talawas blog

Chuyên mục:

Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân

26/11/2009 | 8:08 sáng | 26 Comments

Tác giả: talawas blog

Category: Thời sự / Spectrum

Sáng ngày 25/11/2009, Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án hai nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận với hơn 77,5% số phiếu tán thành, 15,4% phản đối và 7,1% không biểu quyết.

VietNamNet đưa tin rằng mặc dù trước đó nhiều đại biểu Quốc hội đã đề xuất không nên xây hai nhà máy cùng lúc mà nên xây trước một nhà máy để thử nghiệm, song Chính phủ vẫn kiên quyết giữ phương án cũ. Bài báo cũng cho biết Chính phủ đã thống nhất lựa chọn thế hệ lò hiện đại nhất đã được kiểm chứng, bảo đảm tuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế!?

Theo BBC, trong bản giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Công thương cho rằng điện hạt nhân là “lựa chọn thích hợp” cho Việt Nam, khi nguồn than đang cạn dần, mỏ dầu sắp hết, năng lượng thay thế chưa tìm ra.

Báo Nhân dân có đề cập tới việc thông qua Nghị quyết này với vỏn vẹn hai dòng: “Quốc hội sáng nay cũng đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, với hơn 77% đại biểu tán thành.”

Trang Bauxite Việt Nam vẫn tiếp tục giữ vai trò phản biện về dự án điện hạt nhân với việc giới thiệu thư ngỏ của TS Phùng Liên Đoàn, bài viết của Hà Văn Thịnh và thư ngỏ của Đinh Kim Phúc.

Bình luận

26 Comments (bài “Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân”)

  1. Trương Nhân Tuấn viết:

    Dự án điện hạt nhân (tiếp theo)
    Có một số điều cần nói rõ thêm :
    Về hiệu quả kinh tế : Tôi có một nhận xét về sự so sánh và phê bình của GS Nguyễn Khắc Nhẫn về hai tỉ số phát triển GDP và nhu cầu năng lượng của VN (theo bài trên Diễn Đàn mà anh Lê Anh Dũng có đưa link).
    Ở một nước đang trên đà phát triển như VN, năng lượng tiêu hao cho xây dựng hạ tầng cơ sở luôn nhiều hơn so với năng lượng sử dụng cho sản xuất (và tiêu dùng). Việc này gây hậu quả là cường độ năng lượng sẽ tăng (như đã viết trong bài) trong một hời gian dài. Nhiều người không nhìn thấy điểm này nên phê bình rằng việc sử dụng năng lượng ở VN không hiệu quả. Tương tự như vậy, GS Nguyễn Khắc Nhẫn đã không tính tới việc trong một thời gian dài, có thể 10 hay 20 năm, tùy theo hiệu quả của mô hình phát triển, năng lượng cần thiết để xây dựng của VN sẽ tăng rất cao. Chỉ sau khi hạ tầng cơ sở đã được xây dựng và ổn định, năng lượng dùng cho việc này sẽ giảm đi, hầu hết năng lượng sẽ sử dụng cho sản xuất (và tiêu dùng), lúc đó cường độ năng lượng sẽ giảm xuống (tức dùng năng lượng có hiệu quả).
    Về trữ lượng Uranium, góp ý với anh Tri Ngộ : Về tính toán số học thì trong 80 năm nữa thì Uranium sẽ cạn. Riêng plutonium thì không có (hay có cực kỳ ít) trong thiên nhiên. Chất này chỉ có được trong quá trình lọc (làm giàu) các thanh nhiên liệu đã sử dụng trong các lò phản ứng hạt nhân. Tức là, nếu nói về trữ lượng trong thiên nhiên « nhiên liệu » cho năng lượng hạt nhân thì chỉ nói tới mỏ Uranium. Theo đà khai thác và sử dụng hiện nay thì Uranium còn khoảng 80 năm, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy các lò hạt nhân sẽ ngưng chạy sau 80 năm hết cả. Có hai lý do : 1/ hiện nay số plutonium lấy ra từ các đầu đạn hạt nhân của Hoa Kỳ và Nga, do hậu quả của các hiệp ước tài giảm vũ khí chiến lược (START), thì có một số lượng rất lớn. Một phần Pu lấy từ đây được chuyển biến thành MOX, (gồm có Pu và U238) làm nguyên liệu xài cho lò phản ứng. 2/ Hiện nay người ta có thể « sản xuất » được Uranium hay Plutonium bằng các lò phản ứng « surgénérateur ». Nhà máy này sẽ sản xuất nhiên liệu nhiều hơn nó tiêu thụ. Ở Pháp có lò kiểu mẫu Phénix. Mặt khác, trên lý thuyết, người ta có thể xây dựng lộ lò phản ứng sử dụng Thorium, một chất có nhiều trong thiên nhiên. Chất Thorium chịu dựng các chùm tia neutron có một năng lượng nhất định bắn vào, thì Thorium sẽ trở thành U235 hay Pu239. Hai chất này « phân nhân, fissile », do đó lò sẽ « chạy » !
    Tôi có một số bài viết về năng lượng hạt nhân đăng báo từ thập niên 90, tiếc là bị mất hết, chỉ còn một vài bài scan được lại ở đây : http://vn.myblog.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=163&prev=169&next=-1
    http://vn.myblog.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=169
    Các bạn có thể tham khảo.

