E. Barry Asmus và Donald B. Billings – Giá Trị Đạo Đức của Chủ Nghĩa Tư bản (2)
25/03/2009 | 11:30 chiều | 3 Comments
Category: Khủng hoảng đạo đức
Thẻ: Chủ nghĩa tư bản > đạo đức
Diên Vỹ dịch (www.x-cafevn.org), Đinh Tuấn Minh hiệu đính
(tiếp)
Chủ Nghĩa Tư Bản và Tôn Giáo
Đạo đức và công lý của hệ thống tư bản chủ nghĩa dựa trên mối tương quan mật thiết giữa tư hữu, thoả thuận tự nguyện, và chủ quyền của một cá nhân đối với vận mệnh của mình. Chúng ta có khuynh hướng coi khái niệm giá trị cá nhân là cái gì đó hiển nhiên, nhưng trên thực tế, sự quan tâm về quyền lợi cá nhân trở thành hiện thực chỉ khi xuất hiện chủ nghĩa tư bản. Thật ra, thị trường tự do không những không làm mất đi nhân tính của một con người, mà còn cho phép anh ta phát triển đầy đủ tính cách cá nhân của mình. Lương tâm con người và vai trò của nó trong việc nhận thức thiện và ác, vốn được xác nhận trong thời kỳ man khai của Thiên chúa giáo, đã thăng hoa dưới thể chế tư bản cạnh tranh.
Thời kỳ “bình minh của lương tâm”, cột mốc lịch sử mà trong đó những cá nhân ban đầu đấu tranh để được tự do về đạo đức và từ đó chịu trách nhiệm cho hành vi của mình, đã xuất hiện trước tiên tại Ai Cập và sau đó được người Do Thái vay mượn và phát triển. Sau đó Chúa Jesus và Thánh Paul đưa ra quan điểm công nhận cá tính riêng biệt của mỗi con người. Điều quan trọng là, giải thích này đại diện cho quan điểm cá nhân chủ nghĩa về con người; nó khẳng định rằng linh hồn của mỗi cá nhân là thứ quan trọng nhất. Thiên chúa giáo đã tạo ra một môi trường trong đó để được cứu rỗi, các cá nhân được tự do lựa chọn theo ý mình.
Thiên chúa giáo không những khám phá ra rằng linh hồn của mỗi cá nhân thì đáng được cứu rỗi, nó còn đưa ra khái niệm “pháp trị.” Mối quan tâm về khái niệm pháp luật cũng đã chứng tỏ rằng điều này rất quan trọng trong việc phát triển khái niệm tự do sở hữu và khế ước đất đai trong các nước phương Tây. Phải công nhận rằng những đóng góp này chủ yếu chỉ để bảo vệ tài sản của nhà thờ khỏi quyền lực của Nhà nước thế tục. Nhưng qua thời gian, những nguyên lý của “pháp trị” và quyền tư hữu tài sản đã phát triển mạnh mẽ trong quan hệ giữa người và người. Có một mối liên hệ rõ nét và khăng khít giữa nền đạo đức của Do Thái – Ki Tô và nền kinh tế thị trường tự do. Mối liên hệ này dựa trên quan điểm chính thức về vị trí trung tâm của cá nhân trong việc phân tích những mối quan hệ xã hội.
Hệ thống thị trường mở và tự do gần như là một môi trường hoàn hảo, hay ít ra là một bước tiến đảm bảo cho con người có được tự do ý chí. Nó cho phép người ta có thể thực hành hành vi đạo đức. Một người có thể học cách sửa đổi hành vi của mình chỉ khi nào người ấy được phép phạm sai lầm và hi vọng sẽ học hỏi từ những sai lầm ấy. Nói cho cùng, người ta sẽ khôn ra sau khi phạm phải sai lầm. Điều đáng tiếc là khi ảnh hưởng của chính phủ đối với cuộc sống người dân càng nhiều, thì cơ hội cho việc rèn luyện năng lực đạo đức một cách tự do càng ít đi.
