talawas blog

Chuyên mục:

Hoàng Vũ Thuật – Cô đơn thuộc phạm trù cái Đẹp (1)

18/12/2009 | 2:00 chiều | Chức năng bình luận bị tắt ở Hoàng Vũ Thuật – Cô đơn thuộc phạm trù cái Đẹp (1)

Tác giả: Hoàng Vũ Thuật

Category: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ:

Người thực hiện: Nguyễn Đức Tùng

talawas – Bài phỏng vấn nhà thơ Hoàng Vũ Thuật mới được tác giả Nguyễn Đức Tùng thực hiện gần đây, in trong tập Thơ đến từ đâu của Nhà xuất bản Lao Động hiện đang được giới quan tâm chú ý. Bài này không thuộc về loạt bài “Thơ đến từ đâu” trên talawas bộ cũ. Được sự đồng ý của các tác giả, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn bài phỏng vấn này.

________________

Nguyễn Đức Tùng:

Những con chim sẻ bay về phương Bắc

Anh một mình lên phương Nam

Nơi có hồ nước mắt em ngăn ngắt xanh

Thơ đầy nhạc tính, một thứ nhạc tính mới. Đứng giữa hai bờ lãng mạn và siêu thực. Quan trọng hơn, giữa cổ điển và cách tân. Những nhà thơ di động giữa hai phía mới và cũ như thế có nguy cơ “nửa vời” không, về mặt thi pháp, thưa anh?

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật

Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật

Hoàng Vũ Thuật: Rất vui được trò chuyện với anh Nguyễn Đức Tùng.

Khi ta đang ngồi, lập tức có thể chạy, mà không có động tác đứng dậy, điều gì sẽ xảy ra? Giữa tối và sáng bao giờ cũng có giai đoạn chuyển tiếp, không hẳn tối, không hẳn sáng. Trong mỗi bài thơ lãng mạn vẫn có những câu siêu thực. Cũng như vậy, trong bài thơ cổ điển vẫn bắt gặp những câu thơ rất hiện đại. Trong chừng mực nào đó, sự chuyển hóa là điều hiển nhiên, nó không làm hỏng bài thơ, có khi giúp người đọc nhận ra bước đi của người viết, như một dấu hiệu của sự thay đổi thi pháp.

Tuy vậy, di động giữa hai phía cũ và mới đối với một nhà thơ không diễn ra một cách dễ dàng. Có người ủng hộ cách tân, muốn cách tân thơ mình nhưng không thành công. Giống như họ mới ủng hộ xu hướng, trong khi họ chưa đủ tâm thế và điều kiện để làm nên bài thơ hiện đại. Như vậy, tâm thức sáng tạo mỗi người định đoạt số phận mỗi bài thơ họ làm ra. Cũng có người đạp đổ, lật nhào tất cả, kiểu Trần Dần với ý thức dứt khoát “chôn Thơ Mới”. Trường hợp này xảy ra rất rõ trong nghệ thuật kiến trúc hiện đại, họ không muốn pha tạp, “nửa vời”. Tôi cho hiện tượng sau ít hơn hiện tượng trước, nhất là đối với thơ, anh Nguyễn Đức Tùng ạ.

Nguyễn Đức Tùng: Có một nỗi ngậm ngùi trong thơ anh làm tôi xúc động. Đọc, tôi biết là nó chân thật. Nói thế là vì trong nghệ thuật nói chung, thật ra cũng có những thứ không chân thật. Xin nhà thơ cho nghe một trong những bài mới nhất mà anh vừa ý?

Hoàng Vũ Thuật: Đây là một bài mới của tôi:

K

mưa đầy lên nửa khuya

đổ thác mái nhà

rét lùa trong ống xương tê dại

gió gào thét rừng cây chao đảo

đôi cánh tay nhàu

lá héo đan nhau

đừng buồn k ơi

rồi gió sẽ đổi chiều rồi mưa sẽ

ngưng rồi trời sẽ

ấm

liệu chúng mình còn sống được tới hôm sau

bốn bề núi và núi

bốn bề đá và đá

bốn bề suối và suối

sương âm u run rẩy bốn bề

trái đất chật chội thế này ư

chiều qua nắng đỏ rực

đột ngột mùa đông quay lại giữa hè

chạy trốn mãi bao giờ thì thôi không chạy trốn nữa

cõi phật từ bi

sao nỗi cô đơn kéo dài vô tận

biết nói thế nào với k

ba vạn chín nghìn bậc ta chưa hết một nghìn

thôi ngủ đi ngày mai biết đâu rồi khác

ta gõ tiếng chuông cho số kiếp lạc loài

mây trắng chở về miền thiên hư

ngủ đi ngủ đi k

đàn bướm ngoài kia đã ngủ

ngọn nến vàng rũ xuống từ lâu

mặt trời cuộn tròn đêm

trắng

4/6/2009

“K” là tên bài thơ. Ngay sau khi ra mắt với bạn đọc, tôi nhận được nhiều cuộc điện thoại và tin nhắn chúc mừng. Có người bảo K là tên một nhân vật thứ hai, ngoài tác giả? Lại có người bảo K chính là tác giả, một cuộc đối thoại nội tâm? Tôi cám ơn Tiến sĩ Trương Đăng Dung, nhà văn Hoàng Minh Tường nhà điêu khắc Phan Đình Tiến, nhà thơ Giang Biên và nhiều bạn bè đã chia sẻ. Tôi bảo K là ai cũng được. Trong tác phẩm của F. Kafka cũng có nhân vật K, biểu tượng của sự cô đơn nữa đó. Hiểu thế nào cũng được, phải không các bạn?

Nguyễn Đức Tùng: Bài thơ trên đây có giọng u hoài nhưng trầm tĩnh, có ngôn ngữ đẹp, có nhạc tính. Giọng buồn man mác có phải là chất giọng chính của thơ Hoàng Vũ Thuật không?

Hoàng Vũ Thuật: Tôi nghĩ không ai có thể lựa chọn cho mình một giọng thơ, để song hành với cuộc đời nghệ thuật. Sông có khúc, người có lúc mà. Cứ viết, hà tất sẽ có giọng. Số phận, tính cách, bản ngã sẽ lựa chọn cho mình giọng điệu.

Biết thế, nhưng không hiểu vì sao tất cả những người đọc thơ tôi đều cảm nhận một nỗi buồn trĩu nặng, man mác như anh nhận xét.

Thái Doãn Hiểu viết hẳn một chương trong một bộ sách của ông: “Hoàng Vũ Thuật với những câu thơ đẹp như nỗi buồn”. Số phận đã mặc định rồi chăng? Khi tôi muốn quẫy đạp, chạy trốn nỗi buồn, thì dường như cái sợi dây vô hình càng thít chặt lại:

nhưng sợi dây vẫn chờ lơ lửng

quanh cổ nhà thơ

thít dần thít dần

chầm chậm

tiếng kèn vỡ vụn

máu trào sau nụ hôn

(“Viết dưới tượng Yesenin”)

Nhà thơ Vũ Quần Phương nhận thấy: Có thể thấy dấu vết tự đấu tranh khắc phục nỗi buồn trong nhiều câu thơ. Cuộc đấu tranh ấy cần, nhưng nó thuộc phạm trù lối sống. Còn trong phạm trù thơ, nỗi buồn đến độ sẽ tạo nên những cảm xúc trong trẻo, làm trong lại hồn người (Tựa cho tập Cỏ mùa thu).

Dĩ nhiên, không ai hiểu hết mình bằng mình. Tôi hiểu vì sao thơ mình buồn đến vậy.

Nguyễn Đức Tùng: Mỗi người đọc của anh cố hiểu vì sao thơ anh buồn đến vậy, nhưng chắc chắn là không thể hiểu như anh. Ngoài ra, anh đi nhiều, giao thiệp rộng, đã từng giữ các chức vụ trong các tổ chức văn học nghệ thuật, nhưng xuyên suốt thơ anh, người đọc nhận ra một nỗi cô đơn bền bỉ. Như một thứ ám ảnh. Nó ở đâu ra?

Hoàng Vũ Thuật: Đỗ Lai Thúy đã kêu lên: “Có một điều không thể lý giải được là tại sao các nhà thơ thường cô đơn đến vậy?”, khi ông viết về thơ tôi.

Lý giải vấn đề này không đơn giản chút nào. Mỗi người là một thế giới riêng biệt. Yevtushenko viết: Con người mất đi là cả một thế giới mất đi.