  2. Tri Ngộ viết:

    Tôi không đồng ý với độc giả NTB về cách nói hàm hồ của anh ta về việc người VN thích “ngồi lê đôi mách” và có thái độ “mũ ni che tai” trên những vấn đề quốc gia đại sự. Hay là anh ấy muốn nói đến những người đang đóng góp trên diễn đàn talawas thôi?

    Dẫu sao chăng nữa, theo tôi việc quản lý của những vấn đề quốc gia đại sự ở Việt Nam hiện nay không được nghiệm chỉnh và chân chính, vì việc quản lý này được đặt hoàn toàn trên một số người rất giới hạn mà tài cán và sự hiểu biết kỹ thuật rất kém, vì nguyên tắc chọn người vào các cấp lãnh đạo cũng như vào quốc hội vẫn còn dựa trên nguyên tắc “hồng hơn chuyên” (tức là tối thiểu cũng phải là đảng viên của ĐCSVN, và tốt hơn là có quá khứ “cách mạng” hoặc “đi kháng chiến” cao). Theo tôi, cái bản đồ quản lý này là mô hình của tất cả mọi thất bại dài hạn cho quê hương VN.

    Về phương diện quản lý năng lượng, VN hiện nay không có một kế hoạch và chương trình khuếch trương dài hạn. Những dự án phần lớn là đột xuất, đến bất thình lình. Khi một số những nhà trí thức lên tiếng, như vụ bô xít Tây Nguyên, nhà nước làm lơ và tiếp tục độc đoán trên những quyết định tối hậu. Rồi đến vụ biển Đông. Rồi đến vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo. Quyền quản lý tối hậu nằm trong Bộ Chính trị ĐCSVN, trong tay độ vài chục người là tối đa. Những người này không cần mũ ni che tai, sự hiểu biết nông cạn của họ về khoa học kỹ thuật, về kinh tế, về tôn giáo, về tiến trình dân chủ và quyền sống của người dân chính là mũ ni che tai và sự hiểu biết nông cạn này là một trở ngại lớn cho đà tiến của nhân dân VN. Đó là chưa kể đến cái vành sắt hiến chương độc đoán của nhà cầm quyền VN hiện nay (độc đảng) không cho phép sự phát triển theo đường lối đa nguyên và đây là một trở ngại lớn thứ hai cho sự phát triển quê hương.

    Ngay về vấn đề dùng năng lượng hạt nhân, hai nước tân tiến là Ý Đại Lợi và Thụy Điển đã cho phép dân họ được có tiếng nói cuối cùng qua hai cuộc trưng cầu dân ý! Nước Đức, một cường quốc của G8 (rồi G20) cũng đã quyết định chấm dứt dùng năng lượng hạt nhân vào năm 2030.

    Nói thế không có nghĩa là tôi chống việc dùng điện hạt nhân. Có thể điện hạt nhân là một giải đáp tốt cho nhu cầu VN trong tương lai. Và việc này tôi mong là nhà nước VN sẽ minh bạch hơn và cho dân biết rõ hơn tại sao mình đi về hướng đó. Chứ không phải đùng một cái là quyết định nhất thời. Cũng như đùng một cái sắp sửa dẹp nông trường sông Hậu và biến nó thành một công nghiệp có nhiều biệt thự và sân golf.

    Tám mươi năm nữa sẽ hết nguyên liệu nguyên tử (Uranium và Plutonium), lúc đó nhà cầm quyền VN sẽ giải quyết vấn đề ra sao?

    Nói theo nhạc sĩ Văn Phụng, thôi thì cứ vui hết đêm nay, mai sẽ hay. Như vậy nhiều khi mũ ni che tai cũng là một cá tính tốt của dân ta. Dân trí càng thấp thì cai trị càng dễ.

    Nói theo Ngài NMT: “tham nhũng chỉ là “mượn tạm” thôi ấy mà, không thấy ai đòi thì mình tiếp tục mượn tiếp, nó cũng có khác gì hỉ nộ ái ố đâu”.

