talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Nụ cười đời tỵ nạn (3)

05/02/2010 | 11:10 sáng | 1 bình luận

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Category: Thế giới
Thẻ:

(Xem kỳ 1, 2)

Hè 1987, hai thằng con tôi đi đá bóng dắt về một cháu người Việt cùng tuổi. Tôi hỏi, cháu tên gì, con ai, bảo, cháu tên T., con ông T., nhà ở phố H. Hai tuần sau, Chủ nhật con tôi đến nhà cháu, gọi điện, tôi đem xe đón.

Anh chị T., trạc ngoại ngũ tuần, thương gia Sài Gòn thứ thiệt, vượt biên 1977, được tàu Anh cứu, định cư ở quận C., anh làm nhà bank, chân book-keeper, đông con, sáu toa, lớn trên 20, nhỏ nhất 12 vẫn đang đi học. Anh chị lịch thiệp, kiến thức rộng, một trí thức thương gia, khác hẳn tay X, tay Z dân lạp sạp, cà chớn xứ Sài thành. Anh chị cũng rất bất ngờ khi thằng út đến nhà tôi. Là chủ tịch cộng đồng quận, “bỏ sót bà con đồng hương”, anh tự trách mình quan liêu. Anh hỏi, có biết gì về cộng đồng không. Tôi tủm tỉm cười, giấu biệt chuyện gặp Z, chưa nghe thấy bao giờ. Chúng tôi kể sơ qua cho nhau nghe về cuộc đào tẩu. Trước khi về, anh chị khuyên, sắp có đại hội, nhận được giấy mời, thế nào cũng phải đến cho vui.

Vui? Tôi đã ớn đoàn thể đến tận cổ. Hai mươi lăm năm (1954-1979) dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tham gia biết bao đoàn thể, hết thanh niên đến công đoàn, khoa phòng… họp hành kiểm điểm như đấu tố địa chủ. Ai đã từng là cán bộ công nhân viên chức nhà nước đều hiểu thế nào họp bình bầu lao động tiền tiến, chiến sĩ thi đua hàng năm. Chỉ vì cái danh viển vông, hão huyền, tình đồng nghiệp, bạn bè mỗi ngày một ghẻ lạnh, đấu đá lẫn nhau.

Từ ngày sang xứ tự do, chẳng bao giờ có cảnh đồng nghiệp ngồi họp bới lông tìm vết, chụp mũ, bêu giếu nhau. Ai lười biếng, đi muộn về sớm, có đốc công, manager nhắc nhở, trừ lương, xử phạt, đuổi việc, đồng nghiệp chẳng có quyền gì ngồi họp sỉ vả, phê bình người có lỗi. Nay lại tự nhiên chui đầu vào cộng đồng, dưới sự lãnh đạo như tên Z, tên X, để rồi lại bị sỉ vả, phê bình. Xí-xin hay Short circuit mới chui đầu vào rọ!

Tôi cười, thú thực không muốn bị ai lãnh đạo. Chị T., bảo, tổ chức nào cũng cần người đứng đầu, không có người điều hành đâu có được. Trước khi ra xe, nói, anh chị để tôi nghĩ xem đã.

Vợ chồng chú Th., khuyên, anh cứ đến, đại diện cho dân Bắc mình, vui, chúng em theo, không vui, té, ai bắt bò đâu mà lo. Mình vào để quen bà con, đâu có cần thông ngôn, phiên dịch. Tháng 10-1987, vợ chồng tôi đến dự đại hội theo giấy mời. Thật bất ngờ, bà con đến rất đông, người miền Bắc chiếm hơn ½. Anh T. đề cử tôi vào chức Tổng thư ký, lý do, ông Tổng thư ký cũ cáo bệnh, xin từ chức. Bất ngờ hơn nữa, tôi trúng chân Tổng thư ký với số bầu gần tuyệt đối. Màn bầu cử độc diễn làm gì mà chả trúng! Phiếu cao là phải!