Đã là một thế giới riêng biệt, không giống nhau, ắt hẳn cô đơn rồi. Cá thể của tôi không giống Nguyễn Đức Tùng. Niềm vui, nỗi buồn cũng không giống Nguyễn Đức Tùng. Xưa nay các nhà văn lớn trên thế giới đều luận về nỗi cô đơn của con người, và, dường như không ai đi hết bến bờ của nó được. Niềm cô đơn không có bến bờ, nó như một vũ trụ vô cùng vô tận và bí ẩn.

Có điều, hãy xem nỗi cô đơn là một đặc tính con người. Khi lọt lòng mẹ, đứa trẻ – sinh linh người, bật lên tiếng khóc đầu tiên, báo trước số phận cô đơn của mình. Xem cô đơn là đặc tính, từ đó mới biết nâng niu trân trọng cái phẩm chất cá thể ấy. Ta đang ở trong một hoàn cảnh con người bị ngộ nhận là tất thảy đều cùng chung một mẫu số, có như vậy mới thống nhất, hài hòa. Tiếng nói chung, suy nghĩ chung, tư tưởng chung, sở thích và đam mê chung, ý nguyện chung. Cái riêng vì thế bị loại bỏ, vô hình chung bị tước đoạt. Cái riêng không được tôn trọng, không được bảo vệ thì nỗi cô đơn con người tất yếu càng nhân lên, trở thành tuyệt vọng, không chốn nương thân.

Trong sáng tạo, cái riêng con người, chất cá thể con người làm nên cá tính sáng tạo. Mà cái riêng, chất cá thể đó luôn đẩy con người về phía cô đơn. Vậy thì cô đơn là một biểu hiện tâm trạng. Thơ ca khai thác tâm trạng đó để sáng tạo tác phẩm. Ở góc độ thẩm mỹ, tôi nghĩ, trong ý niệm tương đối cô đơn thuộc phạm trù cái đẹp.

Tôi, không loại trừ trong cái ẩn số đó.

Tôi viết bài thơ “Đọc Kafka”, có đoạn: “trốn chạy thế giới nghiệt ngã / câm lặng nấm mồ chật hẹp / dưới vực thẳm tình yêu / em trao hết anh tất cả thuần khiết / mà thế gian gạt bỏ”. Một mảnh tâm trạng, một cõi thân phận, một trạng huống đơn độc của con người trong một thế-giới-cô-đơn. Tôi đã đề tặng Trương Đăng Dung (người dịch Kafka), vì một kỉ niệm xúc động. Tôi và ông không quen nhau, chưa gặp nhau bao giờ. Nhưng đọc thơ tôi, ông nhận ra cái giọng cô đơn quá mức. Ông đem chuyện đó tâm sự với nhà thơ Trần Quang Đạo, bạn tôi và khuyên hãy động viên, giãi bày. Ông bảo, hồi học ở Budapest, ông chơi thân với một nhà thơ người Hung. Thơ anh ấy cô quạnh, đơn độc quá, buồn quá. Thế rồi bất ngờ bạn ông tự tử, có lẽ không tìm ra lối thoát. Ông ân hận vì không lường trước để chia sẻ. Câu chuyện cũng thật lạ lùng.

Hãy khai thác tận cùng bản thể sẽ giúp sự sáng tạo tích cực.

Vậy đó, bao thứ vây quanh mình, người ta không muốn mình khác họ.

Nguyễn Đức Tùng: Sống như thế rất khó khăn. Tôi tưởng rằng ngày nay người Việt chúng ta đã thay đổi, không còn như những năm 70, 80.

Hoàng Vũ Thuật: Đúng vậy. Bước đi lịch sử diễn ra bao giờ cũng chậm chạp, ngoài mong đợi của con người. Những thứ không đồng nhất luôn vật lộn, tráo trở, gây hấn, thách thức, trở thành lực cản bước chân mình. Ngay những người vốn là đồng nghiệp bây giờ còn la lối, rằng, thơ tôi “Cô đơn, buồn chán thất vọng, nhà thơ cảm thấy mất niềm tin với con người và cuộc sống… Trái tim nhà thơ lỗi nhịp với nhịp đập mãnh liệt của trái tim quần chúng” (Trích trong phần “Dư luận” – Đám mây lơ lửng).

Rốt cục nỗi cô đơn mà anh nhìn thấy trong thơ tôi nó khởi nguyên từ đâu, đã rõ phải không anh?

