chấp giữa con người nghệ sĩ và con người của đoàn thể trong thơ Nguyễn Đình Thi” đăng trên Talawas và sau đó trên tạp chí Trí Tuệ (Hà Nội)
Mặc dù biết rằng lời phản biện của Le Thuy Ha là trung thực và chính xác nhưng tôi cũng không trách văn hóa uốn lưỡi của những văn nghệ sĩ trong nước. Để đối phó với thứ văn hóa gian dối do “kẻ thổ tả” đem vào nước ta nên những tác gỉa trong nước dù không muốn nhưng phải viết để độc gỉa “đọc-giữa-những-hàng-chữ”. (Tôi chưa thấy ở bất cứ một quốc gia nào mà người viết “bắt” độc gỉa phải đọc giữa những hàng chữ của mình như ở Việt Nam… thì mới hiểu tác gỉa nói gì. Đôi khi tôi đành chịu thua để dịch những bài này ra ngoại ngữ).
Văn hóa uốn lưỡi này nó thể hiện không những ở ngoài mà còn đi luồn vào trong lương tâm con người, bởi thế có những biểu hiện ngắt cành, bẻ hoa hay đổi lời xoành xoạch (không chỉ trong bài hát) mà vẫn coi mình là có “văn hóa” như talabog đã đề cập đến trong những bài viết gần đây .
Cho nên đáng trách là “kẻ thổ tả” đã đem thư văn hóa gian dối vào nước ta để không chỉ có dân Hà thành không thôi mà Việt kiều về nước cũng phải “sản xuất” ra thứ văn hóa uốn lưỡi để sống còn.
Ông Nguyễn Huệ Chi viết: “Cho hay mọi nhận định về sự xuống cấp của văn hóa Hà thành cần phải xem xét lại. Vấn đề là anh đang đối diện với thứ văn hóa nào.”
Vâng, thưa ông, tôi tự hỏi: khi người Hà thành, trong số đó có ông, đi xem Phạm Duy, là đang đối diện với thứ văn hoá nào?
Cái thứ văn hóa khiến Phạm Duy có thể tự uốn lưỡi, thay đổi lời ca xoành xoạch để nịnh chế độ, là thứ văn hóa nào?
Chính ông Nguyễn Huệ Chi đã phát hiện lời ca trong bài “Bà mẹ Gio Linh” bây giờ biến thành: “Chiều qua gánh nước cho Vệ quốc quân, Có những o nghèo kể rằng: Quân thù về đây đốt làng”. Thế nhưng ông Nguyễn Huệ Chi lại nói lấp liếm trong ngoặc: “(câu này đã thay đổi chút ít trong bài “Quê nghèo” nhưng tôi vẫn nghe nhạc theo cảm thức xưa cũ)”
Không phải thay đổi chút ít đâu. Lời ca ấy trước kia rất đẹp:
Nửa đêm thanh vắng không một bóng trai
Có tiếng o nghèo thở dài
Vỗ về trẻ thơ bùi ngùi
Nhưng có lẽ thứ văn hóa uốn lưỡi này rất đồng điệu với dân Hà thành, nên lại được xem là sang trọng chăng?
Đọc lại bài viết để phản hồi thì thấy tác giả Nguyễn Huệ Chi có thêm một câu: “Hơn thế nữa, phải sống trong “nhạc pháp” (poétique de la musique) Phạm Duy, lý trí vượt ra khỏi nội dung lời nhạc – cũng không còn bị ám ảnh bởi quá khứ “đàng điếm” của “gã hát rong” họ Phạm – và tâm hồn chỉ còn đắm vào cấu trúc âm thanh của ông, ta mới thấy rõ điều gắn sâu trong nhạc cảm Phạm Duy là cái hồn dân tộc, tiếng nói dân tộc, tình tự dân tộc, nỗi khổ đau của dân tộc…”. Thêm như thế để có cái nhìn cho chỉn chu về nhạc sĩ Phạm Duy cũng đúng. Nhưng chỗ cần thêm mà tác giả chắc không biết, là trong đêm biểu diễn ca nhạc của mình tại Nhà hát lớn, PD đã phải đọc trên giấy từ đầu đến cuối khi dẫn chương trình chứ không được ứng khẩu như thói quen của ông; lại khi ông ký tặng người hâm mộ đang dở dang thì Nhà hát tắt điện, phải soi đèn pin để ký và chụp ảnh mò. Đó cũng là một kiểu “văn hóa ứng xử” chắc không phải của khán giả, đối với ông.
