Trần Kiêm Đoàn – Màu rỗng lặng
09/12/2009 | 5:59 chiều | 29 Comments
Category: Đời sống, Tạp văn
Thẻ: màu rỗng lặng
Buổi sáng là tuyết, buổi trưa là đá, buổi chiều là lửa. Cái vòm núi cao ngất, sừng sững và im lặng đổi màu như một sơn nữ ngự lâm thay xiêm y để múa vũ điệu của thiên nhiên qua trùng trùng vạn lý thời gian trước mắt con người bé nhỏ. Trái núi đá tròn đã bị thần núi cắt mất một nửa từ thuở mới thành hình – đâu đó 87 triệu năm về trước! Vết cắt sắc lẻm không chút ngập ngừng làm cho người đời sau mang một ấn tượng mạnh mẽ và choáng ngợp khi ngước mắt lên nhìn trái núi mỗi sớm, mỗi chiều hay sâu hút trong đêm trăng. Ngọn núi Nửa Vòm (Half Dome) là một tụ điểm đối với du khách bốn phương trong khung cảnh kỳ tú và hùng vĩ của vùng núi đá và dòng họ thông già cao vút trời xanh trong Rừng Quốc gia Yosemity, cách thủ phủ Sacramento của tiểu bang California ba giờ rưỡi lái xe.
Yosemity bao quanh toàn là những dãy núi đá hoa cương. Nhưng đỉnh Half Dome (Nửa Vòm) được quan tâm nhiều nhất. Leo lên đỉnh trái núi nầy không còn là thách đố của những tay leo núi chuyên nghiệp trong vòng năm mươi năm qua. Vô hình chung, đỉnh núi trở thành “điểm hẹn” của những cặp tình nhân đang ở độ tuổi phương cường và sung mãn nhất trong một đời người. Cả hai đều muốn chứng tỏ cho nhau, rồi đây, sẽ đủ sức đi hết cuộc hành trình… bách niên giai lão.
Con đường mòn có dây cáp từ chân lên tới đỉnh được thiết lập từ năm 1919, nghĩa là cách đây 90 năm. Thuở ấy, chỉ có những tay leo núi chuyên nghiệp tài danh mới tới đỉnh nầy. Nhưng vài ba thập niên trở lại, đỉnh Nửa Vòm lại réo gọi lứa tuổi đã “chín tới”. Đó là lứa tuổi sắp lên lão hay đang lên lão ở phía bên kia dốc xuống của ngọn đồi thời gian. Khi người ta bắt đầu sợ tuổi già là khi người ta gặp nhau reo vui mà thật ra là một lời an ủi: “Lâu không gặp, bây giờ nhìn bạn trẻ hơn trước nhiều!” Người ta không nỡ thở dài về những dấu chân chim ngày một sâu trên khóe mắt của những người đang cất bước chậm dần trên đường… tri thiên mệnh!
Đỉnh Nửa Vòm được xem là nơi leo núi đứng đầu trên nước Mỹ. Bên cạnh khung cảnh hùng vĩ và khí hậu tương đối ôn hòa, đỉnh Nửa Vòm còn là nơi gặp gỡ vừa vặn nhất cho những tay leo núi chuyên nghiệp và những người leo núi nai tơ. Leo khứ về hồi có chậm lắm cũng chỉ mất trên dưới 12 giờ trên một lộ trình dài 16 dặm rưỡi, khoảng 24 km và cao non 9 nghìn bộ – khoảng 3 nghìn mét – trên mặt nước biển. Bởi vậy, hàng năm có tới 5 chục nghìn người khắp nơi trên thế giới tới Yosemity tham gia cuộc chơi leo tới đỉnh Nửa Vòm trời.
Nghe đâu trong lịch sử đặt đường dây “cáp” lên đỉnh Nửa Vòm từ năm 1919, trong số những người đã leo tới ngọn đỉnh trời ấy, người trẻ nhất là 6 tuổi và già nhất là 72 tuổi. Tuy có tới hàng chục người trợt chân rơi xuống núi mất mạng, nhưng cũng có người thống khoái leo lên, leo xuống đỉnh núi cả vài ba chục lần! Ở điểm mốc thời gian sáu bốn tuổi ta, sáu ba tuổi Tây; chưa phải vật lột với “lão tam cao” – cao đường, cao máu, cao mỡ – nên tôi thử tới Yosemity tìm… cao sơn.
Sau khi dự lớp thuyết trình leo núi, tôi sắm sửa dụng cụ leo núi theo lời khuyên của huấn luyện viên. Sáng lên đường, lưng mang ba lô, tay cầm gậy leo đồi chuyên nghiệp, chúng tôi trông ra dáng những tay leo núi có… nghề.
Sáng sớm tinh mơ, xuất phát từ Đường mòn Mù sương (Mist Trail). Buổi lên đường tuy không có cảnh “buổi tiễn đưa lòng bận thê noa” như trong Khúc ngâm của người chinh phụ, nhưng có người Việt Nam nào mà không cảm thấy chút nao lòng trước hai tiếng… lên đường!