Nguyễn Đức Tùng: Anh đã viết những câu tuyệt hay:

nằm dưới kia

một ông vua một hoàng hậu một người hầu

một thanh gươm một tuấn mã một mê nón

một lệnh truyền một trống giục một lời van

một trung thực một đớn hèn một điên loạn

Thơ Hoàng Vũ Thuật đầy những cảm thức lịch sử, có nỗi phân vân lưỡng lự thường trực. Thơ ca có vai trò gì đối với các vấn nạn lịch sử và xã hội?

Hoàng Vũ Thuật: Lịch sử ghi thành sách rồi vẫn có thể phải điều chỉnh, viết lại sao cho đúng với sự kiện. Bởi sự kiện lịch sử xảy ra, bao giờ cũng tồn tại khách quan, làm sao mà đảo ngược.

Nhà thơ có bổn phận trả lời trước những câu hỏi lịch sử và các vấn nạn lịch sử và xã hội, nhưng mỗi người trả lời bằng cách riêng của mình. Chẳng ai buộc anh trả lời tất tật tật. Vả lại trả lời của nhà thơ khác nhà chính trị, nhà sử học:

Hàng nghìn năm nhân loại mỗi người một quân cờ vô định

đường lạc đà hun hút bão cát xô lệch mặt người

kẻ đào huyệt tự chôn mình dưới chân Kim Tự Tháp

bầy chó sói nơi cánh đồng hoang hú rỗng đêm thâu

người gieo vãi nhặt hạt mạch thơm bên dòng sông Nin chảy xiết

xích sắt mòn cổ chân nô lệ da đen

vó ngựa Vạn Lý Trường Thành lốc cốc tiếng ống xương va vỡ khô khan

cuộc cờ âm thầm hết về nam lên bắc lên bắc lại về nam

(“Cuộc cờ”)

Làm sao cảm thức của mình thể hiện được bản chất lịch sử. Ăng-ten nhà thơ phải nhạy cảm, nhiều chiều. Những bài: “Những đứa trẻ không quê”, “Đám mây lơ lửng”, “Trưa nhật thực”, “Anh đợi”, “Lăng tẩm”, “Cuộc cờ”, “Bóng tối diệu kì”, “Khát”, “Cái chết”, “Hoàng An”, “Thất vọng còn thất vọng nữa”… là nỗi trăn trở của thơ tôi. Nếu có nỗi phân vân lưỡng lự thường trực trong thơ tôi, nghĩ đó là điều không tránh khỏi, khi môi trường quanh anh chưa đủ điều kiện cho anh làm ra sản phẩm.

Nguyễn Đức Tùng: Một môi trường như thế nào thì giúp anh “làm ra sản phẩm”?

Hoàng Vũ Thuật: Nhà thơ như kẻ mắc nợ luôn áy náy, dằn vặt, đau khổ, hoài nghi trước cuộc sống. Nhà thơ sống với tâm trạng của một con nợ, cây bút chính là cây thánh giá mà anh ta mang vác suốt đời, để làm ra sản phẩm.

Sản phẩm nhà thơ là thứ ngôn ngữ đi vào lòng người, neo đậu lại đó như thần dược, giúp con người có khả năng nhận biết, đấu tranh và cải tạo thế giới. Một môi trường khả dĩ, trong đó nhà thơ hoàn toàn độc lập, làm chủ được ý thức tâm trạng của mình sẽ giúp họ sáng tạo tốt hơn, hay hơn.

Tôi thích câu: “Người tìm kiếm thực sự phải là người theo thuyết bất khả tri. Sự khởi đầu của việc tìm kiếm thực sự không thể bám rễ vào việc tin hoặc hoài nghi. Con người phải hoàn toàn cởi mở; con người không nên bắt đầu với ý tưởng ưu tiên nào đó” (Osho).

Nguyễn Đức Tùng:

Từ những câu thơ như:

Tôi mơ thấy mùa thu

Dưới võng mềm đất ủ

Và mẹ già tay ru

Đưa tôi vào giấc ngủ

có vần điệu chặt chẽ, thậm chí rất cũ, anh viết những câu:

Từng ngày từng ngày từng ngày

Từng đêm từng đêm từng đêm

Cây khô lại mướt…

phóng khoáng, bay bổng, ngang tàng.