  3. Trương Nhân Tuấn viết:

    Thưa anh Lê Anh Dũng cùng quí bạn,
    Tôi thông cảm những ưu tư của anh về quyết định thành lập hai nhà máy « điện hạt nhân » của VN. Tôi có cái nhìn riêng về việc này và phần nhiều khác với nhận thức của anh. Nhưng tôi hoàn toàn chia sẻ với anh và bạn Tâm Bảo về việc cơ bản : trách nhiệm của trí thức. Ở những vấn đề lớn, có liên quan đến vận mạng của cả dân tộc, thì mọi quyết định chung cuộc đều phải có sự đóng góp trí tuệ của thành phần trí thức.
    Về chủ đề này, theo tôi, để có một cái nhìn đúng đắn về dự án, chúng ta cần phải xét đến nhiều lãnh vực chuyên biệt khác nhau. Ý kiến của GS Nguyễn Duy Hiển là về nhân sự đào tạo. Ý kiến của ông Nguyễn Khác Nhẫn là về hiệu quả kinh tế. Nhưng theo tôi việc quyết định không chỉ tập trung ở hai khía cạnh này. Tôi cũng có đọc nhiều bài phản biện của ông Phùng Liên Đoàn, một khoa học gia về hạt nhân nổi tiếng trên thế giới, trên mạng bô xít. Dự án điện hạt nhân của VN mang tầm chiến lược, bao hàm việc đào tạo nhân sự cho phát triển giáo dục, về an ninh quốc gia, về phát triển bền vững v.v…
    Tôi xin gởi kèm bài viết sau đây của tôi (« Vài suy-nghĩ về năng-lượng và chiến-lược phát-triển quốc-gia » viết năm 2006) về một số khái niệm cơ bản về năng lượng và phát triển quốc gia. Bài này cũng cho thấy lập trường của tôi (lúc đó) về năng lượng hạt nhân. Tôi cũng có viết vài bài ngắn gần đây về chủ đề này : http://vn.myblog.yahoo.com/truongnhantuan/index?&page=3 , http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4372
    Vài suy-nghĩ về năng-lượng và chiến-lược phát-triển quốc-gia
    http://vn.myblog.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=80
    Đã qua rồi thời-kỳ dễ-dàng khi sử-dụng năng-lượng để phát-triển kinh-tế cũng như công-kỹ-nghệ hóa đất nước. Trong thời-kỳ các nước Tây-Âu phát-triển (các thập-niên 1945-1965), giá dầu thô chỉ ở khoảng 1 đến 2 đô-la một thùng. Giá dầu hiện nay dao-động khoảng 60-70 đô một thùng. Yếu-tố quan-trọng khác, nhu-cầu năng-lượng của thế-giới ngày một tăng trong khi nguồn dự-trữ lại giảm lần. Nếu không có gì thay thế, dầu hỏa sẽ trở thành khan-hiếm vào những năm 2040. Giá-cả năng-lượng do đó càng ngày càng tăng cao. Việt-Nam, tuy các số-liệu chính-thức về khai-thác dầu không được công-bố, nhưng qua các ước-lượng của báo-chí nước ngoài thì trữ-lượng cũng như mức sản-xuất của Việt-Nam ở mức rất khiêm-nhường. Ba mươi năm thời-gian không dài. Việt-Nam vì thế phải biết ăn theo thuở ở theo thời, phải biết tiết-kiệm mọi tiềm-năng có sẵn trong nước. Nguồn dầu mỏ khiêm-nhường kia không được hút xài phung-phí như hiện nay, vì nó không phải chỉ của thế-hệ hôm nay mà còn của các thế-hệ mai sau. Vì thế nó phải được ưu-tiên dùng vào mục-tiêu kiến-thiết đất nước. Có thế mới hy-vọng phát-triển đất nước một cách nhanh-chóng và bền-vững.
    Trên quan-điểm phát-triển quốc-gia, năng-lượng sử-dụng đại-khái có hai dạng :
    – Xăng dầu, cần-thiết cho tàu-bè, xe tải để chuyển-vận hàng-hóa, cho xe hỏa (nếu chạy bằng diesel), phi-cơ cùng các loại xe khác chuyên-chở hàng-hóa và con người. Đặc-biệt ở Việt-Nam, một số lượng lớn các nhà máy sản-xuất nhỏ hay nông-cụ (máy cày, máy kéo…) xài các loại động-cơ diesel.
    – Điện, cần-thiết cho công-kỹ-nghệ nặng hay các loại nhà máy sản-xuất khác, cho xe hỏa (xe hỏa cao tốc), gia-dụng v.v… Trường-hợp Việt-Nam là nước nhiệt-đới, lượng điện cần-thiết cho các loại máy điều-hòa không-khí rất lớn.
    Bài toán chung của các nước mở-mang là làm thế nào phát-triển quốc-gia nhanh nhất mà kinh-phí về năng-lượng thấp nhất. Bài này sẽ không nhắc lại sự cần-thiết của một nhà máy lọc dầu tại VN để bảo đảm quá-trình phát-triển vì đã có nhiều người nói về vấn-đề này, đặc-biệt bài của TS Nguyễn Thanh Giang trong số vừa rồi.
    Trong kinh-tế học người ta có một chỉ-số để có thể biết được hiệu-năng năng-lượng của quốc-gia (hay nền kinh-tế). Con số này là « cường-độ năng-lượng đối với sản-lượng nội-địa PIB [1]» được tính bằng « tấn tương-đương dầu hỏa (tep[2]) cho 1000 đô-la của PIB ».
    Con số này càng nhỏ thì hiệu-năng năng-lượng càng lớn.