Ban điều hành (Ban chấp hành) gồm chủ tịch, phó chủ tịch, tổng thư ký, tài vụ và 8 ủy viên. Gọi Tổng thư ký cho oai, mình tôi là thư ký, chứ có 2 hay 3, 4 vị gì cho bõ danh tổng. Hồ sơ giấy tờ bàn giao chẳng có, ngoài danh sách 40 hộ gia đình người Việt định cư trong quận. Danh sách này ai cũng có, chả cứ gì tôi. Mọi công văn giấy tờ có anh G., người làm full time cộng đồng nắm giữ. Tôi chẳng làm gì, ngoài mỗi tháng dự họp, ghi chép ý kiến cuộc họp giao cho anh G. Chấm hết.

Tôi đã từng giữ chức thư ký Hội đồng giám định y khoa và khám xét thương tật từ 1971 đến 1978 (2 khóa) của tỉnh H. Công việc rất bận, tổ chức khám xét, tổ chức họp Hội đồng xét duyệt, viết và gửi kết quả giám định tới cá nhân và cơ quan đương sự, lưu trữ hồ sơ… bận tối mắt. Năm 1978, tình hình Việt – Trung ngày càng tồi tệ, Ty công an phát hiện tôi người Việt gốc Hoa, cuối năm 78, tôi bị loại khỏi khóa 3.

Trước kia, Hội đồng do Ty y tế đảm nhiệm, sau nhiều năm, chất lượng khám xét kém hiệu quả, nhiều thắc mắc, khiếu nại. Nguyên nhân, Ty Y tế không có đội ngũ y bác sĩ nhiều kinh nghiệm, không có cơ sở phi lâm sàng (xét nghiệm, x-quang…) và các chuyên khoa Tai Mũi Họng, Răng Hàm Mặt, Mắt, Sản, Ngoại… Từ năm 1971 chuyển sang Bệnh viện tỉnh đảm nhiệm, Giám đốc Bệnh viện kiêm chủ tịch Hội đồng, thành viên hội đồng gồm: 4 bác sĩ trưởng phó khoa, (kiêm nhiệm, vẫn thuộc biên chế bệnh viện), trưởng Ty Y tế, trưởng Ty Lao động & Thương binh Xã hội, ủy viên thường trực UBHC tỉnh.

Tám năm làm ủy viên thường trực kiêm thư ký HĐGĐYK & KXTT của tỉnh, có một chuyện trên đe dưới búa đến nay tôi vẫn không quên. Đó là trường hợp chị Nguyễn thị T.

Sáng sớm hôm đó, sau giao ban trưởng phó khoa, giám đốc kiêm chủ tịch HĐGĐYK vẫy tay ra hiệu bảo tôi ở lại. Phòng vắng, ông đến gần, nói nhỏ:

“Hôm qua anh Đ. bên tổ chức tỉnh ủy gọi điện báo, sáng nay cô T. đến khám giám định đấy. Chuyện này phức tạp. Ông liệu thế nào thì làm, đừng để cháy thành vạ lây”.

“Vâng, em sẽ lưu ý. Anh yên tâm.”

Vừa bước vào phòng giám định, chuông điện thoại reo, cầm máy, tôi hỏi:

“A-lô, ai đấy?”

“Anh M. phải không? Tổng đài đây”.

“Vâng, tôi là M. đây.”

“Anh cầm máy nhé, có bác Đ. bên Tổ chức tỉnh ủy muốn gặp.”

“Vâng, xin chào bác Đ. Tôi là M. đây.”

“Anh A., trao đổi gì với anh chưa?”

“Dạ, đã.”

“Anh cứ giải quyết theo hướng ấy nhé.”

“Dạ, hướng gì ạ?”

“Chứng nhận sức khỏe bình thường ấy.”

“Dạ, nếu các xét nghiệm trả lời tốt, chúng tôi sẽ làm theo ý anh.”

“Không được, tôi đã trao đổi với anh A. rồi. Cứ thế nhá”.

Máy cúp. Tôi ngẩn người. Chuyện gì đây? Tại sao ông Đ. lại chỉ thị oái ăm như vậy? Phải có uẩn khúc gì chứ? Một phó ban tổ chức tỉnh ủy, ho ra khói, thét ra lửa mà phải trực tiếp trao bóng vào chân người khác? Giở đống hồ sơ và danh sách người sẽ đến khám do các cơ quan gửi tới. Nguyễn thị T. 38 tuổi, cấp dưỡng, Ban tổ chức tỉnh ủy. Hồ sơ vẻn vẹn chỉ có thế.