Sự thay đổi trong phong cách thơ Hoàng Vũ Thuật từ vần điệu sang tự do, từ cổ điển sang hiện đại, đã diễn ra như thế nào?

Hoàng Vũ Thuật: Theo tôi nghĩ tố chất người nào sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách thơ người đó. Tôi được liệt vào dạng hiền lành, ít nói ( không rõ đúng hay không nữa), nhưng trong thơ, hồi 1973 tôi đã viết” Làng không nhà”, một giọng thơ như anh  nhận xét, phóng túng: Chúng tôi ngang qua những hố bom hình phễu / khoét xuống làng / viên gạch vỡ ngấm nước tan / chảy máu / cây chuối ngang lưng bom cắt / trồi lên cánh tay… Gió xoáy từ các phễu bom / trườn qua đồi / ngọn gió nhọn và sắc / mặt đất bỗng thành chiếc nôi / chao trong nắng ngập.

Hồi đó, chúng tôi làm thơ gần như một kiểu, rất hiếm những bài tự do, hoặc không vần. Chẳng ai quan tâm đến phá cách phá thể. Đi theo hướng này không khéo lại rơi vào tình trạng thơ khó hiểu, không mang tính quần chúng. Thành thử bài thơ dài trên khi đem in tạp chí Tác Phẩm Mới, tôi được Chế Lan Viên đánh giá hay và bảo tôi nên đi theo cách đó. Sau này chen vào giữa những bài thơ tự do, hiện đại tôi gắng viết những bài thơ lục bát, năm chữ và trong các tập thơ cũng được kiến tạo như vậy.

Nguyễn Đức Tùng: Gắng viết nghĩa là thế nào?

Hoàng Vũ Thuật: Nghĩa là, dù không thích, không hợp với “tạng” với “gu” của mình, vẫn phải viết, phải đẻ ra nó. Đó là cái hoàn cảnh con người bị ngộ nhận là tất cả cùng chung mẫu số. Nhà thơ phải có thơ lục bát, năm chữ, bảy chữ mới là truyền thống, dân tộc. Một quan niệm khá ấu trĩ, thơ hiện đại, cách tân yếu tố dân tộc bị mờ đi. Cứ theo lôgíc vậy thì, ngoái lại những bài thơ viết ra thời Thơ Mới đều không “dân tộc” hay sao? Trong khi ai cũng khẳng định Thơ Mới là một thành tựu rực rỡ của dân tộc.

Đầu 2008, khi gửi một số bài thơ để in trong mục “Thơ tự chọn” của Tạp chí Thơ, tôi đã đưa toàn thơ tự do, trong đó có bài “Năm ngày đêm”, “Lăng tẩm” mà anh đã dẫn, nhưng không được dùng. Đến 2009 này, ban biên tập yêu cầu tôi phải đưa thêm những bài cổ điển. Vậy đó, muốn lật trở, muốn làm mới, cách tân thơ đâu đã thuận lợi.

Tố chất con người tôi buộc tôi luôn tìm đến cái mới, cái lạ. Hơn nữa bối cảnh xã hội ngày nay khác trước rất nhiều. Chiến tranh, hòa bình, kinh tế, đạo đức, khát vọng con người đã đi rất xa. Nghệ thuật vì thế không thể bằng lòng với những gì đã có, rập khuôn, trùng lặp cái xưa cũ. Nghệ thuật phải làm cuộc cách mạng tự thân để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mới của công chúng, dẫu công chúng bây giờ cũng đã phân hóa, rất nhiều cấp độ khác nhau. Nhu cầu thẩm mỹ mới của công chúng hiện đại, chính là sự vượt lên, mới hơn, hợp hơn về các giá trị tinh thần, đó là đòi hỏi chính đáng của thời thế, của môi trường lịch sử, như vậy tự thân đã mang tính dân tộc rồi. Không thể nhân danh truyền thống, dân tộc, buộc nghệ thuật giẫm chân tại chỗ.

Thơ cũng vậy.

Có điều, sự thay đổi của thơ không phải sự thay đổi thiên về mặt chữ nghĩa, nặng về hình thức. Cảm xúc con người không đứng yên, luôn ở trong thế vận động. Cảm xúc không thăng hoa, không nhập thần, thơ sẽ trở thành thứ xác chữ. Con sông sáng tạo chẳng khác nào mặt hồ phẳng lặng, buồn tênh.