    Biểu-đồ trên đây cho thấy đường biểu-diễn cường-độ năng-lượng của các nước Anh, Hoa-Kỳ, Pháp, Nhật và Trung-Quốc. Ta thấy biểu-đồ có dạng cái chuông, cho thấy hiệu-năng năng-lượng qua các thời-kỳ phát-triển. Thời-kỳ đầu, cường-độ năng-lượng có khuynh-hướng tăng, việc này do quốc-gia xây-dựng những công-trình lớn về hạ-tầng cơ-sở, về công-nghệ nặng, hệ-thống giao-thông, chỉnh-trang thành-phố v.v… công-cuộc này cần rất nhiều đến năng-lượng, hệ-số năng-lượng/PIB vì vậy cũng tăng theo. Sau đó chuyển sang thời-kỳ bảo-hòa, năm 1880 cho Anh-Quốc, khoảng 1920 cho Hoa-Kỳ, 1930 cho Pháp và Đức, 1960 cho Nhật-Bản. Tiếp theo là thời-kỳ giảm. Việc giảm cường-độ năng-lượng đem lại do trước hết là PIB gia tăng. Mặt khác, việc tiêu-thụ các loại vật-liệu có căn-bản từ năng-lượng ổn-định lần-hồi, khoa-học tiến-bộ cũng làm cho mức tiêu-thụ năng-lượng giảm xuống.
    Ta thấy từ biểu-đồ trên, trong quá-trình phát-triển quốc-gia, hiệu-năng năng-lượng của Nhật-Bản cao nhất, sau đó là Pháp và Trung-Quốc (biểu-đồ giả-định).
    Các nước đang phát-triển hiện nay không thể đi theo con đường phát-triển từ năm 1840 của Anh-Quốc hay 1870 của Hoa-Kỳ vì hoàn-cảnh kinh-tế chính-trị quốc-tế các thời đó hoàn-toàn khác với hiện nay.
    Hiệu-năng năng-lượng cao hay thấp tùy thuộc chiến-lược phát-triển quốc-gia. Nhà-nước sẽ phải đầu-tư vào các hạ-tầng cơ-sở quốc-gia nhưng ưu-tiên đầu-tư sẽ tùy-thuộc vào nhiều yếu-tố.
    Lựa chọn này rất quan-trọng. Tốt hay xấu, ảnh-hưởng của nó chi-phối lên đất nước hàng trăm năm sau.
    Trường-hợp Việt-Nam, bài này chỉ nhắc đến khía cạnh ưu-tiên đầu-tư vào hạ-tầng cơ-sở xét theo yếu-tố hiệu-năng năng-lượng, tức yếu-tố kinh-tế.
    Một vài dữ-kiện ghi-nhận :
    Tùy theo phương-tiện giao-thông mà hiệu-năng năng-lượng đem lại rất khác nhau. Trong phạm-vi đi lại của con người, cùng một năng-lượng tương-đương dầu-hỏa tiêu-thụ, một người đi TGV (xe hỏa cao-tốc của Pháp 300km/giờ) sẽ đi 4,5 lần xa hơn đi xe-hơi và 9,5 lần xa hơn đi phi-cơ.
    Việc di-chuyển trong thành-phố thì cùng một năng-lượng tiêu-thụ, xe điện (métro hoặc tramway) sẽ đi gấp 11 lần xa hơn xe-hơi và 2,5 lần xe bus.
    Kết-luận rút ra từ việc này, ưu-tiên đầu-tư hạ-tầng cơ-sở sẽ nghiêng về đường xe hỏa cao-tốc. Ở thành-phố lớn thì ưu-tiên đầu-tư vào hệ-thống xe điện, bằng cách thiết-lập các tuyến-đường nối ngang-dọc thành một mạng-lưới để tạo tiện-lợi và rẻ cho khách trong việc đi lại.
    Trong phạm-vi vận-chuyển hàng-hóa, cùng một năng-lượng tiêu-thụ, một tấn hàng chuyên-chở sẽ đi xa 5 lần hơn nếu đi bằng đường thủy (cabotage maritime), 4 lần hơn nếu bằng hỏa-xa, so với xe tải.
    Từ kết-luận này ưu-tiên đầu-tư hạ-tầng cơ-sở nghiêng về đường thủy và đường sắt.
    Trường-hợp Việt-Nam, tạm-thời từ các dữ-kiện trên, ta có thể có một kết-luận tương-đối: Ưu-tiên đầu-tư vào hạ-tầng cơ-sở hỏa-xa, xây bến tàu, đóng tàu, xây-dựng hệ-thống xe điện trong thành-phố để việc chuyên-chở người và hàng-hóa được nhanh-chóng, tiện-lợi và thoải-mái cho khách. Theo thiển ý, nhà-nước nên xây-dựng hệ-thống đường sắt Nam-Bắc, từ biên-giới Việt-Trung cho đến sông Cửu-Long; làm lại đường sắt Lào-Cai – Hải-Phòng, tổ-chức thuế-quan đánh lên hàng-hóa quá-cảnh từ Vân-Nam qua Lào-Cai, Hải-Phòng đến Hồng-Kông.
    Tuy-nhiên, các con số từ các dữ kiện trên lấy từ mô-hình phát-triển của Pháp, chưa chắc đúng cho Việt-Nam. Nhưng nhìn chung, tình-hình mới bắt đầu phát-triển của Việt-Nam và viễn-tượng giá dầu hỏa ngày càng tăng và sẽ cạn nguồn vào năm 2040. Nếu không có năng-lượng nào thay thế dầu hỏa cho xe chạy trước thời-điểm này, hoặc giá năng-lượng mới (như hydrogen lỏng) cho xe chạy quá đắt, hệ-thống xa-lộ sẽ không phải là nơi lý-tưởng để đầu-tư về lâu dài như đường sắt.
    Trên phương-diện đầu-tư, nhìn kinh-nghiệm phát-triển đường sắt của Đại-Hàn và Trung-Quốc,Việt-Nam nên noi gương. Nhà nước cho các công-ty nước ngoài đấu-giá xây-dựng hệ-thống hỏa-xa. Ngoài giá cả phải chăng, công-nhân, chuyên-viên của Việt-Nam phải được đào-tạo để bảo-hành và sử-dụng hỏa xa trong mọi giai-đoạn khai thác. Ngoài ra, quan-trọng nhất, Việt-Nam phải được chuyển-nhượng kỹ-thuật hỏa-xa này. Tương-tự như Đại-Hàn, nước này được Pháp chuyển-nhượng kỹ-thuật sau khi xây xong hệ-thống TGV.
    Nhưng dầu vậy, để phát-triển đồng-bộ, Việt-Nam cũng nên xây hệ-thống đường xa-lộ gồm quốc-lộ 1 và các đường liên-quốc-gia, nối các tỉnh duyên-hải qua các tỉnh cao-nguyên đến Lào và Bắc Thái-Lan; tạo cho Lào và các tỉnh Bắc Thái-Lan có đường ra biển (sang Trung-Quốc, Nhật, Đài-Loan, Đại-Hàn…) và điều-chỉnh thuế-quan sao cho lệ-phí đường này có giá rẻ hơn đường về hướng Nam Thái-Lan vào vịnh Thái-Lan hay Ấn-Độ Dương. Cam-Ranh có thể là một hải-cảng lý-tưởng để cạnh-tranh với Hồng-Kông. Cảng Vũng-Tàu hay Saigon sẽ bị cảng Kompong Som của Kampuchia cạnh-tranh. Vì thế ở các cảng này phải tạo điều-kiện bốc-giở nhanh-chóng và điều-chỉnh giá cả cho thích-hợp để thu-hút khách-hàng.