Bản thân xã hội không thể có hoặc không có đạo đức; chỉ có cá nhân là phần tử có đạo đức. Dựa theo lập luận của Arthur Shefield, ta thấy rằng trong một hệ thống kinh tế, ” . . . nếu những đặc điểm cốt yếu của nó quả thực nuôi dưỡng hay củng cố hành vi cá nhân có đạo đức hoặc vô đạo đức, [thì] . . . hệ thống đó kết cục hoặc là một hệ thống có đạo đức hoặc là một hệ thống vô đạo đức.” Chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, dưới chế độ pháp trị, tích cực nuôi dưỡng hành vi có đạo đức và vì thế nó kết cục có thể sẽ là một xã hội có đạo đức. Khi những quyền tư hữu công bằng được bảo vệ, khi những cam kết được đảm bảo thực thi, và khi pháp trị được áp dụng, thì “bản chất tự nguyện trong những giao dịch tư bản chủ nghĩa sẽ thúc đẩy chúng ta tôn trọng người khác.”
Đạo Đức và Thị Hiếu Cá Nhân
Dĩ nhiên ta không thể biện luận rằng nền tư bản cạnh tranh luôn phát sinh những giá trị và tư cách mà ai ai cũng đồng ý. Dù thế, việc quan trọng là chúng ta có lòng khoan dung đối với loại hành xử được cho là “không thể chấp nhận được”, không ai ưa thích hoặc khó chịu miễn là nó không phương hại ai. Một cá nhân không nên vi phạm điều mà nhà xã hội học vào thế kỷ XIX Herberd Spencer gọi là “điều luật tự do bình đẳng,” trong đó nói rằng ” . . . một người có quyền tự do làm bất cứ điều gì mình muốn, miễn là anh ta không xâm phạm đến quyền tự do tương tự của người khác.” Vì thế những hành xử một cách hoà bình, bất bạo lực của con người thì không phải là một tội lỗi. Những ai thật sự tin yêu tự do phải phản đối những hành động cưỡng ép mà trong đó nó phủ nhận khả năng sống một cuộc đời đạo đức bằng cách ngăn cản quyền tự do lựa chọn mà đạo đức yêu cầu. Vì sự khác biệt của con người và những mục đích khác nhau mà họ theo đuổi, chúng ta phải chấp nhận những hành động được cho phép trong một xã hội tự do dù chúng gây khó chịu đối với thị hiếu cá nhân.
Lysander Spooner, một người đấu tranh đầy nhiệt huyết cho quyền tự do cá nhân trong thế kỷ XIX, đã thấy được một đặc điểm quan trọng: hành vi xâm phạm và/hoặc dùng bạo lực đối với thân thể hoặc tài sản của một cá nhân khác hẳn với hành vi, ” . . . trong khi có thể là vô đạo đức theo quan niệm chung, nhưng lại phải được phép tự do nảy nở, và thậm chí cần được luật pháp bảo vệ.” Không thể có được đạo đức ngoại trừ con người được tự do lựa chọn những hướng đi khác nhau mà không bị kẻ khác ép buộc. Nhà nhân văn học vĩ đại Albert Schweitzer đã nói rằng văn minh nhân loại chỉ có thể phục hồi khi một số người có thể phát huy một nếp nghĩ mới độc lập và trái ngược với trào lưu chung của số đông còn lại – một quan điểm sẽ dần chiếm ảnh hưởng đối với nếp nghĩ chung và từ đó đi đến xác định vị trí của nó.
Chỉ có phong trào bắt nguồn từ một quan điểm đạo đức cách tân mới có thể cứu rỗi chúng ta khỏi việc trượt dài đến chủ nghĩa tập thể. Như là một điều kiện cần, quan điểm đạo đức cách tân sẽ trở thành hiện thực chỉ nhờ sự lựa chọn cá nhân. Một lần nữa, chúng ta lại xác định được rằng chỉ có nền kinh tế thị trường tự do với hệ thống tư hữu và tự nguyện trao đổi mới có thể phát huy tối đa tiềm năng để sống một cuộc đời đạo đức.
Những tác động và hệ quả của quá trình cạnh tranh trong chủ nghĩa tư bản nói chung đồng nhất với trật tự đạo đức. Nhưng ngay cả khi chúng không nhất quán, việc phản đối những hạn chế mang tính cưỡng bức đối với những hành xử của con người không vi phạm qui luật tự do bình đẳng vẫn cực kỳ quan trọng. Phong cách sống đa dạng và quan điểm khác biệt là một trong những lý luận chính của quyền tự do của con người. Dưới thể chế tư hữu và thị trường tự do đôi khi những hành động gây khó chịu hay thậm chí ghê tởm vẫn được bảo vệ bởi luật pháp của một xã hội tự do.