Lịch khám, tuần hai ngày, thứ Ba và thứ Năm. Công việc khám giám định như sau:

– Sáng, lập hồ sơ, viết giấy làm các xét nghiệm, x-quang, khám các chuyên khoa…

– Chiều, chuẩn bị hồ sơ, ban giám định gồm 3 bác sĩ ủy viên và tôi. Khám xong thống nhất ý kiến, ghi kết luận, chờ ngày họp HĐ, lấy ý kiến tập thể xét duyệt.

Thứ Hai tuần đầu của tháng, triệu tập các ủy viên HĐ họp, tôi trình bày kết quả khám. Tôi chưa bị một sức ép nào của bên chính quyền giải quyết chuyện chuyên môn. Phải nói, chúng tôi làm việc hoàn toàn khách quan theo nghiệp vụ. Ấy thế, đầu năm 1972, có “chỉ thị” của ông Đ. phó Ban tổ chức tỉnh ủy, trái lệnh có thể lôi thôi to. Người ảnh hưởng đầu tiên là ông chủ tịch kiêm giám đốc bệnh viện, một người bác sĩ tài hoa và nhiều tham vọng trên con đường danh vọng, rồi đến tôi, ủy viên thường trực kiêm thư ký HĐ, người trực tiếp thay mặt chủ tịch chịu trách nhiệm tổ chức khám xét.

Cô y tá phòng đón tiếp, gọi:

“Số 5, mời vào”.

Người thứ 5 chính là Nguyễn thị. T. Một người phụ nữ nhìn bề ngoài phải trên 40, già trước tuổi, da ngăm đen, mặt rỗ chằng chịt, cằm bạnh, lông mày rậm, trông dữ tướng, tay cầm giấy giới thiệu, tay xách làn mây như người đi chợ, bước vào. Nét mặt căng thẳng, nhìn tôi chằm chằm, đôi mắt rực lửa, căm phẫn. Chị như thùng thuốc nổ, ánh mắt sẵn sàng tóe lửa châm ngòi. Thông thường, người đến khám giám định, gặp tôi, bao giờ cũng nở nụ cười cầu tài, chào lễ phép. Chị T. lại khác, không nở nụ cười làm quen, mặt mày bặm chợn, sẵn sàng thua đủ. Nhìn thoáng, tôi hiểu, chị là quả bom không hẹn giờ, ít ra cũng là thùng thuốc súng, ánh mắt kia sẵn sàng phát hỏa. Hơi chột dạ, tôi cố giữ nét mặt vui vẻ:

“Mời chị ngồi.”

Chị vẫn chằm chằm nhìn, không thân thiện. Tôi mời lần nữa và giơ tay ra hiệu chỉ vào chiếc ghế đối diện. Chị từ từ ngồi xuống, đưa giấy giới thiệu cho tôi. Xem giấy xong, tôi lấy hồ sơ, cầm bút, bảo:

“Chị cho tôi làm thủ tục lập hồ sơ.”

Chị vẫn im lặng, ánh mắt không thiện cảm. Tôi nói tiếp:

“Khi tôi hỏi, có thế nào cứ khai hết, nếu có đơn thuốc, giấy ra viện cũ, tôi sẽ ghi lại đầy đủ và trả lại chị, không giữ đâu.”

Khai xong, xem tất cả giấy xét nghiệm, x-quang và giấy xuất viện cũ, chị T. đang mắc chứng bệnh hiểm nghèo, cần phải chữa bệnh lâu dài, cái chết đang gần kề: Suy gan. Tôi quyết định cho chị làm lại xét nghiệm chức năng gan, máu, nước tiểu, X-quang tim phổi-gan (chưa có siêu âm)… để lập hồ sơ bệnh án.

Chuyện phức tạp đây. Tôi tự nhủ. Ông Đ. phó ban tổ chức tỉnh ủy yêu cầu HĐGĐYK xác nhận chị T. sức khỏe bình thường. Tại sao như vậy?  Lời bác sĩ Viện trưởng, dặn, “Đừng để cháy thành vạ lây”, ám ảnh. Làm sao đây?