    Sau khi các hệ-thống giao-thông, đường hỏa-xa nối các tỉnh và hệ-thống xe điện trong các thành-phố lớn được xây-dựng, nhà-nước nên có các biện-pháp khuyến-khích người di-chuyển bằng xe-hỏa cao-tốc thay vì xe-hơi, hàng-hóa vận chuyển bằng tàu-thủy hay xe hỏa thay vì xe tải. Trong thành-phố thì khuyến-khích đi xe điện hay xe bus thay vì đi xe hơi hay xe gắn máy. Để thực-hiện, nhà nước có thể đánh thuế xăng dầu thật cao (400% tại Pháp; 10 Euros tiền xăng ở cây xăng thì 8 Euros là tiền thuế, 2 Euros còn lại gồm tiền dầu thô, chi-phí lọc dầu, chuyên-chở cùng các chi-phí khác và mức lời của trạm xăng), một mặt lấy được thuế, mặt khác giải-quyết nạn ùn-tắt xe-cộ trong thành-phố. Đương-nhiên, nhà-nước giữ giá năng-lượng đặc-biệt cho nông, ngư-dân cũng như các ngành-nghề sản-xuất khác. Giá dầu dành cho xe tải cũng được điều-chỉnh để việc chuyển-vận liên-tỉnh dễ-dàng.
    Về phần sản-xuất điện năng; điện được sản-xuất bằng các nhà máy phát điện. Vấn-đề là làm thế nào sản-xuất 1 kilowatt điện với giá rẻ nhất. Việc này tùy thuộc vào giá vốn nhiên-liệu, giá đầu-tư ban đầu vào nhà máy và hiệu-năng sản-xuất. Nhà nước cũng có thể tiết-kiệm điện bằng cách đánh thuế cao trên các máy điều-hòa không-khí tư-nhân và dẹp bỏ các máy sử-dụng tại các công-sở nhỏ hay các công-sở phi-công-sở (như các trụ-sở đảng).
    Ta thấy có các nhà máy nhiệt-điện (chạy than-đá, gaz, dầu cặn… nhiệt-năng => cơ-năng => điện-năng), thủy-điện (các đập ngăn nước, tạo ra một thế-năng => cơ-năng => điện-năng), nguyên-tử-điện (électronucléaire, phá vỡ hạt nhân uranium 235 hay plutonium 239 => nhiệt-năng => cơ-năng => điện-năng), điện do ánh-sáng mặt-trời, điện do sức gió v.v…
    Việc đầu-tư vào lãnh-vực cung-cấp điện có thể giao cho tư-nhân một phần nhỏ nhưng hệ-thống điện nhà-nước, trong mọi hoàn-cảnh, phải có khả-năng cung-cấp điện cho các vùng phát-triển chiến-lược trên toàn quốc.
    Hiện nay người ở hải-ngoại hoàn-toàn không có một tài-liệu thống-kê hay các bản tổng-kết khai-thác hàng năm ở Việt-Nam liên-quan đến nguồn sản-xuất điện như trữ-lượng than-đá, khí đốt v.v… Lãnh-đạo VN cho đây thuộc lãnh-vực bí-mật quốc-gia. Theo một dự-báo, Việt-Nam sẽ thiếu 36 tỉ KWh điện năm 2020 và 120 tỉ KWh điện năm 2030. Các nguồn than và hơi đốt có bảo-đảm đủ cho Việt-Nam nhu-cầu này không? Và bảo-đảm trong bao lâu? Nhưng nhìn chung, Việt-Nam nên xây-dựng các loại nhà máy điện mà nguyên-liệu sử-dụng cho nhà máy có sẵn ở Việt-Nam. Thí-dụ, xây nhà máy nhiệt điện chạy than vùng có mỏ than ở miền Bắc, các nhà máy thủy-điện tại các vùng sông hồ thuận-tiện và nhà máy nhiệt điện chạy gaz ở vùng có mỏ dầu-khí như Vũng-Tàu, Bà-Rịa. Những dự-án này nên cho các công-ty xây-dựng Âu-Mỹ đấu-thầu. Chúng ta sẽ ưu-tiên cho các công-ty dùng kỹ-thuật mới, có hiệu-năng cao, ít ô-nhiễm không-khí và cam-kết cho Việt-Nam được quyền thụ-đắc kỹ-thuật-này (có nghĩa là sau này Việt-Nam có thể tự sử-dụng kỹ-thuật này để xây nhà máy điện cho mình mà không phải trả bản quyền).
    Riêng về nhà máy điện nguyên-tử, có liên-quan đến lãnh-vực chiến-lược quốc-tế, đòi hỏi lãnh-đạo quốc-gia phải có trách-nhiệm. Hơn nữa, về an-toàn nhân-sự, đòi hỏi chuyên-viên kỹ-thuật cao, nhân-viên quản-lý có tinh-thần tự-giác lớn. Rất tiếc giới lãnh-đạo Việt-Nam chưa xứng-đáng để thụ-hưởng kỹ-thuật này, mặc dầu nước Việt-Nam rất cần-thiết nó để phát-triển đồng-bộ mọi mặt.
    Mặt khác, Việt-Nam có thể đầu-tư sang Lào để xây-dựng các nhà máy thủy-điện trên sông Mé-Kong. Việt-Nam có thể mua điện của Lào với giá rẻ. Các kinh-tế gia quốc-tế tiên-đoán nước Lào có thể trở thành một Thụy-Sỹ ở Đông-Dương nếu tiềm-năng thủy-điện nước này được khai-thác đúng mức. Tuy-nhiên, giới lãnh-đạo Việt-Nam không nhìn thấy vấn-đề. Nhìn tình-hình hiện nay, có thể tiềm-năng thủy-điện của Lào sẽ do Trung-Quốc khai-thác. Nước Pháp có đầu-tư vào đây nhưng về lâu về dài sẽ không qua nổi Trung-Quốc.
    Điều quan-trọng khác, theo tài liệu mật của Ngũ-Giác Đài, trong tương-lai rất gần, vì ảnh-hưởng thời-tiết địa-cầu thay đổi, có thể ngũ-cốc thế-giới sẽ thiếu-hụt do trồng trọt mất mùa, đem đến việc thiếu lương-thực; nguồn nước sạch bị ô-nhiễm, các quặng mỏ chiến-lược sẽ khó khai-thác vì bão-giông và băng-tuyết. Các việc này, nếu không lường trước, sự phát-triển của Việt-Nam sẽ bị ngưng-trệ.
    Trương Nhân Tuấn
    Tài-liệu tham-khảo : Le Monde Diplomatique, số janvier 2005 trang 14, 15 và 16 ; novembre 2005 trang 14 và trang 27 ; janvier 2006 trang 23.