Đạo Đức và những Lựa Chọn Khác
Nói tóm lại, cái hệ thống được gọi là “chủ nghĩa tư bản,” một ám chỉ đầy thị phi đối với nhiều người, chắc chắn là đồng nhất với đạo đức và công lý trong hệ thống xã hội của chúng ta hơn bất kỳ những hệ thống nào khác mà ta biết được. Tính chất vô đạo đức quá rõ ràng của những thể chế xã hội chủ nghĩa độc tài tại Ba Lan, Cu Ba, Đông Đức, Trung Quốc, Liên Xô, Iran, và những thể chế phát xít cánh hữu độc trị ở những quốc gia như Argentina và Chile, nơi mà quyền tự do căn bản nhất của con người bị chà đạp, nơi mà hàng triệu người bị giết hại trên danh nghĩa của một trật tự xã hội mới, đã chứng minh cho tính ưu việt của chính thể phân quyền tự do và cởi mở.
Nghèo đói và tàn bạo thật đáng ghê tởm. Trên bất cứ quan điểm nào, thật đau lòng khi nhìn thấy trẻ em bị đói khát. Vậy thì chúng ta hãy đặt câu hỏi rằng nền kinh tế nào có được đa số dân chúng đủ ăn, tự do lựa chọn ngành nghề và mức độ độc lập cao về tinh thần cũng như vật chất? Ở quốc gia nào người dân có cơ hội được tự do, một sự tự do thật sự? Những quốc gia xã hội chủ nghĩa có đem đến tự do, năng động, và độc lập như vậy không? Hay là trên thực tế, những quyền lợi ấy được nuôi dưỡng trong một cơ chế xã hội của thị trường tự do, tư hữu, và chính quyền bị giới hạn?
Bên trong những Giới Hạn về Quyền
Những câu hỏi trên đã được giải đáp. Liên Bang Xô Viết nói về “tự do” và “dân chủ,” nhưng dường như họ không gặp phải khó khăn trong vấn đề nhập cư. Cộng sản Đông Đức, bên cạnh đó, đã phải xây một bức tường bê tông cốt thép khổng lồ và canh giữ nó ngày đêm để chống lại việc dân chúng bỏ xứ ra đi. Ngay cả trong những thể chế “dân chủ xã hội,” việc xây dựng một hệ thống yên ổn và quân bình cũng đang bị thất bại. Trong những năm gần đây nền kinh tế đang xuống dốc của Pháp, dưới mô hình xã hội mạnh mẽ của Mitterand, đang là trò cười cho cả thế giới. Câu chuyện thần thoại về một xã hội utopia của Thụy Điển đã bộc lộ bản chất thật sự trong cuốn The New Totalitarians [Những Nền Chuyên Chế Mới] của Roland Huntford.
Frederic Bastiat, nhà kinh tế học và phê bình xã hội nổi tiếng người Pháp trong thế kỷ thứ XIX, đã tìm ra những đặc điểm cần thiết của một thể chế thật sự công bình và đạo đức. Ông đã hỏi một câu hỏi vô cùng quan trọng:
“. . . người dân ở nước nào thì đạo đức nhất, hoà bình nhất và hạnh phúc nhất? Ta thấy những người dân này sống trên những đất nước có nền luật pháp ít can thiệp nhất vào vấn đề riêng tư; nơi chính quyền có ảnh hưởng ít nhất; nơi mà cá nhân phát huy được hết khả năng của mình, và được tự do bày tỏ chính kiến đối với thế lực lớn nhất; nơi quyền lực quản lý ở mức tối thiểu và đơn giản nhất; nơi có chính sách thuế nhẹ nhất và hầu như là công bằng; . . . nơi những cá nhân và tổ chức tích cực nhất gánh vác trách nhiệm của mình, và vì thế mà đạo đức của . . . con người liên tục tiến triển; nơi thương mại, đoàn thể, và hiệp hội ít bị giới hạn nhất; . . . nơi hầu hết con người theo đuổi xu hướng tự nhiên của họ; . . . nói tóm lại, những người hạnh phúc nhất, đạo đức nhất và ôn hoà nhất là những người hầu như đều đi theo một nguyên tắc: Mặc dù nhân loại không hoàn hảo, mọi niềm hi vọng đều dựa trên những hành động tự do và tự nguyện của con người bên trong những giới hạn nhất định về quyền; luật pháp hoặc bạo lực không được dùng đến trừ phi để thi hành công lý chung cho mọi người.”