Thông thường, sáng lập hồ sơ, cho làm tất cả các xét nghiệm; chiều 3 ủy viên trong HĐ khám, nhưng chiều hôm ấy tôi mời thêm bác sĩ trưởng khoa Lây, một cuộc khám xét bất thường, gồm 5 bác sĩ. Trước khi khám, tôi trao đổi về cú điện thoại của ông Đ. ban sáng.

Đúng như dự đoán, chị T. mắc bệnh suy gan, cần được điều trị, điều dưỡng lâu dài. Chúng tôi không thể kết luận: Sức Khỏe Bình Thường, theo chỉ thị của ông Đ. Lương tâm và trách nhiệm không cho phép làm theo ý kiến chỉ đạo của phó ban tổ chức tỉnh ủy, người nắm sinh mạng chính trị tất cả cán bộ công nhân viên chức trong đó có chúng tôi.

Khám xong, tôi bảo:

“Chị đợi ngoài, chúng tôi hội ý xong, sẽ mời chị vào.”

Đây là trường hợp ngoại lệ. Thông thường, khám xong tôi bảo, đợi kết quả trong vòng một tháng gửi về cơ quan.

Tất cả chúng tôi nghĩ lung lắm, bàn đi tính lại, không biết giải quyết thế nào. Lương tâm không cho phép, trái ý ông Đ. chắc chắn chúng tôi sẽ ngấm đòn. Một ý nghĩ lóe ra, sao không trao “quả bom” này cho HĐGĐYK Trung ương tháo ngòi. Tôi bảo:

“Chúng ta gửi lên HĐ Trung ương giải quyết. Tiện cả đôi đường, các anh nghĩ sao?”

Bác sĩ Đ. trưởng khoa Ngoại:

“Ý cậu M. phải đấy.”

Tất cả chúng tôi thở phào nhẹ nhõm.

Tôi ra cửa:

“Xin mời chị T. vào.”

Ngồi xuống ghế, mắt chị vẫn rực lửa, ngực chị ưỡn ra, chuẩn bị cuộc chiến. Nhẹ nhàng, tôi nói:

“Thế này chị T. ạ, Hội đồng chúng tôi không đủ khả năng xét nghiệm tìm ra bệnh của chị, chúng tôi thống nhất ý kiến, gửi chị lên HĐGĐYK Trung ương ở Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, khám và kết luận tình trạng bệnh tật của chị. Ý kiến chị thế nào?”

Ánh mắt chị dịu lại, nét mặt vui hơn, bảo:

“Em cám ơn các bác sĩ, em đồng ý đi Hà Nội kiểm tra.”

Tôi ghi giấy giới thiệu, bảo:

“Hồ sơ khám hôm nay tôi sẽ chuyển bằng đường bưu điện. Khi nào có giấy của Bạch Mai, chị cầm theo giấy giới thiệu này đến khám.”

Chị đứng dậy, nét mặt tươi hẳn. Chúng tôi thở phào, tí nữa quả bom nổ ngay phòng Hội đồng còn ra thể thống gì nữa.

Tôi thảo ngay công văn, gửi ủy viên thường trực kiêm thư ký HĐGĐYK Trung ương, kèm hồ sơ bệnh án của chị T. giao phòng hành chính đánh máy, chuyển thư.

Gần năm giờ chiều, chủ tịch HĐ gọi điện hỏi. Tôi bảo:

“Em gửi đi HĐGĐYK Trung ương rồi, thành an toàn tuyệt đối, anh yên tâm. Sáng mai, sau giao ban, em sẽ báo cáo chi tiết.”

Gần một năm sau, một chiều Chủ nhật, đang cho con gái ăn, chị T. đi vào ngõ, đứng ngay cửa nhà tôi, tay cầm nón, tay xách cái làn, cười, hỏi:

“Bác sĩ nhận ra em không?”

Trời, làm sao mà chẳng nhận ra. Một quả bom từng làm cho ban giám định của chúng tôi đau đầu. Tôi cười, gật đầu, nhận ra chứ. Chuyện này, ông Đ. không hài lòng, nhưng chẳng có lý do gì “đì” chúng tôi, còn ông chủ tịch vui lắm, tránh được mũi tên hòn đạn, không làm phật ý cấp trên, ghế ông ngồi vẫn vững.

Tôi mời chị vào nhà, hỏi:

“Sao chị biết nhà tôi?”