  4. Phùng Tường Vân viết:

    @QuangSan

    Huỳnh Mẫn Đạt, một nhà thơ yêu nước miền Nam, khi mô tả thái độ của những tên chỉ giỏi châm chọc chỗ này chỗ khác, không khác gì cục cứt Đang khi bịn rịn ló đầu ra/ Người thấy ai mà chẳng sợ va chính là những hạng không chịu hiểu rằng trong trận tuyến chống cường quyền toàn trị, ai có sở trường gì thì sử dụng vũ khí của mình. Trên Phong Hoá, Ngày Nay, Tri Tân, Thanh Nghị những Nguyễn Xiển, Ngụy Như Kontum… thì đánh thực dân cách khác, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Tường Tam đánh cách khác, Tú Mỡ, Lê Ta đánh cách khác, không chịu hiểu như thế chỉ rình rình từ mạng này sang mạng khác buông lời châm chọc người làm nhiệm vụ trong sở trường của họ thì có khác nào những hạng mà ông Huỳnh nói là cứ thấy người ta “bịn rịn thì ló đầu ra” đâu, ông bạn à!

  5. Nguyễn Việt Thanh viết:

    “Phải chăng đó cũng là một đặc tính “làng xã” của người Việt: thích ngồi lê đôi mách, nói xấu người khác, công kích nhau bằng về những điều tủn mủn; còn khi đụng đến những vấn đề “quốc gia đại sự” thì mũ ni che tai, hoặc tự nhủ một cách tự ti rằng vì là ta không biết rõ nên ta dựa cột mà nghe thôi…” (NTB)
    ————–
    Ngoài những tính xấu mà ông Tâm Bảo phán trên, ông quên kể một tính “tốt” của người Việt: ĐẠI NGÔN! nói dân dã là “nổ” hay khoác lác.