Đi được hai cây số đầu, nắng lên và bắt đầu nhuộm vàng những đỉnh núi. Liếc nhìn quanh, chưa ai nghỉ chân và cũng chưa thấy ai uống nước, nhưng tôi đã uống hai lần. Đi thêm một cây số nữa, tới Thác Vernal, mồ hôi bắt đầu giọt ngắn, giọt dài. Cái đầu thì cứ hô tiến lên cả Tây nó cười, nhưng chân và đầu gối thì bắt đầu bướng bỉnh cãi lại đòi nghỉ. Đầu và chân thiếu đoàn kết thì tôi phải nhờ vào mũi và tay. Hít một hơi dài khói sương núi rừng buổi sớm để tăng cường nội lực. Đôi tay dang ra đánh nhịp “một, hai… bước đi trên đường xa”. Nhưng đi tiếp được chừng hơn cây số thì hơi thở nóng dần lên, mũi cũng sụt sùi trổ chứng. Hai tay không còn phối hợp nhịp nhàng, không còn hứng chí muốn đánh qua đánh lại mà muốn nằm yên. Thoạt đầu, tôi đa nghi như Tào Tháo. Cứ rằng là, thà ta phụ người còn hơn để người phụ ta, nên tự mình cãi lại nỗi thấm mệt của chính mình để bước tới. Phải đi chừng 3 cây số nữa thì mới tới Thác Nevada, điểm nghỉ cuối cùng trước khi bắt đầu hành trình leo đỉnh Nửa Vòm. Tôi uống hết gần nửa số nước mang theo. Khi đầu mình và tứ chi phối hợp đòi về thì không nên đi tiếp. Nghĩ vậy nên tôi bước chậm dần. Thuyền đi ngược nước, không tiến thì lùi nên tốt hơn là ghé bến.
Đoàn người leo núi vẫn hăm hở tiến tới. Cơn mỏi thân xác không thấm thía bằng nỗi vui buồn thế hệ. Một thế hệ tuổi già đang chậm dần và ngồi lại bên dòng chảy của tuổi xanh tươi mới đang đi tới và vươn lên. Tôi tìm mảnh rừng rợp bóng cây redwood vạm vỡ và cao vút, cởi ba lô và trải cảm giác mệt mỏi lên tảng đá vừa nhú lên bắt nắng. Đoàn người leo núi chẳng ai buồn để ý đến ai. Tất cả đều hăm hở đi tìm bản chúc thư không lời của chính mình trên đỉnh núi: Xác định sự hiện hữu của mình trong dòng sống!
Nắng đã lên chiếu vàng dãy núi vươn cao vòi vọi. Dãy núi đá có tuổi 93 triệu năm chắn lối chân trời như muốn đem uy vũ thiên nhiên thách thức với con người nhỏ bé.
Mùi cà phê thân quen là lạ thoảng trong gió mai. Tôi nhìn qua phía thung lũng. Dưới tàn đá trắng xanh có một cặp vợ chồng già đang nấu cà phê bằng đá diêm trên cái lò nhỏ bằng nắm tay. Ông già bắt gặp cái nhìn của tôi và khoát tay chào lịch sự. Đoàn người trên Lối mòn Mù sương tới Nửa Vòm trời đã đi khuất hết. Những con người biết mình yếu đuối trước uy vũ của thời gian còn sót lại giữa thiên nhiên thường có cùng tần số nên rất dễ gần nhau. Ông bà già Edwin người Anh, qua Mỹ du lịch với cả gia đình. Ông già hơn tôi 4 tuổi và cũng quyết định bỏ cuộc từ đầu trên đường leo núi. Loanh quanh những chuyện xã giao lịch sự một hồi giúp biết rõ nhau hơn.
Tôi tròn mắt ngạc nhiên khi lần đầu nghe ông bà già Edwin nói về một điều mới lạ: tuần Trăng mật Chia tay (Farewell Honeymoon). Ông C. Edwin là một giáo sư đại học Cambridge ở Anh đã về hưu. Bà J. Edwin cũng là một bác sĩ tâm lý ở bệnh viện Luân Đôn. Sau 45 năm chung sống, hai người quyết định chia tay vì “không có cùng một lối suy nghĩ và cách sống hợp với nhau nữa”. Lý do mới nghe nói thì khá đơn giản, nhưng qua hơn nửa ngày nói chuyện thì rõ ràng họ đã “hết duyên” – nói theo khái niệm nhà Phật – với nhau. Nghĩa là chẳng còn có những điểm tương đồng trong cách nhìn và cách sống giữa cuộc trần gian nầy. Chất keo bao nhiêu năm dính kết và thu hút họ đã hết. Mảng tối và ánh sáng hòa quyện một thời nay phân cực: Có cái nầy thì không có cái kia. Đất địa cầu mênh mông đến thế mà sao không có một mái nhà cho sự tương phùng của hai dòng tư tưởng.
Ông Edwin tâm sự rằng, ông thuộc trường phái Hawking. Ông tin là vũ trụ vô biên, cuộc sống con người và từng sinh vật, từng hạt bụi từ thời vô trước đến vô sau đều theo một “trật tự tự nhiên” để hiện hữu hay mất dạng và biến thể chứ chẳng có gì còn hay mất. Ông nói đến những sinh vật từ thời thái cổ như đại bàng, khủng long, rắn rừng, cá biển… khổng lồ bị tận diệt; trong khi những loài mới sinh ra là do môi trường thiên nhiên biến đổi. Rất có thể trái đất sẽ nóng lên và loài người sẽ bị tận diệt; rồi một loài khác sinh ra. Vũ trụ có vô số thế giới như trái đất đang sinh ra và tan biến từng phút từng giây. Tư tưởng về “trật tự tự nhiên” đã khiến ông Edwins phủ nhận một Đấng Sáng tạo toàn năng là nguyên ủy đầu tiên của vạn sự.
Bà Edwin thì ngược lại. Bà tin tưởng rằng, có một Đấng Tạo hóa chí tôn sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài mà mỗi một ngọn lá rơi, mỗi sợi tóc trên đầu rụng xuống… đều do tôn ý của Ngài.