Vì hiểu rằng vấn đề chúng ta đưa ra về nền tảng đạo đức của chủ nghĩa tư bản cần phải tiếp tục tinh lọc, ta hãy tìm hiểu lời dạy của Thánh Augustine. Ngài lập luận rằng sự sung túc vật chất không nhất thiết sẽ đem lại những lựa chọn tốt hơn, một giá trị đạo đức cao cả hơn, hoặc nhiều hạnh phúc hơn. Đề cập đến trái đất và tình trạng khó khăn của con người, Ngài viết: “Những gì cõi địa giới mong muốn không thể bị coi là xấu xa, vì trong bản chất cõi địa giới cũng đã tốt đẹp hơn những sản phẩm khác của con người. Vì rằng cõi địa giới mong muốn một sự bình an thế tục để tận hưởng những sản phẩm thế tục. Con người có quyền theo đuổi những thứ này, vì chúng là những thứ tốt đẹp, và không còn gì nghi ngờ, chúng là món quà từ Thượng đế. Nhưng còn có những thứ tốt đẹp hơn và chúng ở cõi địa đàng và được bảo vệ bởi sự vinh hiển muôn đời và nền hoà bình vô tận.” Loại giá trị đạo đức ấy nằm giữa mỗi cá nhân và Thượng Đế của anh ta. Việc được cứu rỗi lại là một vấn đề khác.
Sự Hưng Phấn khi Tìm Hiểu Tự Do
Bỏ qua những lập luận của Bastiat, Hayek, Shenfield và những người khác, một câu hỏi lý thú và quan trọng cần được nêu lên. Tại sao một cơ chế xã hội đã tạo ra những điều kiện sống ngày càng cao chưa từng thấy trong lịch sử của những quốc gia ứng dụng những nguyên tắc trên, và đồng thời cũng đã xoá đi tính bất nhân giữa người với người bằng uy lực của nó, lại chiếm một vị thế thấp kém trong suy nghĩ của hàng triệu con người? Hayek đã rất đúng khi ông nhấn mạnh rằng chúng ta một lần nữa phải biến việc nghiên cứu về tự do trở thành một đề tài trí tuệ đầy cảm hứng. Không chỉ vì những lý do kinh tế, triết lý hoặc lịch sử mà là vì hàng tỉ người dù biết hay không, ít nhất họ phải hiểu rằng tư tưởng có những hệ lụy của chúng, và đời sống của họ sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những gì các triết gia viết ra. “Tự do,” Alexis de Tocqueville nói, “không thể có nếu như không có đạo đức, cũng giống như không thể có đạo đức nếu như không có đức tin.”
Nếu nước Mỹ muốn tồn tại, những nhân tố hiện đại đầy thuyết phục của nó phải được liên kết với những gì mà Russell Kirk gọi là “những vấn đề vĩnh cửu,” và George Nash gọi là “. . . những vấn đề tâm linh và những thể chế nuôi dưỡng chúng.”
(Hết)
Nguồn: The Morality of Capitalism by E. Barry Asmus and Donald B. Billings
http://www.fee.org/publications/the-freeman/article.asp?aid=1911
Bình luận
3 Comments (bài “E. Barry Asmus và Donald B. Billings – Giá Trị Đạo Đức của Chủ Nghĩa Tư bản (2)”)
Căn bản đạo đức và chủ nghĩa tư bản.
Vì bạn Đinh Tuấn Minh đặt nhiều vấn đề nên tôi mới viết bài này để trao đổi. Vì thời gian ít ỏi, nên ít dẫn chứng hàn lâm thiếu tính cách giáo khoa hay hệ thống mạch lạc mà chỉ đóng góp trả lời nhớ gì nói đó và có thể sai mong bạn đọc thôn cảm sữa chữa dùm cho. Thân mến. ĐN.