Nguyễn Đức Tùng: Chúc mừng anh: vẫn là một người sôi nổi, ghét cái buồn tênh. Anh yêu thích các nhà thơ nào? Xin cho những ví dụ. Anh học được điều gì ở họ?

Hoàng Vũ Thuật: Nhà thơ ai mà chả yêu, tôi mượn lời một bạn trẻ yêu thơ để trả lời vậy. Bởi mỗi nhà thơ là một bí ẩn, một ẩn số mà nhiều đời sau không giải mã hết được.

Lúc học ở cấp 2 (bậc trung học phổ thông cơ sở bây giờ), tôi đã chép vào cuốn sổ dày từ Hoàng Thung, một người anh họ, học ở Huế về, sau ngày khóa tuyến, với hàng trăm bài thơ của Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư… và xem đó là gia sản cá nhân quý nhất. Đôi lúc tôi đọc cho bạn bè nghe, rồi phân tích như ông cụ non về tình yêu, về non nước vua Hời xa xăm… Kì thực tôi vô cùng quý họ, nhưng không yêu họ. Khi ấy, tôi chưa thật sự có tâm thế để nhận ra cái hay ở những vần thơ kia. Tâm hồn tôi quá ư non dại, lại tự ti bởi cảnh ngộ gia đình, mà tôi cũng không muốn để ai biết.

Khi lên học cấp ba, trường tỉnh, tôi sớm tiếp xúc những vần thơ của García Lorca, Apollinaire, Paul Éluard, Heine, Ysenin, Blok. Lần này thì các thầy giáo dạy văn và tiếng Nga giúp tôi mà có được. Bài thơ “Tự do” của Paul Éluard như kéo tôi dậy sau những tháng năm bồng bột, yếm thế. Cái khát vọng cao cả của con người, được ẩn chứa trong một bài thơ trữ tình, ngôn ngữ cũng khoáng đạt, tự do, như tên bài thơ vậy. Tôi vẫn còn nhớ ba khổ sau cùng: Trên xa vắng không ước thèm / Trên quạnh hiu trần trụi / Trên bậc thềm cái chết / Ta viết tên em – Trên sức khỏe phục hồi / Trên hiểm nguy tan biến / Trên hi vọng chẳng nhớ nhung / Ta viết tên em – Và do phép màu một tiếng / Ta làm lại cuộc đời / Ta sinh ra để biết em / Để gọi tên em / Tự Do. Còn những bài thơ viết về mẹ của Heine, Yesenin, Blok lại làm tôi thẩn thờ, y như họ đang viết về mẹ tôi, dù các nhà thơ ấy không cùng dòng máu Việt.

Năm 1970 tập thơ Cửa mở của Việt Phương ra đời, tác động đến thế hệ trẻ chúng tôi như một quả bom văn học, làm nổ tung mọi trật tự khuôn phép bấy lâu. Dĩ nhiên người bị “thương tích” trước hết không ai khác, chính người tạo ra nó. Đối với tôi, ông trở thành nhà tiên tri con người và xã hội. Giọng thơ quẫy đạp ấy bị người ta công kích, nhưng chúng tôi thì chuyền nhau đọc, ngưỡng vọng một nhân cách sống dũng cảm, dám phơi mở những điều cấm kị. Sau này, mười năm trở lại đây, ông và tôi hữu duyên thành người thân thiết.

Những gì tôi gặt hái được từ các nhà thơ chắc không ngoại lệ. Họ đã đi vào tôi một cách tự nhiên, có thể đã nhìn thấy đôi chút, cũng có thể không nhìn thấy. Nhưng tôi luôn thầm cám ơn họ, những người đi trước, những người cùng thời và những người sau tôi. Họ chính một phần linh hồn tôi vậy.

Nguyễn Đức Tùng: Những người làm thơ trẻ ở Việt Nam hiện nay đang đứng ở đâu? Anh có ấn tượng gì về sự xuất hiện của họ, ví dụ, trong ngày hội thơ Việt Nam ở Hà Nội? Có những nhận xét trái ngược nhau. Anh nghĩ sao?

Hoàng Vũ Thuật: Thế kỉ 21 là thế kỉ của thế hệ trẻ.