Cuộc đối đầu tư tưởng giữa ông và bà Edwin trong những năm về trước biểu hiện nhẹ nhàng qua những cuộc luận đàm thuần tri thức. Nhưng tư tưởng là bánh lái của điệu sống. Điệu sống của ông bà Edwin càng ngày càng bồi thêm những lớp dày của định kiến và và xung đột ở dạng ngấm ngầm hay va chạm. Nhất là từ khi hai ông bà về hưu. Nghĩ đến cõi về cuối cùng cho một đời, mỗi người đều tự cho hướng nhìn của mình đã chọn lựa sao mà rõ ràng và sáng suốt đến thế. Nên họ tìm cách thuyết phục nhau. Nói là “thuyết phục” nhưng tự bản chất là một cuộc chiến ngấm ngầm tiêu diệt mầm “oan trái” của bên kia. Mỗi lời nói và hành động dù nhỏ đến đâu cũng đều là nguyên cớ, chứ không còn là nguyên nhân, làm cho những uẩn ức vô hình bùng nổ. Mâu thuẫn đã thành trái, thành cây mà phải sống với nhau chung một mái nhà là khổ. Người ngoài nhìn vào cặp vợ chồng già Edwin cứ ngỡ họ đang sống trong thiên đường hạnh phúc: Giàu có, nổi danh, con cháu thành đạt là mơ ước cuối đời, không phải ai cũng có. Khi nỗi khổ quá tầm chịu đựng của cặp chồng vợ lão thành và trí thức thì chọn lựa cuối cùng là “yêu dấu chia tay”. Chia tay chỉ vì khác nhau chứ không phải vì sự nổ bùng của những cặp mâu thuẫn như tốt xấu, đúng sai, thánh phàm, cao thấp. Bởi vậy, ông Edwin gọi lần họp mặt sau cùng nầy là “Tuần Trăng mật Chia tay”!
Khi biết người mới quen là dân trong ngành tâm lý và cũng là bạn già leo núi bỏ cuộc chơi tới đỉnh nửa vời, ông bà Edwin hỏi về cảm tưởng của tôi đối với cuộc chia tay sắp tới của hai ông bà. Tôi trả lời rất thẳng thắn kiểu Mỹ:
– Tốt! Mỗi người chỉ có một cuộc đời để sống. Khi đã hết nhẵn chất keo tình nghĩa; khi tâm hồn không còn bám nhau được nữa và đi tới mức xung đột thì phải chia tay thôi. Đã “hết duyên” mà vẫn còn giả bộ như còn duyên để đóng trò khắng khít một cách gượng gạo là đánh lừa nhau và đánh lừa chính mình. Không buông bỏ là tự làm băng hoại ý nghĩa của cuộc sống.
Cả hai ông bà gật đầu nhưng đôi mắt dò hỏi như muốn nói: “Dân châu Á như bạn mà cũng suy nghĩ thẳng thừng theo kiểu phương Tây thế sao?” Hiểu ý, tôi chỉ về phía đỉnh Nửa Vòm đang hiện lên rực rỡ trong nắng và hỏi:
– Sao ông bà không leo lên trên đó?
Ông Edwin trả lời:
– Tuổi già, đuối sức, leo không nổi.
– Nghĩa là bỏ cuộc?
– Không! Biết sức mình không đi nổi thì không đi tiếp. Đó là một sự chọn lựa, không phải bỏ cuộc.
– Việc ông bà sắp chia tay là một chọn lựa hay bỏ cuộc?
– Cả hai.
– Nghĩa là…?
– Chọn lựa bỏ cuộc. Nhà tôi thì cho rằng, sự bỏ cuộc thường vì áp lực từ bên ngoài mà kẻ bỏ cuộc không có quyền chọn lựa. Tôi thì khác nhà tôi, vì trước mọi sự thành bại, được mất là do mình tác động tạo ra với hoàn cảnh trước mắt chứ không do quyết định của ai cả.
Đột ngột, tôi hỏi chung cả hai ông bà Edwin:
– Thế thì núi Nửa Vòm kia do ai tạo ra?
Cả hai ông bà nhanh nhảu như đáp cùng một lúc. Bà Edwin:
– Đấng Tạo hóa. Dĩ nhiên!
Ông Edwin:
– Năng lực Thiên nhiên. Tất nhiên!
Để tránh khả năng một cuộc tranh luận không có hồi kết cuộc giữa hai ông bà Edwin, tôi dang tay ra dấu xin hai ông bà một chút im lặng. Cả hai đều đúng, cả hai đều sai? Nếu chỉ có một người đúng và một người sai thì ai sai, ai đúng? Chân lý chỉ có một mà sáu tỷ người trên thế giới đều cho mình đang nắm được hay ít nhất cũng gần với chân lý hơn người khác thì làm sao kiếm ra cho đủ số “chân lý” mà chia đều cho mỗi người một mẩu đây.
Mặt trời chói chang ẩn sau đỉnh núi. Tia sáng không có chỗ đậu bay phiêu du khắp hết vòm trời. Gió cũng không qua bờ cản nên im lặng bay đi muôn phương không gợn thoáng rì rào. Sau bờ thông cao vút là thung lũng cỏ hoang biền biệt xanh rợn tới chân trời. Lững thững và im lặng, chúng tôi bước lên bờ thảo nguyên.
Bà Edwin buột miệng:
– Ôi, bầu trời xanh do bàn tay Tạo hóa huyền diệu làm sao!
Ông Edwin sửa lưng liền:
– Ôi, bầu trời xanh phát khởi tự nhiên tuyệt diệu làm sao!