Truyền thống VN văn được trọng hơn võ, bởi vì văn hóa là sự thanh cao còn võ là bạo lực, bất đắc dĩ mới sử dụng. Nhưng trong lịch sử VN cũng như lịch sử xã hội loài người không phải lúc nào văn cũng thắng được võ.
Tôi cầu mong sao những suy nghĩ của anh Huệ Chi là sự thật :” Sự chinh phục lạ kỳ của văn hóa thứ thiệt…”. Và cũng cầu mong cho văn hoá thứ thiệt tiếp tục được nở rộ để cảm hoá thế hệ trẻ VN đang bị nhiều sự dung tục lôi cuốn quá mạnh.
Xin nói thêm : tôi tin động lực phát triển xã hội loài người không phải là đấu tranh giai cấp, mà là đấu tranh giữa thiện và ác, đấu tranh giữa sự thanh cao và sự thô tục. Cái khó cho chánh thắng tà, đạo đức thắng dã man là sự thanh cao không phải lúc nào cũng dễ dàng đem trình bày cho đa số quần chúng lãnh hội để có thể trở thành động lực phát triển, trong khi cái dung tục lại thường dễ được đa số chấp nhận nếu được hoá trang khéo léo cho ra vẻ hiện đại, hợp thời, nhưng thực sự là hướng vào bản tánh thấp hèn của con người.
Tôi thì ở xa lắc nên chỉ đọc và “cảm” cái không khí văn nghệ qua nội dung bài viết, dĩ nhiên là “cảm” qua cái tâm thức “tìm gặp lại” của tác giả.
Vào đấy, ngồi đấy, nhưng tâm thức từ đầu đã muốn tìm gặp lại cái cũ, cái vang bóng hơn là cái mới nên dung lượng “cho” hay “nhận” chỉ thuộc về người trong cuộc. Thuộc về người đi tìm.
Đợi xem, coi có người trẻ nào “nhiễm” được chuyện của “những người muôn năm cũ” không đã! Lớp bụi thời gian, đôi khi, cũng tự huyễn hoặc thêm ký ức mỗi người. Và, biết đâu, vì bị giam hảm trong cái lề trái lề phải của tư tưởng lâu quá, nên dù chỉ đôi phút “thoát” được người ta dễ ngộ nhận?
Thế mới biết “hiệu ứng nhà kiếng” không chỉ dành cho thời tiết trái đất, mà dành cho cả con người, đặt biệt cho người Việt Nam tôi!
Khi nhạc sỹ Phạm Duy quyết định hồi huơng, tôi thấy rât buồn cho ông. Bên ngoài ông bị chửi là (tái) phản bội. Bên trong thì nhạc của ông chỉ đuợc công diễn hạn chế, cho phép từng bài một. Qua anh Huệ Chi kể thì nay tôi thấy cuộc hồi hương của ông là một sự lựa chọn đúng đắn: Ông đuợc sống trên quê hương, bên cạnh hàng triệu khán giả hâm mộ. Ông đã làm cho kẻ hôm qua có thể còn đi cướp hoa, hôm nay đã trở nên lịch sự. Nhạc của ông đã đưa tâm hồn họ trở về thời tiền chiến.
Như vậy rõ ràng chúng ta không phải chờ đợi phát triển vật chất để mới có văn hóa. Chúng ta cần khôi phục lại cái văn hóa đã bị mất, mất từ cái ngày mà người ta định xây dựng con người mới bằng chỉnh huấn, chỉnh phong, bằng cải cách ruộng đất.
Đọc bài tường thuật, kèm theo nhiều cảm nghĩ riêng về các hiện tượng và tình trạng văn hóa – hệ quả của cơ chế “bao cấp-cho xin” (và nhiều nguyên nhân khác) – của tác giả Nguyễn Huệ Chi thật thú vị.
Đề tài phụ mà “nhức nhối,” về văn hóa ứng xử được đề cập trong bài, là một đề tài lớn, chắc sẽ còn được bàn thảo nhiều. Tuy nhiên, ở ý kiến này, tôi chỉ thu gọn đôi điều vào nhạc sĩ Phạm Duy và “Ngày trở về” của ông.
Đâu đó vào thập niên 1980 nhạc sĩ Phạm Duy có sáng tác một bài hát với âm điệu thật da diết, não lòng, với các ca từ sau đây:
“Một ngày năm bốn, cha bỏ quê xa
Chốn đã chôn nhau, cắt rốn bao nhiêu đời
Một ngày năm bốn, cha bỏ phương trời
Một miền Bắc tối tăm mưa phùn rơi
Một ngày năm bốn, cha bỏ Sơn Tây
Dắt díu con thơ, vô sống nơi Biên Hòa
Dù là xa đó, vẫn là quê nhà
Và miền nắng soi vui gia đình ta!