Khác với Asmus va Billings, tôi nghĩ chủ nghĩa tư bản đặt nền trên tư hữu tự do và tự nguyện trao đổi trên thị trường vì duy lợi; và thị trường tư bản chủ nghĩa hãy còn nhiều thất bại vì lòng tham lam thuận lý nhưng ích kỷ, giả tạo của con người với những ảnh hưởng chết người như giặc giả, đói kém, hận thù. Chủ nghĩa tư bản cần có đạo đức để tồn tại. Đạo đức đã tồn tại trong những hệ kinh tế khác nhau từ lâu nay (thí dụ nhiều người tử tế vẫn hiện hữu trong hệ kinh tế cộng sản) và không cần chủ nghĩa tư bản để tiếp tục tồn tại. Ngược lại, chủ nghĩa tư bản không đạo đức sẽ cho một nền kinh tế thị trường hoang dã trong một xã hội thiếu tình thương với nhiều giả trá, ác độc, phân ly, loạn lạc.
Thị trường hệ kinh tế tư bản dựa trên cá nhân tự nguyện quyết định thỏa thuận trong các hợp đồng mua bán chuyển nhượng tư hữu và chịu trách nhiệm về các quyết định đó. Khi nói đến nền tảng này, cũng nên nói đến tư thế bất cân xứng của đôi bên nhất là các tư thế về quyền lực chính trị, thông tin mật, quyền lực kinh tế thường có trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Các hợp đồng dầu được ký kết trong sự vui vẻ tự do tự nguyện hoàn toàn của đôi bên nhưng điều ta thường thấy là sẽ có một bên “vui vẻ” hơn sau đó.1. Một người xâm phạm tài sản, cơ thể của người khác?
Người ta vẫn có thể xâm phạm tài sản, cơ thể người khác qua các hợp đồng “tư bản chủ nghĩa”, nhưng có điều lạ là nạn nhân lại vui vẻ “tự nguyện” ký tên để bị bóc lột sức lực, tài sản, cơ thể mà vẫn không hay cho đến khi có người biết chuyện (chính quyền, nghiệp đoàn, hiệp hội) lên tiếng dùm, hay lợi dụng lấy cớ để tạo đấu tranh giai cấp và làm cách mạng xã hội chủ nghĩa!
Làm giàu hợp pháp theo đúng hợp đồng trên sự ngây thơ hay thất thố kiến thức của người khác là đạo đức của “con người cũ tư bản chủ nghĩa”! Làm giàu qua nghị quyết của đảng là đạo đức cách mạng của “con người mới xã hội chủ nghĩa”!
2. Một người hành động A, B.. và gây ra những hậu quả a, b.. nhưng sau đó phủ nhận hành động của mình?
Trong hệ kinh tế tư bản người gây ra hậu quả a, b.. để mưu lợi thường không biết (a,b..) vì hạn hẹp kiến văn; hay vì kinh nghiệm nghề nghiệp mình biết nhưng không cho đối tác hay người ngoài biết đến (a,b..) để được và dám ký giấy hợ đồng rồi thực thi công trình. Khi làm xong, sanh ra tai biến (a,b..) và nếu ai biết đến chất vấn thưa kiện thì họ không phủ nhận việc mình làm nhưng biện bạch rằng điều đó không có trong hợp đồng thỏa thuận. Làm đúng hợp đồng để chạy tội (không phải phủ nhận) thì theo chủ nghĩa tư bản là Không Tội. Trong trường hợp đó thì nhà nước (hay người dân đóng thuế) phải lãnh trách nhiệm trong việc bồi thường nạn nhân của (a,b..). Thí dụ: công ty dùng thạch miên (asbestos) làm chất điều hòa nhiệt độ (insulator) nhà cửa. Khi biết là thạch miên gây ung thư, công ty vô tội và chính phủ phải quyết định chi tiền làm sạch nhà các người tiêu dung sản phẩm đó. Rất may là các công ty thuốc lá bây giờ hết đường chạy tội vì “giai cấp smokers đã đoàn kết lại và họ không có gì mất ngoại trừ mất mạng”! Đó là đạo đức tư bản “ô kê Salem”!
3. Một người cam kết sẽ làm A, B.. nhưng sau đó phá bỏ cam kết dẫn đến hậu quả xấu cho người khác?
Vẫn là hành động đạo đức nếu người đó thấy viễn ảnh về tai hại sẽ đến với những người chung quanh mình nếu thực thi thỏa mãn hợp đồng A, B. Thí dụ: Đảng DR cam kết với tiểu bang Alkol giảm thuế rượu khi tranh cử, nhưng khi đã thắng cử thì nuốt lời dầu đã được nhiều hang rượu tài trợ chút đỉnh khi tranh cử. Một hai năm sau khi nắm quyền đảng DR không giảm thuế rượu mà lại còn tăng vì thấy tai hại của rượu quá lớn trên thanh thiếu niên, và ngân sách thêm thiếu hụt vì y phí cho số bịnh nhân nghiện rượu tăng cao. Đảng DR có đạo đức chớ sao lại không dầu đã không giữ lời cam kết!