Cười, bảo:

“Tìm nhà anh dễ ợt.”

Vợ tôi pha chè, mời khách. Chị lấy gói bánh bích quy và gói kẹo Hải Châu trong làn mây, nói ngay:

“Em ở Hà Nội về, có chút quà cho cháu, không đút lót anh đâu mà phải từ chối”.

Đi về phía con tôi đang bám thành giường, giúi vào tay, nó mới hơn 1 tuổi. Chịu, không thể chối từ, vì con tôi gái tôi thích quá, cầm chặt lấy, cười toét miệng. Tôi bảo:

“Ạ bác chưa mà dám nhận”.

Nó khoanh tay, ạ thật to. Cầm chén đưa lên miệng, nhấm một ngụm, chị tươi cười:

“Hôm đến khám, em ghét anh lắm, nghĩ anh về hùa lão Đ., hôm ấy mà lôi thôi, em cho anh một trận tơi bời khói lửa. Đời em tàn rồi, sợ gì ai”.

Nói xong, mắt chị ánh lên nỗi buồn. Lảng sang chuyện khác, tôi hỏi:

“Đi khám ở Bạch Mai kết quả thế nào?”

Hỏi thế thôi, chứ bác sĩ Kh. đã gửi công văn và kết quả khám cho tôi từ mấy tháng trước.

“HĐ Trung ương cho em nghỉ điều dưỡng 6 tháng, cấp cả thuốc nữa. Bệnh em cũng đỡ nhiều.”

Nét mặt vui trở lại, nói to:

“Cũng nhờ các anh đấy.”

“Chết, chúng tôi có giúp gì đâu.”

“Em biết tay Đ. bắt các anh chứng nhận em không có bệnh tật, buộc em nghỉ việc theo chế độ giảm biên theo chỉ thị 28 của ông Đỗ Mười[1].”

Chị kể cho tôi lý do vì sao bị B.V. Đ, phó ban tổ chức tỉnh ủy ghét. Chị làm liên lạc từ kháng chiến chống Pháp, hòa bình lập lại, văn hóa kém, không nghề nghiệp, chuyển sang làm cấp dưỡng trong Ban tổ chức tỉnh ủy, đảng viên cộng sản, một người trung thực, họp chi bộ ai sai, tham nhũng, lợi dụng đưa người nhà vào cơ quan, chuyện bao che, bè phái… của ông Đ., chị tố hết. Đuổi việc vô cớ không được, nhân nghị quyết 28/TT, ông Đ. buộc chị T. thôi việc theo chế độ giảm biên chế. Chị đang ốm, muốn thế, phải thông qua HĐGĐYK, cơ quan quyền lực cao nhất về y tế của tỉnh, chứng nhận chị khỏe mạnh, như vậy ông Đ., nhờ bàn tay chúng tôi, nhổ được cái gai, phủi tay, vô can.

Chị kể, đơn tố cáo, địa chỉ gửi có cả văn phòng Quốc hội, đích danh tên ông Trường Chinh. Lại che miệng, chị cười, kể tiếp, trong đơn em viết, “Nếu ông không giải quyết, xin ông cho tôi được vào Nam đánh đĩ, sống nốt cuộc đời bệnh tật của tôi theo điều luật số… của Hiệp định đình chiến”. Tôi hỏi, sao chị liều thế. Anh chị tính, chồng con không có, cha mẹ anh em cũng không, tứ cố vô thân, sợ gì. Thế sao nữa? Em được gặp ông Trường Chinh với ba ông nữa, sau khi nghe em tố, ông Trường Chinh ghi vào góc đơn của em, “Chuyển chủ tịch tỉnh xem xét, giải quyết, báo cáo văn phòng Quốc hội”. Em về, vào ngay UBHC tỉnh, lính gác không cho vào, em xòe thư có chữ ký và dấu của ông Trường Chinh, đe: Mày to hay ông Trường Chinh to? Tao có giấy về gặp ông chủ tịch tỉnh đây. Có cho vào hay không, thì bảo. Chị lại che miệng, cười, chắc mặt em bặm trợn, cậu gác sợ, cho em vào. Tôi cười, “Hôm gặp chị, tôi cũng sợ, huống chi cậu gác cổng U.B”. Thế sao nữa? Hôm ấy ông chủ tịch H. đi họp vắng, mệt quá em nằm ngay trên bàn làm việc của ông, đánh một giấc. Ai nói gì em đều đưa ông Trường Chinh ra dọa. Lại cười, thế mà nhiều người sợ. Trưa, xuống nhà ăn, thấy 1 xuất cơm đậy lồng bàn, em nghĩ chắc phần cơm ông H., em ngồi ăn liền, vừa ăn vừa bảo, ông Trường Chinh dặn tôi về gặp ông chủ tịch giải quyết, không có ông, đói, tôi ăn xuất cơm của ông. Cả văn phòng U.B chẳng ai nói gì, tất cả thì thì thào thào, chỉ chỉ chỏ chỏ, em cóc cần. Đợi cả ngày không gặp, em đành phải nộp giấy rồi về. Cười, nói tiếp, nghĩ lại, em cũng quá quắt thật.