Trước khi hai ông bà Edwin kịp nhào vào một cuộc đối đầu tranh cãi màu xanh huyền diệu hay tuyệt diệu của bầu trời là tự nhiên hay do ai tạo ra, tôi hỏi bà Edwin để cầm chân:
– Cả bầu trời và không gian trong và đẹp quá. Những bước chân giới hạn của chúng ta đang bước giữa vô cùng. Bà chỉ thấy một màu trời xanh thôi sao?
– Muôn màu!
– Ví như chỉ chọn được một màu chính thôi thì bà chọn màu gì ạ?
– Xanh? Trắng? Vàng? Ư…?
Tôi liền day qua hỏi ông Edwin:
– Ông thấy thế giới trước mắt ông màu gì?
– Màu tự nhiên của nó!
– Thế là ông chưa trả lời tôi. Màu gì là màu tự nhiên?
– Ơ… thì màu gì nhỉ? Nhiều lắm, nhưng không màu nào đúng cả.
Đến lượt hai ông bà Edwin hỏi tôi gần như cùng lúc:
– Vậy thì ông đang thấy thế giới thảo nguyên trước mắt chúng ta là màu gì?
Những câu thơ từ Áo Nghĩa Thư hiện về. Tôi đọc mấy vần thơ về màu rỗng lặng của Hương Sa Mạc cho ông bà Edwin nghe mà cảm nhận như có cả hồn nguyên sơ trắng lạnh lan tỏa trên thảo nguyên:
Before light exists, colorless, emptiness
Time passes in endless blue space
Before thoughts, cold pure original being
Earthly dust settles for what man sees…
Trước sáng thế sắc màu như rỗng lặng
Mắt nghìn xưa ngan ngát nẻo phương xanh
Trước suy tưởng hồn nguyên sơ trắng lạnh
Bụi trần gian lớp lớp đã xây thành.
Sau mấy câu thơ, tôi hỏi ông bà Edwin đã đọc Upanishad – Áo Nghĩa Thư – chưa. Cả hai gật đầu và im lặng. Người phương Tây ngày nay đọc Vệ Đà và Áo Nghĩa Thư nhiều hơn số người trên quê hương nguyên thủy của suối nguồn tư tưởng nầy là Ấn Độ. Ngồi bệt xuống trên gò cỏ dại, tôi cười bâng quơ; nhướng mắt hỏi và cũng từa tựa như để trả lời bà Edwin:
– Màu rỗng lặng.
Bà Edwin đưa mắt dò hỏi. Ông Edwin ra chiều suy nghĩ, hỏi:
– Là màu gì vậy? Ông lấy màu nầy từ đâu ra thế?
Không biết trả lời làm sao, tôi dang cả hai cánh tay ra khoác dấu một vòng tròn:
– Màu xanh lấy từ bầu trời, màu đỏ lấy từ mặt trời, màu vàng lấy từ mặt trăng, màu trắng lấy từ mây khói… Chỉ có rỗng lặng là từ rỗng lặng mà ra chứ chẳng phải lấy từ đâu cả.
Ông Edwin như nguội hẳn cái sôi nổi lúc đầu của buổi leo núi. Ông lẩm bẩm, không biết tự nói với mình hay nói với ai:
– Hừ! Màu rỗng lặng.
Cả ba người nhìn ra xa bầu trời rỗng lặng và im lặng.
Đôi khi, ngôn ngữ cũng dư thừa; mặc dầu tôi muốn giải thích cho ông bà Edwin rằng, đây không phải là màu, mà đây là cái nhìn trong suốt để thấy được mọi màu y như thực tướng của nó. Cái nhìn không bị che chắn, dẫu chỉ là một gợn mây trắng trên đường xưa. Sự ghi nhận không phải bằng đôi mắt đời thường, cũng chẳng phải từ cái tâm tục đế mà bằng sự rỗng lặng nguyên sơ chính nó. Cả hai ông bà Edwin không hiểu ý tôi muốn nói gì, nhưng có lẽ thấy tôi có vẻ ngồ ngộ sao đó nên cả hai cùng cười xòa. Thế là sự rỗng lặng thắng. Thắng vì không bị chối bỏ, giận hờn hay phản đối. Thế giới có cả nghìn ngôn ngữ khác nhau nhưng chỉ có một ngôn ngữ chung mà ai cũng “nói”, biết thông thạo và ít hiểu lầm nhau nhất, đó là tiếng cười. Dẫu là cười xòa vì lý do gì thì đó cũng là dấu hiệu của hòa bình, an lạc. Một giọt nước bình yên, long lanh thôi cũng đủ phản chiếu màu trời hơn cả đại dương đục ngầu, cuồng nộ.
Ba hôm trước ngày Lễ Tạ Ân – Thanksgiving – tại Mỹ năm nay, tôi bất ngờ nhận được tấm thiệp cám ơn của ông bà Edwin gởi từ Manchester, Luân Đôn. Nội dung có câu: “Cám ơn bạn đã gợi lên màu rỗng lặng. Khởi từ đốm sáng của Trí tuệ nầy mà chúng tôi mới nhìn thấy nhau và nhìn ra được Đấng Tạo hóa và Trật tự Thiên nhiên là đồng nhất qua một màu rỗng lặng.”
Sacramento, Thanksgiving 25-11-2009
© 2009 Trần Kiêm Đoàn
© 2009 talawas blog
Tăng ni Bát Nhã gửi thư lên tổng thống Sarkozy, xin được tạm trú tại Pháp
Lá thư gửi lên tổng thống Pháp, đề ngày 16/12, được công bố nhân dịp khoảng 25 tăng ni Việt Nam thay mặt cho Bát Nhã, đã đến Nghị viện Châu Âu ngày hôm nay, để yêu cầu cộng đồng quốc tế yểm trợ.