  6. QuangSan viết:

    Thưa Ông Nguyễn Tâm Bảo,
    Chúng tôi theo dõi tất cả những bài viết trên talawas và cả những báo khác, nhưng chỉ phản hồi ý kiến những vấn đề có thể nắm bắt được; còn những vấn đề mang tính chuyên môn vẫn đọc và học, nhưng không góp ý vì ngoài sự hiểu biết.
    Xin ông đừng quá nóng lòng mà nặng nề như thế với chúng tôi, để xứng đáng đứng trong hàng ngũ trí thức, xin ông có cách viết khác như thế này:

    “Phải chăng đó cũng là một đặc tính “làng xã” của người Việt: thích ngồi lê đôi mách, nói xấu người khác, công kích nhau bằng về những điều tủn mủn; còn khi đụng đến những vấn đề “quốc gia đại sự” thì mũ ni che tai, hoặc tự nhủ một cách tự ti rằng vì là ta không biết rõ nên ta dựa cột mà nghe thôi…”

    Tôi không muốn phân tích tỉ mỉ đoạn văn ông đã viết trên đây, đề nghị ông tự phân tích và hiểu lấy.

  7. Lê Anh Dũng viết:

    Góp ý với ông Nguyễn Tâm Bảo về 2 quan tâm của ông.

    “Thứ nhất … sẽ sử dụng nguồn năng lượng nào để đáp ứng nhu cầu về điện mà mỗi năm tăng hơn 15%? …”:

    Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn có trả lời thẳng về quan tâm này “Nói rằng Việt Nam sẽ cần 380 tỷ kWh vào năm 2020 (gần 4 lần nhu cầu năm 2010) là hết sức vô nghĩa 1. Không có nước nào có thể phát triển với một tốc độ kỷ lục như thế. Ta không thể tiếp tục ngoại suy mãi và áp dụng tốc độ tăng trưởng 15%- 17% mỗi năm. (có nghĩa là cứ 4 – 5 năm phải nhân gấp đôi công suất các nhà máy điện và tất cả hệ thống giây cao thế và hạ thế toàn quốc!). Đường biểu diễn lũy thừa với một tốc độ khiêu khích như thế có ngày làm nổ hệ thống như bong bóng thổi phồng quá mạnh.” (xem thêm http://www.diendan.org/viet-nam/111ien-hat-nhan-khong-kinh-te/ ).

    “Thứ hai … chính phủ nào có ý chí và quyết tâm mạnh mẽ, có chiến lược hợp lý và có kế hoạch rõ ràng, thì đều thành công trong việc phát triển điện hạt nhân.”

    Phát triển điện hạt nhân không phải là cứu cánh; việc giải quyết bài toán phát triển cho đất nước có tính tới nhiều yếu tố khác nhau, xung khắc nhau một cách tối ưu mới là cứu cánh. Giáo sư Hiển (trong bài phỏng vấn trên RFI mà tôi đã giới thiệu trong thread này) đã trình bày rất xuất sắc một cách tổng thể về vấn đề này, và nêu ra một dữ kiện nổi bật, chỉ cần nâng cao hiệu suất sử dụng điện 20% là tương đương với việc xây 7, 8 nhà máy điện nguyên tử (ĐNT); đây là một chuyện có thể làm và phải làm, vì hiện nay khi tiêu thụ 1 Kw điện thì Việt Nam chỉ làm ra US 1.1, trong khi người Philippines, Indonesia làm ra US 2.7 tới US 2.8 của cải. Người Phi, Indonesia không thông minh hơn người Việt Nam 2,5 lần để làm hơn chúng ta được như vậy. Và tiền đầu tư vào việc nâng cao hiệu suất 20% sẽ thấp hơn rất nhiều so với tiền đầu tư cho 7, 8 nhà máy ĐNT.

    Ở các nước, trên các vấn đề gây tranh cãi, xã hội và kinh tế là 2 lãnh vực thường có nhiều ý kiến ngược hẳn nhau, dù mỗi bên đều có thể có đóng góp của những đầu óc lỗi lạc nhất của xã hội. Nên việc nêu ra tên tuổi của chuyên gia không hẳn là một bảo đảm của tính thuyết phục. Tuy nhiên về vấn đề DNT cho Việt Nam:

    a/ Quần chúng không có đủ thông tin đúng mức dù có ý tìm hiểu: talawas không có thẻ về DNT trong mục Thẻ, các website ở nước ngoài (trừ diendan.org) gần như không biết tới chuyện này. Trong nước thì 2 website có lượng truy cập cao nhất vnexpress.net và tuoitre.com có đăng bài về DNT, nhưng việc tìm lại chuyên mục này thật khó khăn (tôi có cố gắng tìm khi muốn đọc lại, nhưng kết quả tìm thấy rất ngẫu nhiên, may rủi).