Đời là thế, con giun xéo lắm cũng quằn. Vua thua người liều. Chị đi điều dưỡng 6 tháng trước khi nghỉ chế độ mất sức lao động. Chị hài lòng, hỉ hả lắm. Từ đó tôi không gặp lại chị.

Đi học tôi có thói quen bao giờ cũng ngồi bàn đầu, lý do nghe rõ, tập tung tư tưởng, ngồi cạnh tôi, Dennis, người Ấn, 21 tuổi, sinh trưởng Lục địa Đen, Kenia, nhưng có giọng Anh ngữ rất chuẩn. Không ngờ cậu ta thuê nhà cùng phố, cách khoảng 300 mét. Chủ nhà người Ấn, xem ra tên này còn đểu giả, ma cô hơn thằng J. chủ nhà cũ của tôi. Tất cả thư từ D. phải nhờ địa chỉ người quen ở rất xa, chủ nhà không cho sử dụng địa chỉ, sợ bị lộ lậu thuế. Tôi giúp D., có thư, đi học tôi đưa hay gọi điện đến lấy.

Một lần có 2 thư Ấn Độ, tôi hỏi, có bao giờ bên quê viết thư xin tiền không? Có chứ, năm nào cũng gửi, hai năm nay thì không. Mẹ góa con côi, thuê 2 single bedrooms, 40 bảng/tuần, tiền trợ cấp học 68 bảng/tuần, tiền nhà, tiền điện, tiền nước gần hết, ăn còn chưa đủ lấy đâu ra cho. Ấy thế, chả biết ai xui khôn xui dại, năm 1992, cậu ta về Ấn Độ lấy vợ. Gánh nặng bà mẹ trả chưa xong, nay cậu ta gánh thêm trên vai, biết bao giờ trả hết!

D. kể, khi đăng ký kết hôn tại Lãnh sự quán Anh ở Ấn Độ, D. phải trình giấy báo đóng thuế thu nhập. Về nhà, ông bố vợ gọi ngay D. ra mắng. Sao ngu thế, nộp gì mà nộp đến gần 5 ngàn bảng tiền thuế, số tiền này nhà ông ăn mấy năm chưa hết. Nói thế nào ông bố vợ cũng không hiểu, trước khi về London, ông dặn, chuyện cũ lỡ rồi, nhưng từ nay về sau, phải trốn thuế, tiền ấy gửi về cho gia đình ông, nhớ chửa? Vừa kể, D. vừa  lắc đầu, chịu ông bố vợ gàn.

Sáu tháng sau, đón được vợ sang, mỗi lần đi siêu thị, mua gì vợ cũng ngăn, chê đắt, xúi, gửi tiền về quê, thày mẹ mua gửi sang, rẻ hơn nhiều. Tiếng Anh không biết, nghề làm ruộng ở London không ai thuê, D. đi làm nuôi mẹ già, vợ dại và nuôi cả gia đình bố vợ, gánh nặng này quá sức.

Người Ấn Độ định cư ở Anh khá đông, dân số trên dưới triệu người, đông nhất ở các thành phố London, Birmingham, Bradford, Luton… nhưng không có nghĩa trang hay mồ mả người Ấn, tại sao vậy? Họ có phong tục hỏa thiêu, tro hỏa táng, người khá giả đến mùa lễ hội, đem về rải sông Hằng Hà, người nghèo rải xuống sông nơi ngụ cư, người định cư London rải xuống sông Theme.