Tôi không tin những người thuộc thế hệ trước tôi và thế hệ chúng tôi sẽ làm được gì hơn, có tính cách mạng đối với nền thơ Việt. Chúng tôi chỉ còn mỗi nhiệm vụ đánh giá, tổng kết, cái đã có. Nói đúng cái đã có cũng mệt đấy. Chỉ trong vòng ba chục năm đây thôi, không ít tên tuổi phải đánh giá lại, nhiều tác phẩm không còn chỗ đứng trên văn đàn.

Sự xuất hiện đội ngũ các nhà thơ trẻ là tín hiệu đáng mừng cho một nền văn học. Nó báo hiệu thơ ca vẫn là sản phẩm của đời sống tinh thần không thể thiếu, mặc dù nền kinh tế thị trường với những cơn lốc chóng mặt, xã hội có nhiều thách thức khôn lường. Một nền văn học luôn có đội ngũ bổ sung, tiếp nối là một nền văn học phát triển bình thường.

Những người làm thơ trẻ ở Việt Nam khá đông, có người không còn trẻ nữa, họ hình thành một đội ngũ mạnh và mới, một đội ngũ khác rất nhiều với cha anh. Họ có quan niệm thơ ca không giống, hoặc không hoàn toàn giống trước: Vi Thùy Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Lê Vĩnh Tài, Đinh Thị Như Thúy, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Trần Tuấn, Nguyễn Vĩnh Tiến, Lê Thị Mỹ Ý, Bùi Đức Vinh, Hải Trung, Nguyệt Phạm, Tuệ Nguyên… Họ có giọng, cùng vươn tới những xu hướng khác nhau, tìm kiếm, thể nghiệm thực sự, dũng cảm làm mới thơ của mình. Đáng mừng và trân trọng là không ai giống ai.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi có cảm giác rằng ở Việt Nam hiện nay ngay cả những người cách tân nhất, trong đó có Hoàng Vũ Thuật, những người không có thành kiến chút nào với các nhà thơ trẻ, cũng không đặt niềm tin nhiều lắm ở các nhà thơ này. Tôi không đọc thấy trong các nhận xét của anh cũng như trong ánh mắt của những nhà văn khác mà tôi trò chuyện một sự hứng khởi mà ta thường có khi đứng trước cái đẹp và khi bị nó chinh phục ngay lập tức.

Hoàng Vũ Thuật: Thực tế thì độc giả của thế hệ trẻ không quảng đại, một lượng hẹp, thậm chí rất hẹp, phần lớn là người nghiên cứu, người yêu thơ, bạn bè và một số nhà thơ quan tâm. Tôi cho rằng không vì thế mà coi thơ của thế hệ trẻ không có chỗ đứng, hoặc chưa là gì cả. Không có cuộc cách mạng nghệ thuật nào ra đời dễ dàng chiếm lĩnh ngay công chúng.

Tôi cứ băn khoăn chỗ này. Hình như thế hệ trẻ quá lưu tâm đến hình thức nghệ thuật. Trào lưu làm mới thơ cùng với sự ào ạt các lý thuyết hiện đại, rồi hậu hiện đại, ít nhiều dội vào họ, làm cho một số nhà thơ trẻ mất đi bản năng sáng tạo. Bởi thế nên khi đọc thơ thế hệ trẻ, người ta dễ đánh mất sự hứng thú, đánh mất khả năng cảm xúc đồng sáng tạo? Người đọc cố sao để hiểu bài thơ, câu thơ, hơn là nhấm nháp cảm xúc cùng người làm ra nó.

Thơ trình diễn mà các bạn trẻ tham gia cũng thế, một cuộc chạy theo thuần túy nghệ thuât. Nhà thơ phải cậy nhờ các hình thức nghệ thuật khác, để đến được với người nghe, người xem. Sự kết hợp hài hòa, tương tác giữa các thể loại và hình thức nghệ thuật, dĩ nhiên sẽ tạo ra một nghệ thuật mới hơn, lạ hơn. Tuy vậy, cốt lõi của thơ là để đọc, để nghe, khi nào thì cần quảng trường, khi nào thì chỉ một mình đối diện với trang thơ. Thơ trình diễn chỉ xảy ra trong không khí hội hè, lúc đó có thể nói người yêu thơ chỉ thấy cái vỏ bên ngoài mà thôi.

Nguyễn Đức Tùng: Anh làm thơ từ bao giờ? Bài thơ đầu tiên của anh.