4. Một người không yêu con cái, vợ chồng của mình, không kính trọng bố mẹ, ông bà của mình nữa?
Nếu người này là đệ tử ruột của chủ nghĩa tư bản và bố mẹ mình có của hồi môn to hay là vợ hay chồng mình có mỏ kim cương thì dầu không yêu cũng ráng hiếu để hay cung phụng, chiều chuộng vì các lợi ích kinh tế dài lâu sau này. Chủ nghĩa tư bản khuyến khích người ta đạo đức…giả.
5. Một người không còn tin vào Jesus, vào Phật?
Nếu thế thì tư bản thuyết mặc sức lèo lái người này trở thành người tư bản nguyên thủy hay hoang dã (na ná như kinh tế thị trường hoang dã ở Việt Nam mình) và người đó là một người đạo đức…xã hội chủ nghĩa định hướng kinh tế thị trường tu bản.
6. Một người không còn yêu nước nữa (e.g. làm gián điệp)?
Yêu nước là một khái niệm nằm ngoài đạo đức và ngoài luôn cả kinh tế. Khi nói yêu nước phải kèm theo thương dân. Công chúa Huyền Trân ăn ở không đạo đức không thủy chung không giữ “hợp đồng” với vua Chiêm Thành nhưng phúc lợi Công Chúa mang cho dân Việt thời đó và những thời sau quá lớn lao (được hoà bình mà lại còn them đất đai) trong khi cái đau của Trần Khắc Chung và của riêng mình chỉ là do số kiếp. Vì thế Công Chúa có đạo đức…ngoại giao hay bang giao quốc tế cho hòa bình nhân loại.
Còn Hồ chí Minh vì “thương dân” mình đang chịu kềm kẹp bởi thực dân đế quốc Mỹ Ngụy nên ký và giữ “hợp đồng” làm nghĩa vụ quốc tế vô sản anh em, đã tiếp tục trường kỳ kháng chiến làm “kách mệnh” khiến cho dân mình khổ quá xá quà xa, người khùng, người điên, người vượt biên, người chết. Vì cái hại việc “thương dân” mà giữ “hợp đồng” của “bác Hồ” quá cao so với cái lợi “không có gì quý…” cho nên theo tư bản luận thì “bác” có đạo đức tư bản chủ nghĩa và theo Mác Lê luận thì “bác” còn có thêm đạo đức…kách mệnh.
7. Một người không đóng góp cứu trợ cho nạn nhân bị bão lụt ở miền trung, động đất ở Tứ Xuyên?
Nếu người đó đóng góp để được cái lợi là thắng cử, nỗi tiếng, quảng cáo thương hiệu thì theo luận bàn tư bản chủ nghĩa: người đó có đạo đức …dổm.
8. Một người tiêu thụ nhiều điện, nước v.v. khiến cho trái đất nóng lên?
Nếu luận bàn theo tư bản chủ nghĩa thì người đó sẽ phải trả tiền điện nước mệt nghĩ khi luật lệ về Emissions Trading Scheme (ETS, Thị trường mua bán khí thải) được ban hành và người đó sẽ không có đạo đức nếu nhà nghèo con đông lại phải xài than đá để nấu cơm vì điện gas bị cúp (do không tiền trả biu).
Tóm lại:
Nghiền ngẫm chủ nghĩa tư bản không tạo thêm tính thiện hay tính ác nơi con người. Thị trường trong hệ kinh tế tư bản gia tăng khả năng con người trong việc thực hiện dễ dàng hữu hiệu nhất các dự tính kinh tế hợp pháp để phát triển kinh tế quốc gia qua những sự thỏa thuận song hay đa phương về giá cả, lương bổng, phẩm lượng sao cho có lợi nhất; và vì chữ “lợi nhất” này thị trường kinh tế tư bản cũng dễ trở thành môi trường tốt cho tham lam, ích kỷ, đạo đức giả, dối trá, lường gạt và ngay cả sự gian ác, chiến tranh khi có va chạm quyền lợi.