…………………………………………………..
Phải nuôi ngày sau về ôm Tổ Quốc”[1]
Cuối cùng, mơ ước ngày sau được trở về “ôm Tổ quốc,” trở về miền Bắc quê nhà của tác giả, cũng đã thành hiện thực. Cho dù phải sau hơn nửa thế kỷ những tưởng sẽ “Nghìn Trùng Xa Cách.”[2]
Tôi chỉ tiếc cho người dân Hà Nội nói riêng, và miền Bắc nói chung, chỉ được chính thức “cho phép” đến với một nhạc sĩ hàng đầu của Việt Nam, tác giả của rất nhiều bản tình ca bất hủ trong vườn âm nhạc Việt Nam, sau người anh em miền Nam đến bốn-năm thập niên.
Cũng tiếc thay, người dân Việt Nam hiện nay chỉ chính thức được cho phép hát, cùng công khai thưởng thức, có lẽ chưa tới một phần hai mươi các tác phẩm mà nhạc sĩ Phạm Duy đã sáng tác. Và vì thế “nhạc cảm Phạm Duy là cái hồn dân tộc, tiếng nói dân tộc, tình tự dân tộc, nỗi khổ đau của dân tộc” (Nguyễn Huệ Chi) đã chưa hết thảy theo chân ông kéo nhau “cùng về.”
Thôi thì, … ít và trễ, vẫn còn hơn là không.
[1] Bài “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước”
[2] Tựa một bài tình ca nổi tiếng của Phạm Duy
Tôi cho là tâm lý đám đông với người Việt là cực kỳ quan trọng, ít ai dám làm khác người khác. Nếu xung quanh ai cũng bẻ hoa cả mà mình không bẻ thì bị coi là hấp! Nếu xung quanh ai cũng lịch sự cả thì mình cũng… lịch sự. Biết đâu trong số các thanh niên nam nữ đi nghe nhạc Phạm Duy có những người vừa rồi đã đi bẻ hoa?
@ Bạn Tâm Bảo: Cái “văn hoá quý tộc”, “văn hoá thượng lưu”, thậm chí cả “văn hoá trung lưu” mới cách đây không lâu đã là đối tượng… cải tạo, để tôn vinh cái văn hoá “công nông binh”. Bây giờ, thêm vào cái “công nông binh” đó lại có “văn hoá trưởng giả” của những người mới giàu, mà lại giàu không nhờ trí tuệ và mồ hôi của bản thân, mà nhờ cảnh đục nước béo cò. Chúng ta phải chờ kinh tế phát triển đến bao giờ thì mới không còn phải xấu hổ vì những cảnh như vụ Lễ hội hoa đào? Chẳng lẽ không thể phát động một chiến dịch chống ô nhiễm văn hoá, chẳng hạn thói chửi tục luôn miệng của người Việt? TQ đã phát động chiến dịch chống khạc nhổ bừa bãi. Cũng nên học TQ lắm chứ?
Một cách lý giải về văn hóa:
Xã hội phương Tây văn minh, lịch thiệp nhờ đã từng có một tầng lớp quí tộc lâu đời với những giá trị văn hóa và qui chuẩn ứng xử cao cấp. Sau khi chuyển sang chế độ cộng hòa, tầng lớp quí tộc này hòa lẫn vào xã hội, “văn hóa thượng lưu” phát tán rộng, trở thành những giá trị bình dân.
Khi nước Nhật bước sang thời Minh Trị, tầng lớp Samurais cũng bị hòa tan vào xã hội, những giá trị văn hóa trước đây chỉ thuộc về giai cấp Samurais trở thành phổ thông, làm nền tảng cho văn hóa Nhật.
Việt Nam chưa từng có một giai cấp quí tộc, cũng chẳng có Samurais. Các triều đại phong kiến thường không tồn tại lâu, chỉ kịp để các nông dân áo vải, sau khi làm cách mạng thành công, trở thành những kẻ trưởng giả học làm sang, không kịp hình thành một hệ thống giá trị riêng.
Có lẽ cần phải có thời gian để việc tăng trưởng kinh tế kịp chuyển thành tăng trưởng về văn hóa, thì như vậy số người bẻ hoa sẽ ít đi, số người bỏ 400 ngàn đi nghe nhạc Phạm Duy sẽ nhiều hơn.