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/120/article_6098.asp
Xin giới thiệu các bài viết trên Phù sa.
1/ Thượng tọa Thái Thuận yêu cầu các cấp chính quyền Bảo Lộc và B’lao để yên cho Tăng thân chuẩn bị sắp xếp ra đi
http://phusaonline.free.fr/PhatHoc/TinTuc/PNBN_3/141_Thuong-toa-TT.htm
2/ Niềm biết ơn dâng tràn
http://phusaonline.free.fr/PhatHoc/TinTuc/PNBN_3/142_niem-biet-on.htm
3/ Thiền Làng Mai với thế hệ trẻ Việt Nam
http://phusaonline.free.fr/PhatHoc/TinTuc/PNBN_3/145_thien-LM.htm
@ Hòa Nguyễn:
“Cũng lạ với tôi khi đọc thấy nhờ hai câu thơ dẫn trên mà ông bà ấy hoà giải được với nhau…”
Tôi cũng thấy lạ như ông HN.
Về việc “hành thâm Bát Nhã” của Ngài Quán Tự Tại (Đại) Bồ Tát, tôi cũng bó tay xin nhờ đến chư độc giả cao minh chỉ giáo, không rõ Ngài dùng phương pháp nào để “hành thâm”. Tôi chỉ thấy lạ ở điểm: một vị ĐBT đã là Phật rồi (trở lại làm ĐBT theo hạnh nguyện) mà cũng phải… thiền quán mới thâm nhập vào Bát Nhã Trí (BNT) hay sao? Người Phật tử thường thì dù có Thiền quán gì đi nữa cũng không cách nào vào được BNT (là TRÍ của hàng ĐBT và chư Phật). Lấy phương tiện có tướng để vào cảnh giới của Không Tướng có phải là điều “bất khả” không?? (Tôi nhớ lần góp ý trước đây, ông HN cũng đã từng nêu lên sự bất lực của ý thức – suy luận để hiểu Tánh Không).
Góp ý với ông Trung Nu Hoang.
Nhiều người khen bài viết của ông Trần Kiêm Đoàn, khen nhiều hay ít (tôi cũng khen là thiện tâm, đạo vị), nhưng thật ra tôi không hiểu ông Đoàn muốn nói gì. Tôi không nghĩ ông ấy viết rất cao xa đến mình không lãnh hội nổi, mà nghĩ ông ấy viết không sáng tỏ. Do đó trước hết tôi thấy ông Đoàn nợ người đọc ông một lời giải thích.
Trước hết, ông Đoàn cần cắt nghĩa hai câu tiếng Anh sau đây theo như ông hiểu, và muốn truyền đạt ý nghĩa cho người đọc. Kế đó, ông Đoàn phải giải thích thêm hai câu thơ dịch qua tiếng Việt, nếu không thừa nhận dịch như thế là không đúng ý nguyên bản, làm sai lạc hay thậm chí xuyên tạc ý kinh Ấn giáo (một lỗi rất nặng khi dịch kinh). Câu thơ tiếng Việt, chỉ được giọng réo rắt, du dương trong âm điệu, mà ý kinh theo tôi là không dịch đạt.
Before light exists, colorless, emptiness
Time passes in endless blue space
Trước sáng thế sắc màu như rỗng lặng
Mắt nghìn xưa ngan ngát nẻo phương xanh
Cái “rỗng không” ở đây không phải là rỗng lặng, và chỉ có ý nói không thấy có trước khi ánh sáng được “sáng tạo”, như tất cả các hiện tương đều không từng thấy có trước đó. Khác với ý của kinh Phật, rỗng không chỉ “bản tính” của hiện tượng đang cho là “hiện hữu”, được cảm nhận bằng giác quan hay ý thức. Phật giáo không chối bỏ các hiện tượng thầy biết do nhận thức thông thường, mà chỉ cho bản tính nội tại của hiện tượng là rỗng không.
Cái trống không (emptyness) trong câu thơ tiếng Anh trên chỉ có nghĩa là không có hiện tượng gì trước khi ánh sáng được tạo ra, một ý nghĩa rất thông thường, không mang màu sắc triết lý gì sâu xa (không ánh sáng thì không có gì hết, nhưng tại sao có màu không gian xanh ?). Về ý nghĩa thì ai cũng có thể cảm nghĩ như vậy, kể cả người Việt bình thường từ thời xưa. Nhưng người viết câu kinh trên chắc chắn thừa nhận trước khi có các hiện tương, như màu sắc, ít ra đã phải có cái gì đó rồi, có thể rất uy nghi, rất vĩ đại, lấp đầy, choáng hết, là nguồn gốc sáng tạo ra ánh sáng và mọi thứ tiếp theo. Đó phải là đấng Sáng tạo (hay Tạo hoá), đuợc gọi là Brahma trong Ấn giáo, hay Chúa trong Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo. Cho nên ngay lúc nguyên thủy nói tới, theo cách nhìn của Phật giáo, cũng không thật là rỗng lặng.
Cũng lạ với tôi khi đọc thây nhờ hai câu thơ dẫn trên mà ông bà ấy hoà giải được với nhau.
Trở lại chuyện bên Phật giáo về Không tính và Thiền quán. Tôi xin nhắc lại câu mở đầu Tâm kinh nhiều người biết ” Quán Tự tại bồ tát hành thâm Bát nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không…”(Lúc bồ tát Quán Tự tại đi sâu vào (Thiền) Bát nhã ba-la-mật-đa, soi thấy năm uẩn đều là không). Tôi hiểu chỉ cảm nghiệm, trực nghiệm được Không tính qua thiền quán. Nếu có cách nào khác hơn, thì tôi chưa đọc biết.