Từ năm 1992, người Việt ở Anh bắt đầu về Việt Nam lấy vợ. Gần khu tôi có anh chàng độc thân tuổi hơn 30, người miền Trung, vượt biên năm 1978, sau hơn 10 năm làm chui lậu thuế, hòm hòm số tiền hơn 10 ngàn bảng. Năm 1993 về Việt Nam thăm gia đình.

Cả họ mạc, làng trên xóm dưới mừng lắm, ai đến, Tr. cũng biếu ít 50 đô, nhiều 1 hay 2 vé. Tr. là ông hoàng quê nhà, là công tử Bạc Liêu. Anh đưa cả họ ra Huế, Sài Gòn chơi, thăm thành phố. Trước khi đi, gia đình mối lái cho một cô xinh nhất xã, ông bố vợ tương lai giữ chức chủ tịch, lấy được con ông, đố ai dám xỏ xiên, dám bảo con rể ông, thằng ngụy quân vượt biên năm xưa, ông cho ra bã.

Năm sau, Tr. hòm hòm được hơn ngàn bảng, về quê cưới vợ. Thư báo trước, hai họ ra tận phi trường Tân Sơn Nhất đón, Tr. mừng và hãnh diện lắm. Chuyện cưới xin, ông bố vợ chuẩn bị rất chu đáo, ông đặt nhà hàng tiệc cưới, thuê ô-tô đón dâu, quần áo sang trọng, cỗ bàn vài chục mâm… chuẩn bị sẵn sàng ở Huế, chỉ chờ Tr. về là xong. Cưới xong, bố mẹ Tr, ghé tai, chi phí tất cả hơn 10 ngàn đô, bên ông nhạc vay hết đấy, con lo liệu mà trả cho ổng.

Tr. méo mặt, ôm eo vợ mới cưới, cười gần như mếu, mắt ươn ướt, lấy đâu ra tiền bây giờ! Bố mẹ vợ tưởng Tr. cảm động, mừng chảy nước mắt, có ngờ đâu nó sợ món nợ ngập đầu, bao giờ trả xong. Hơn 10 năm làm chui lậu thuế mới dành được mười ngàn bảng, chi tiêu, biếu gia đình, bạn bè, họ mạc, về London trắng tay. Năm nay về cưới, nghĩ cỗ bàn trong xã, tốn kém ngàn đô là cùng, ai ngờ 10 ngàn, vặn răng bán cũng không đủ!

Hai năm không đón được vợ. Tiền đâu mà đi, mà đón, dành dụm được bao nhiêu gửi về Việt Nam trả nợ chưa xong.

Bác Ch. vừa có cô cháu, con cậu em sang “du học”, đi đâu bà cũng khoe, đẹp gái, nết na và không quên tìm người mối lái. Học chưa hết phổ thông cơ sở (cấp 2), du học cái con tiều, nộp tiền một term gần 700 bảng (lấy visa), học được một tuần, ở nhà (du) học nghề may. Gần đấy có cậu thợ là (ủi) làm chui xưởng may, lĩnh trợ cấp thất nghiệp, tuổi gần 35, chức đại úy phòng không… vợ, mắc bệnh “đít mọt” nặng, nghe ông bà Ch. giới thiệu, bập liền. Tháng sau, bố mẹ cô gái từ Hà Nội bay sang. Cưới xong, tiền mừng đám cưới, bố mẹ vợ xin tất. Thanh toán nhà hàng gần 5 ngàn, đau hơn hoạn. Lấy nhau 4 năm, đẻ hai đứa con, vợ giao hẹn, khi nào có “bát bốn” (passport) sẽ đem con về thăm ông bà ngoại. Thỉnh thoảng thư Việt Nam gửi sang kể khổ, gặp vận xui, ốm đau, tai nạn… gửi tiền khẩn cấp. Một lần, bill điện thoại, gần 700 bảng/quý, anh chàng tá hỏa, tưởng B.T nhầm, ai ngờ xem tờ giải trình, cô vợ ở nhà rỗi việc, “nấu cháo điện thoại”. Anh chồng nổi điên, đập tan điện thoại. Chỉ mặt, từ nay miễn gọi, miễn thư từ, cấm tiệt, hiểu chửa.