Thị trường của hệ kinh tế tư bản cũng có thể thất bại dẫn đến sự mất hữu hiệu từ khâu khai thác đến sản xuất đến phân phối khiến cho nhân, vật và tài lực của quốc gia bi phí phạm hay các phúc lợi từ tài nguyên công rơi vào tay một số ít người có nhiều ưu thế về chính trị, quyền lực, thông tin trong xã hội (một hình thức ăn cắp của công thuần lý và hợp pháp đến từ sự thất bại của thị trường).
Để vượt qua các tác hại do chủ nghĩa tư bản mang đến, xã hội cần là một xã hội dân sự trong đó các hiệp hội, hội đoàn độc lập, phi-chính-phủ được phép lập ra và được luật pháp bảo vệ để quyền lợi của thành viên không bị cướp đoạt “hợp pháp” bởi lòng tham lam của người khác.
Các đạo luật về hợp đồng, thương mãi, tư hữu, kỹ nghệ và lao động cũng cần phân minh, công bằng, được tuân thủ để tránh sự bóc lột tài nguyên, nhân lực của xã hội dẫn đến những mối lợi nhuận quá to vô lối đến từ tệ nạn đầu cơ hay độc quyền trong mua, bán hay thông tin.
Chủ nghĩa tư bản cần ý thức đạo đức của tôn giáo để hướng thượng, hướng thiện, không bị lên án để tồn tại. Chủ nghĩa tư bản là một chủ thuyết kinh tế đặt nền tảng trên “duy lợi” nên nó cần tôn giáo để thăng hoa chớ không phải ngược lại. Có thể vì lý do này mà đồng đô-la Hoa-Kỳ có in hang chữ “In God we trust”. Phải không?
Đào Nguyên:
Ta hãy đặt những câu hỏi sau:
1. Một người xâm phạm tài sản, cơ thể của người khác?
2. Một người hành động A, B.. và gây ra những hậu quả a, b.. nhưng sau đó phủ nhận hành động của mình?
3. Một người cam kết sẽ làm A, B.. nhưng sau đó phá bỏ cam kết dẫn đến hậu quả xấu cho người khác?
4. Một người không yêu con cái, vợ chồng của mình, không kính trọng bố mẹ, ông bà của mình nữa?
5. Một người không còn tin vào Jesus, vào Phật?
6. Một người không còn yêu nước nữa (e.g. làm gián điệp)?
7. Một người không đóng góp cứu trợ cho nạn nhân bị bão lụt ở miền trung, động đất ở Tứ Xuyên?
8. Một người tiêu thụ nhiều điện, nước v.v. khiến cho trái đất nóng lên?
Hành vi nào là vô đạo đức? Câu trả lời CÓ được mọi người chấp nhận có lẽ là các câu 1, 2, 3. Còn các câu khác sẽ là HOẶC có HOẶC không tùy vào quan điểm, hoàn cảnh của mỗi người.
CNTB đồng hành với CÓ trong các câu 1, 2, 3 và cho phép lựa chọn với các câu khác => Nó bền vững.
Tôi nghĩ vậy.
Trong bài, Asmus & Billings có bàn về đạo đức một chủ nghĩa kinh tế và tôn giáo. Suy gẫm bài tôi nghĩ nếu mọi người đều như Lão Tử họa may kết luận trong bài mới được chứng minh vẹn toàn. Đồng ý thị trường tự do không làm mất nhân tính (không làm mất nhận thức thiện & ác do Thánh Linh hay Lương Tâm ban cho) nhưng -trong thực tế- không chắc là thị trường của hệ kinh tế tư bản hoàn toàn hướng thêm nhiều người đến cái thiện và xa rời cái ác. Vì sao? Vì hệ kinh tế tư bản phát triển đầy đủ tính duy lợi của con người trên thị trường nhiều hơn là tính hướng thiện(Gary Becker’s “Crime and Punishment:An Economic Approach” J.Pol.Ec.1968).
Phát triển tính duy lợi có thể khiến con người xem thường luật pháp, các giá trị đạo đức lẫn tình yêu thương (nền của đạo đức). Tính duy lợi cho phép hành vi đạo đức (nếu mang đến lợi, xem Becker’s Rotten Kid Theorem), lẫn những hành vi vô đạo đức hay ích kỷ vì “có lợi”. Sai thì sửa nếu sửa cho thêm lợi hay giảm bớt rủi ro dầu mất chút ít lợi. Quá khôn!