@ Phùng Tường Vân
Đây cũng chỉ là lạm bàn cho vui thôi nhé, chứ không giám múa rìu qua mắt thợ, xin bác/ông/anh chị Tường Vân thông cảm.
Theo chỗ hiểu biết giới hạn của tôi, Đức Phật đã đưa ra thuyết vô ngã để khai thị cho những người trong tông môn Bà La Môn vì họ có đức tin nơi thần ngã và tâm trạng của họ dễ rơi vào hố hoang mang của đoạn diệt và hư vô. Và thuyết vô ngã trong trường hợp này đồng nghĩa với KHÔNG (đây không phải là không có, không hiện hữu, mà là không có cái ngã đồng nhất bất biến riêng biệt), VÔ NGÃ và VÔ THƯỜNG. Vì không có cái thể chất (identity) riêng biệt nên nó rỗng lặng (= không, giải thích phía trên, tức là empty of a separate self), và vì vô ngã nên nó chứa tất cả (và vì vậy nó có đầy SẮC, không tức thị sắc), và chỉ cần một yếu tố của SẮC không chạy tốt là nó bị lung lay ngay (=vô thường) (tỉ dụ cái probe đo vận tốc của mày bay Airbus (Pitot probe) không chạy, tin vào vận tốc sai, máy bay đã có những đáp ứng không đúng và rơi xuống biển). Vì máy bay vô ngã, tức là được làm bởi những thứ tự nó không là máy bay (máy bay “rỗng lặng” (empty) vì được làm bởi những chất không máy bay). Và khi máy bay rơi, trên phương diện thòi gian vào thời điểm đó, hiện tượng đó được gọi là vô thường. Nói tóm vô ngã, vô thường và không đồng nghĩa. Tỉ dụ khác : hoặc nhiều khi ta nhậu cho cố rồi đến lúc cái gan nó trục trặc, ta đổ lỗi cho vô thường là thế (đời vô thường) mà quên rằng thân này vô ngã (tức là được làm bởi những cái tự nó không phải là thân và từ đó quên không trân quý cái gan).
Phật Đà dạy rằng không có một thực thể bất biến nào trong 5 uẩn (sắc thọ tưởng hành thức) và trong tất cả những hiện tượng vật lý, tâm lý, và sinh lý trong thế giới. Hợp thể ngũ uẩn cũng như tất cả những hợp thể khác tuy là một thực tại, nhưng những thực tại này là vô thường vô ngã, và vì vậy cho nên trong bản chất (nature), nó không có thể được diễn tả là có hay là không, là thường hằng hay là đoạn diệt. Thực tại đó vượt thoát khỏi bốn ý niệm có (bhava), không (abhava), thường hằng (sassata) và đoạn diệt (uccheda). Và đây cũng là đạo lý Trung Đạo của Phật Đà.
Trong Kinh A Hàm, Đức Phật nói với Ngài Kaccayana : “này Kaccayana, nói thế giới là có đó là một biên kiến, nói thế giới là không, đó là một biên kiến khác. Như Lai xa lìa hai biên kiến ấy và dạy đạo lý Trung Đạo” (Kinh Kaccayanagotta, Samyutta Nikaya). Và đây là căn bản trung đạo nhân duyên của Đạo Phật Đại Thừa.
@ Quý ông Đặng Thế Hùng và Hòa Nguyễn:
Hình như nhị vị đã lái xe bên… lề trái rồi đó. Đang thảo luận về ý nghĩa Rỗng Lặng trong Áo Nghĩa Thư của Ấn giáo – một tôn giáo Nhất Thần, thờ vị Trời Phạm Thiên – mà tôi đã trích dẫn từ bài viết của ông TK. Đoàn (“trước SUY TƯỞNG hồn nguyên sơ trắng lạnh”)…, nhị vị bỗng dzọt qua so sánh với nghĩa KHÔNG của Bát Nhã (tâm kinh) cao thâm của nhà Phật.
Theo tôi, KHÔNG của Bát Nhã đúng như ông Hòa Nguyễn nói: …”không thể hiểu biết, hay nắm bắt được Không tính của hiện tượng bằng suy luận, mà chỉ có thể thể nghiệm, qua cái nhận biết thẳng (trực giác), bằng phương pháp thiền quán.” [về điểm cuối này theo tôi, chưa hẳn chỉ bằng phương pháp thiền quán, vì đạo Phật nói có 84 ngàn pháp môn, (nhưng chẳng có pháp môn nào: cửa không cửa) pháp môn nào cũng có thể vào được, tùy căn cơ…].
Cũng theo nhà Phật, mọi tôn giáo Nhất Thần mà Ấn giáo là một, đều nằm trong vòng ý thức do suy luận, vọng tưởng phóng chiếu nên. Vì thế, chưa thoát khỏi 28 tầng Trời, còn nằm trong sinh diệt. Bởi vậy, theo tôi nghĩ, Rỗng Lặng của Áo Nghĩa Thư như ông Hoà Nguyễn viết: “Chủ nghĩa Hư Vô là một trong nhiều giáo nghĩa của Ấn Độ thời xưa” (trích) – khác với KHÔNG của nhà Phật: một bên là con đẻ của suy luận, của ý thức nhị nguyên (tương đối) còn một bên là Trí tuệ Bát-nhã (tuyệt đối), ví như “bóng trăng dưới nước” so với “mặt trăng trên trời”.