Phong trào du học, du lịch, thăm thân nhân… của các cô gái ở Việt Nam đổ xô sang London như đi Lễ Hội Tìm Chồng. Du học con khỉ, cô nào hành lý cũng có giấy chứng nhận độc thân, chưa chồng, kè kè bên hông. Nhà tôi có hai thằng, thường xuyên có người gọi điện mối lái. Một lần, gia đình ông bà T., chỗ thân tình cùng dân Hải Phòng, vừa về Việt Nam, mời đến chơi. Bà vợ khoe ảnh cô cháu gái, bảo, con này ngoan lắm, chịu thương chịu khó, cô chú xem đi, ưng không? Dở hơi! Con trai tôi đang học đại học, còn ăn bám, tự nhiên gánh của nợ, nuôi báo cô nó, lại còn cả gánh họ nhà nó. Có điên mới dính của nợ ấy! Tôi giỡn:

“Cháu gái xinh thật, thế cháu làm gì ở Việt Nam?”

“Ấy nó mới 18, ở nhà giúp bố mẹ.”

“Chắc cháu cày cấy giỏi lắm nhỉ?”

“Còn phải nói, mấy sào tay nó cấy, gặt cả đấy.”

Tôi khen:

“Ai lấy cháu thật may mắn, ruộng vườn chả phải lo.”

“Cô chú ưng ý rồi hả?”

Tôi cười:

“Chết, nhà tôi có ruộng vườn gì đâu mà dám nhận cháu làm dâu. Tôi nói, nhà ai nhiều ruộng, vườn rộng, chứ nhà tôi mấy đời cày đường nhựa làm gì có ruộng.”

Một chị ở Slough gọi điện hỏi thăm, chị giới thiệu có cô cháu gái ở Tiền Giang sang du học, sắp hết hạn, hai thằng con cô chú đã có đám nào chưa. Dạ, chưa. Thế hả. Chị quảng cáo một lô-xích-xông về cái đẹp, cái ngoan, cái giỏi của cô cháu gái người Tiền Giang, đã đẹp người lại đẹp nết. Nếu ưng, chị đứng ra, thay mặt vợ chồng cô em gái ở quê gả cháu cho.

Tết Nguyên Đán 1993, đến thăm nhà vợ chồng V., có thằng cháu con bà chị gái vợ ở Quảng Ninh, sang (du) học đưa hàng may, ngồi ăn cơm, vợ V. gạ:

“Anh chị có định làm thông gia với bà chị gái em không? Đấy thằng cháu con bà chị, sang du học. Ngoan, chịu khó, biết điều lắm”.

Thằng cháu được thể:

“Dạ, cháu cũng chờ xem có cô nào ỉa đái, đấy ạ”.

Trời đất, con gái tôi đang học đại học y khoa, sắp ra bác sĩ, lại gả nó cho thằng sống lủi, làm nghề đưa hàng may chui, ăn nói mất dạy như thằng này? Thế có điên tiết không chứ! Ngu hết thuốc chữa!

Một hôm, có gia đình ở East Ham gọi điện, hỏi, biết cậu nào chịu kết hôn thuê không. Có cô cháu con em gái, sang du học, sắp hết hạn, biết ai hỏi hộ. Cố giúp nhá!

Toàn quân dở hơi, chập giây. Chơi với bọn này ế cả mặt. Tuần sau, đổi số điện thoại.

Từ đó, gia đình tôi ăn ngon ngủ yên, bye bye những chuyện khùng của những kẻ điên.

© 2010 Lâm Hoàng Mạnh

© 2010 talawas


[1] Tháng 7-1971, Đỗ Mười, phó thủ tướng ký thông tư 28/71/TT, giảm biên chế cơ quan hành chính sự nghiệp. Thông tư này gây lộn xộn, mấy đoàn kết. Một cuộc thanh trừng, đấu đá, bè phái nổ ra trong tất cả các cơ quan từ trung ương đến địa phương, gây bất ổn. Sau này thông tư này phải hủy.

Bình luận

1 bình luận (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Nụ cười đời tỵ nạn (3)”)

  1. Thanh Nguyễn viết:

    Lại được tiếp tục “xem phim” của ông Lâm Hoàng Mạnh. Thank you!

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>