Hoàng Vũ Thuật: Tôi làm thơ hồi còn học ở trường phổ thông cấp 3 Quảng Bình, những năm sáu mươi. Ba năm học, tôi được thầy giáo chủ nhiệm giao phụ trách tờ báo tường của lớp. Cứ ba tháng, hoặc nhân kỉ niệm một ngày gì đấy, nhà trường lại giao cho chúng tôi ra một số báo chung để lưu vào phòng truyền thống. Thế là tôi vừa làm thơ, vừa viết những mẫu chuyện nho nhỏ. Có khi kí rất nhiều tên, để được xem như nhiều tác giả, cộng tác viên tham gia. Chính thói quen ấy ít nhiều khích lệ tôi phải viết, dù chẳng hiểu viết để làm gì. Thầy giáo Lê Văn Tài, dạy văn, thường nói với chúng tôi: người ta bảo Hàn Mặc Tử là một nhà thơ điên (thời ấy được hiểu theo nghĩa sinh học, bệnh lý, chứ không phải là xu hướng, trường phái), nhưng không phải đâu các em ạ. Hàn Mặc Tử không hề điên, rồi thầy đọc “Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi / Hổn hển như lời của nước mây”. Điên ấy là vô thức, là tài nghệ đấy.

Chữ vô thức ám ảnh tôi từ ấy.

Hồi đó chữ vô thức gần như không được sử dụng. Nếu có sử dụng thì để lên án những việc làm không tốt, hoặc để chỉ những người thiếu ý thức, hành động không có chủ kiến, bậy bạ. Sau này tôi hiểu vai trò của vô thức rất quan trọng đối với công việc sáng tạo nghệ thuật. Vô thức trong sáng tạo mang đến cho người ta những bài thơ giàu năng lượng, một thứ năng lượng bí ẩn, siêu phàm như những chớp sáng của trời đất ban tặng vậy.

Có thể coi những bài thơ trên trang báo tường là đầu tiên, câu thơ viết ra thơ ngây và bản năng, vu vơ như những nét gạch dọc ngang của đứa trẻ lên ba thích cầm bút vậy. Nhưng bài thơ tôi viết được in đầu tiên cuối những năm sáu mươi; sáu bảy hoặc sáu tám gì đấy:

Hoàng hôn trên thành phố

Hoàng hôn về thành phố trống trơ

Bức tường đổ vùi trong ráng đỏ

Đã hiện lên trên nền trời thành phố

Những ngôi sao trong chuyện cổ xa vời

Những ngôi sao xanh có tiếng bà cười

Bên bếp lửa ngày xưa bà kể lại

Ngoài đường phố đèn dăng lấp láy

Tôi mơ màng lạc giữa rừng sao

Thành phố tôi yêu trong giấc chiêm bao

Có mái đền cong, rêu phong chùa cổ

Có vó ngựa nhà vua vừa ngang qua đó

Đời đời chiến lũy uy nghiêm

Từ bao giờ thành phố mọc lên

Con sông chảy quanh như vầng trăng đầu tháng

Đây nhịp Cầu Dài, kia ô Cầu Ngắn

Những con đường rải sỏi tôi qua

Tôi yêu thành phố tháng ba

Trong bàn tay em một bông hồng đang nở

Vành nón nghiêng nghiêng bài thơ nho nhỏ

Bên kia sông bãi cát nắng lên đầy

Hoàng hôn về thành phố chiều nay

Tôi trở lại giữa bốn bề gạch đổ

Những gốc dừa cháy đen lối chợ

Hố bom sâu trên nền cũ ngôi chùa

Thành phố run lên từng đợt gió lùa

Tôi chẳng thể nhặt từng viên ngói vỡ

Một bông hồng trong vườn ai đó

Như đỏ thêm phần đỏ tôi yêu

Chẳng còn lại gì đâu thành phố buổi chiều

Chỉ có dòng sông như vầng trăng ôm vào lòng phố xá

Người thành phố đã chia nhau đi các ngả

Để lại đằng sau bao kỉ niệm vui buồn

Tôi lại lên đường từ vầng trăng quê hương

Và ngôi sao mọc đầu tiên trên nền trời thành phố.

(Còn 1 kỳ)

Bình luận

Không có bình luận (bài “Hoàng Vũ Thuật – Cô đơn thuộc phạm trù cái Đẹp (1)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>