@ Ông Hòa Nguyễn: tôi hiểu LÝ là lý thuyết, học hỏi về giáo lý và SỰ là công phu tu, hành, thâm nhập và thực chứng, chắc cũng không khác với góp ý của ông (và nhất thiết không thể nói Sự là việc đời như đã bị… gán cho). Ví dụ về Lý, nói Vô Ngã thì Phật tử trung bình nào cũng có thể lý hội được qua suy luận. Nhưng thực chứng được Vô Ngã, phải trải qua nhiều công năng tu tập, thâm nhập sâu sắc, để rồi thường trực sống với sự thực chứng đó (phải là hàng A La Hán, Bồ Tát). KHÔNG Bát Nhã cũng thế.
Xin cám ơn nhị vị đã góp ý để… được dịp học hỏi thêm.
“Nhưng mà tôi muốn… nói thêm là rỗng lặng đây là rỗng lặng của một cái gí có tính đồng nhất bất biến như một cái ngã riêng biệt (empty of a separate self)” (Tri Ngộ)
Tôi nghe nói là giáo lý Phật Đà dầu cho có những dị biệt giải thích nhưng gần như không một tông môn nào thừa nhận có một cái ngã bất biến, xin được nghe tiên sinh soi sáng thêm cho chỗ ấy.
Đa tạ,
Bác Trần Kiêm Đoàn đang chuyển đề tài. Nhưng tui vẫn thích các đề tài trước đây hơn vì lối diễn đạt tình cảm sống động và tư tuởng lờ mờ, thăm thẳm…
Chẳng hạn như bốn câu thơ của ông viết về Phạm Duy và Trần Văn Khê dưới đây:
“Hai cụ già dắt tay nhau đi trên phố Huế
Vô tư tóc trắng da mồi
Gặp chị bộ đội và bà bán xôi
Cũng vô tư da mồi tóc trắng”
KHÔNG là một từ và cũng là một khái niệm bị hiểu sai và hiểu lầm nhất trong Phật giáo. Sunyata chẳng phải là HƯ VÔ (NIHILISM) hay KHÔNG CÓ GÌ CẢ (NOTHINGNESS) mà đấy là một trạng thái như như rỗng lặng. Kinh Bát Nhã Ba La Mật là kinh ruột của đạo Phật có giải thích: Trong KHÔNG, chẳng có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Chẳng có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý… Không sinh, không diệt… (KHÔNG trung: Vô sắc, vô thọ, tưởng hành thức. Vô, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý… Bất sinh, bất diệt, bất cấu…) Nhiều người đã nhầm lẫn giữa KHÔNG với BẤT, VÔ, PHI…trong từ Hán Việt. Tôi đọc và suy nghĩ rằng, sự rỗng lặng trong bài “Màu rỗng lặng” của Trần Kiêm Đoàn là một khái niệm Sunyata đã có ghi trong kinh Vệ Đà, hơn 3000 năm trước khi có đạo Phật ra đời ở Ấn Độ.
Có phải ý bác Trần là thế không nhỉ?!
Trung Nu Hoang viết: “Rỗng lặng là rỗng lặng TẤT CẢ mọi thứ.”
Như thế là chủ nghĩa Hư Vô, không phải Không Tịch (rỗng lặng), hay Không tính, là bản tính tuyệt đối của mọi hiện tượng theo ý nghĩa Phật giáo. Chủ nghĩa Hư Vô là một trong nhiều giáo nghĩa của Ấn Độ thời xưa (ở tây phương cũng có), nhưng không bao giờ là của Phật giáo.
Phật giáo gọi cái không “không có gì hết” đó là “ngoan không” mà người tu Thiền (sai lạc) có thể rơi vào lại lầm tưởng là đạt tới kết quả. Cũng gọi đó là một thứ ma chướng (tưởng lầm đã vào được niết bàn!).
Ai đã dẫn câu trong Tâm kinh sau đây là rất đúng:
Sắc tức thị Không
Không tức thị Sắc
Cái Không vẫn mang chứa cái Sắc, hay khởi đầu cho Sắc (vật chất). Nếu cần thí dụ (biết là khập khễnh) thì đó “như là” cái không nằm giữa hạt nhân nguyên tử và (các) điện tử đang chạy vòng quanh nhân; cái không đó rất rộng lớn, so với nhân và điện tử, và chứa cái gì đó gọi là trường (field). Trong cái “không” đó, ở một số điều kiện, có thể những hạt hạ nguyên tử (subatomic) xuất hiện, rồi biến mất. Đây chỉ là thí dụ minh hoạ. Vì với Phật giáo, không thể hiểu biết, hay nắm bắt được Không tính của hiện tượng bằng suy luận, mà chỉ có thể thể nghiệm, qua cái nhận biết thẳng (trực giác), bằng phương pháp thiền quán.
Lý và Sự trong ngôn từ Phật giáo, theo tôi hiểu, là muốn nói giáo lý, Phật pháp được đưa ra với phương cách thực hiện để đạt tới giáo lý đó. Không phải nói hay so sánh giáo lý với thế sự (sự đời).
Như đã nói, Tục đế và Chân đế là hai sự thật khác nhau, có giá trị ở bình diện khác nhau. Cái đúng ở chỗ (đế) này, chưa chắc đúng ở chỗ (đế) kia, vì cách nhìn, mục đích muốn đạt tới khác nhau từ căn bản. Cũng không liên quan đến chuyện đạo đẹp đời, hay đời đẹp đạo. Khi Thiền sư Nhất Hạnh bàn về vấn đề chính trị, như sự liên hệ giữa chính trị và tôn giáo, hay nên bỏ danh xưng XHCN, thì không phải thiền sư đang giảng Phật pháp, và nên nhìn nội dung câu nói đó chủ yếu ở mặt chính trị. Tất nhiên, cũng có liên quan giữa chính trị và tôn giáo ở câu chuyện, nhưng đây vẫn là chuyện chính trị. Nhà nước VN đáp lại bằng cách dùng chính trị, công an trả thù tôn giáo, cụ thể là trục xuất tăng sinh để chiếm chùa Bát Nhã, và như thế mới là nhập nhằng hai chuyện chính trị với tôn giáo vốn khác nhau.
Bạn Trung Nu Hoang,
Cám ơn bạn đã chỉ giáo thêm và bạn hoàn toàn có lý (tức là cái lý mà tôi nghĩ là tôi cũng đã hiểu). Có thể tôi đã quên không chú thích rõ là cái rỗng lặng mà tôi nói trong phản hồi trước là rỗng lặng trong thế giới của sự thật tương đối (tục đế) như có không còn mất v.v… Và trong thế giới này, rỗng lặng là rỗng lặng một cái ngã riêng biệt đồng nhất bất biến.
Còn cái rỗng lặng của thế giới chân đế thì thật là hoàn toàn rỗng lặng nhưng đó là sự tắt ngấm của phiền não và khổ đau, và cũng là sự tắt ngấm của mọi ý niệm có không và cả ý niệm rỗng lặng nữa.
Vì thế khi nói “màu rỗng lặng” tôi nghĩ là tác giả TKĐ vẫn còn đang bị “kẹt” vào ý niệm, vào ý niệm của cái rỗng lặng thường được xem như đồng nhất với hư vô và đoạn diệt. Cái rỗng lặng này không phải là niết bàn của Đạo Phật.
Cũng lại xin lạm bàn và xin lỗi đã làm mất thì giờ độc giả.
Xin cảm ơn ông VQK. Xin rút lại 4 chữ đó và xin lỗi tất cả độc giả.
Nhưng thay vì nói như vậy, tôi xin đổi lại là:
“Vì Sư Ông không đo lường được trước sự phản ứng vô nhân của nhà nước VN, với tấm lòng luôn trung thực với quê hương, Sư Ông đã lên tiếng…”
Nhưng tôi vẫn còn tí bức xúc: có 400 đứa con đang nằm trong miệng cọp, mà mình vẫn chọc cọp, có thể vì mình (1) không biết rõ cọp hiền hay cọp dữ (nêu trên), (2) biết cọp dữ nhưng vẫn “throw the dice” (như chơi cờ bạc ở casino).
Kết quả: 400 đứa con đang bị bọn công an hành hạ tơi tả và những tăng ni sinh còn lại đang sắp sửa phải rời Chùa Phước Huệ. Kết quả thật tang thương.
Hành động của thiền sư như thế thì phải gọi làm sao cho có văn hoá: ngây thơ, không chín chắn, hoặc chưa đủ nhìn sâu?
@ bạn Tri Ngộ: …” rỗng lặng là rỗng lặng một cái gì. Empty of what?
Đạo lý duyên khởi của nhà Phật có những câu sau:
Cái này có vì cái kia có
Cái này không thì cái kia cũng không.
Lấy mặt trời đi thì chúng ta sẽ chết dần mòn và sẽ bị tiêu diệt. Mỗi lần chúng ta dùng xe hơi là chúng ta đang giúp quả đất hâm nóng thêm…
Mọi hiện tượng và vạn vật trên quả đất hay trong vũ trụ này liên hệ mật thiết với nhau mà sinh thành và tàn hoại…”
Rỗng lặng là rỗng lặng TẤT CẢ mọi thứ. Nếu chỉ Rỗng Lặng một cái gì (mà thôi), hóa ra còn nhiều thứ khác còn quậy ở trỏng nữa hay sao ? Ngay cái nhận biết (suy tưởng) về Rỗng Lặng cũng rỗng lặng luôn thì mới thật sự là cái Rỗng Lặng của Upanisha (trích: trước SUY TƯỞNG hồn nguyên sơ trắng lạnh).
“Cái này có vì cái kia có,v..v..(cho đến chữ) tàn hoại” (theo thiển ý), thuộc về cảnh giới của tương đối, sinh diệt pháp.
Chỉ xin lạm bàn một chút với bạn Tri Ngộ gọi là cho rôm rả diễn đàn này thôi.
Từ lý thuyết đến thực hành (hoặc theo danh từ trong giáo lý nhà Phật: từ LÝ đến SỰ) là cả một khoảng cách xa vô cùng.
Sư Ông Nhất Hạnh khuyên bảo các đệ tử phải giữ “IM LẶNG SẤM SÉT” để chống lại sự bách hại của thế lực vô minh, nhưng Sư Ông lại không im lặng “bình thường” được, nói chi đến…thứ im lặng sấm sét của Tổ Bồ Đề Đạt Mạ trong suốt 9 năm ngồi nhìn vách đá của Chùa Thiếu lâm. Bởi không im lặng được, nên khi nói chuyện với cái “Đầu gối” Nguyễn Minh Triết mà cứ tưởng nói chuyện với đệ tử của mình, khuyên bảo những điều không đáng khuyên, vào thời điểm không thích hợp, với người thuộc loại căn cơ ma đầu, tóm lại là… không “khế cơ và khế lý” – theo danh từ nhà Phật.
Cũng bởi vì “lý sự” chưa thông, Trí Tuệ lờ mờ mà thường ưa rao giảng Bát Nhã(!!) Sư Ông đã gây nên lầm lỗi, gieo tai họa cho hàng trăm đệ tử tin theo mình mà phải bị bách hại, khốn tới khốn lui! Nhân nào, quả nào đây??