    b/ Về giới chuyên gia trên DNT thì tất cả các bài tôi đọc qua đều có ý kiến không thuận, kể cả kiến nghị của Liên hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (chỉ nghe thuật qua giáo sư Hiển, nhưng tôi chưa được đọc). Nếu ông Bảo tìm được ý kiến nào thuận với DNT từ các chuyên gia, xin post những link đó lên cho mọi người tham khảo.

    c/ Trong thế giới trở nên quá chuyên môn, việc một người dân cần biết tất cả để có thể lên tiếng góp ý là chuyện hoàn toàn bất khả. Do đó dân cần có thông tin, có ý kiến từ những tổ chức chuyên môn, cần đại biểu nhân dân để nói lên tiếng nói của mình, khi mình không thể hàng ngày tìm hiểu, theo dõi mọi chuyện. Từ hàng ngàn năm trước, mô hình đại biểu nhân dân đã ra đời để thay thế việc dân trực tiếp góp ý. Quốc hội Việt Nam với hơn 90% đảng viên, nên đúng ra phải gọi là tổ chức của đại biểu đảng, thay vì đại biểu nhân dân; mà quyết định của đảng thường chỉ là của một nhóm nhỏ như tới từ định nghĩa “dân chủ tập trung”. Không ngạc nhiên khi quốc hội luôn gật!

    Quốc hội Việt Nam, đã thực hiện tốt nhiệm vụ Đảng giao, nhưng không hoàn thành trách vụ của mình với nhân dân Việt Nam khi biểu quyết thuận cho dự án DNT. Quốc hội này nên có những biện pháp cập nhật với tình hình thay vì “phóng lao thì phải theo lao”.

    Trí thức im lặng là trí thức đào nhiệm. Những chuyện như chế riễu Nguyễn Minh Triết, chì chiết Nguyễn Hữu Liêm quá đà chỉ là phản ứng của những đấng anh hùng bất lực. Trí thức Việt Nam đã có tiếng nói quá yếu ớt trong vấn đề thiết thân cho đất nước DNT. Giới này cần ý thức rõ về nhược điểm có tính DNA này của mình, cần học tập những kẻ cầm quyền về tính bền chí, theo đuổi mục tiêu. Vì đất nước, cần tiếp tục gióng cao lời khuyến cáo trách nhiệm thay vì ngoan ngoãn “đã thưa, Đảng đã quyết, xong rồi”.

  8. Nguyễn Tâm Bảo viết:

    Tôi chia sẻ quan điểm với ông Lê Anh Dũng: diễn đàn Talawas nổi tiếng trí thức, nên mọi người quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề “nổi cộm” như phát ngôn của ông Trần Thanh Vân hay bài viết tự sự của Việt kiều yêu nước Nguyễn Hữu Liêm. Còn những vấn đề “nhỏ nhặt” hơn như việc phát triển điện hạt nhân thì không đáng để mọi người bàn luận.

    Phải chăng đó cũng là một đặc tính “làng xã” của người Việt: thích ngồi lê đôi mách, nói xấu người khác, công kích nhau bằng về những điều tủn mủn; còn khi đụng đến những vấn đề “quốc gia đại sự” thì mũ ni che tai, hoặc tự nhủ một cách tự ti rằng vì là ta không biết rõ nên ta dựa cột mà nghe thôi…

    Về vấn đề phát triển điện hạt nhân. Tôi có suy nghĩ khác với ông Dũng. Tôi thấy những phản biện về vấn đề này thực ra không thuyết phục lắm.

    Thứ nhất, tôi không thấy ai đưa ra được một giải pháp khả thi khác để giải quyết vấn đề thiếu hụt năng lượng trầm trọng. Năng lượng liên quan mật thiết đến tăng trưởng kinh tế. Nếu Việt Nam không dùng năng lượng hạt nhân thì sẽ sử dụng nguồn năng lượng nào để đáp ứng nhu cầu về điện mà mỗi năm tăng hơn 15%? Nếu không trả lời câu hỏi này, thì những phản biện về điện hạt nhân chỉ là những bi quan đầy cảm tính.

    Thứ hai, tất cả các nước đang phát triển khác khi bắt đầu phát triển điện hạt nhân đều có phe ủng hộ và phe chống đối. Cả hai phe đều có lý của họ. Nhưng thực tế đã cho thấy là nếu chính phủ nào có ý chí và quyết tâm mạnh mẽ, có chiến lược hợp lý và có kế hoạch rõ ràng, thì đều thành công trong việc phát triển điện hạt nhân.

    Hai ví dụ cụ thể:

    Hàn Quốc bắt đầu chiến lược điện hạt nhân từ đầu những năm 1960s, khi kinh tế còn lạc hậu và chiến lược phát triển kinh tế mới bắt đầu hình thành (cùng với việc Park Chung Hee lên nắm quyền). Đến nay điện hạt nhân đã chiếm 45% tổng số điện tiêu thụ ở Hàn Quốc, và ngành công nghiệp điện hạt nhân của họ vẫn tiếp tục phát triển mạnh. (Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/Nuclear_power_in_South_Korea)

    Trường hợp thứ hai là Phillipines: (Xem:http://en.wikipedia.org/wiki/Bataan_Nuclear_Power_Plant)

    Chế độ độc tài Ferdinand Marcos khởi công xây dựng nhà máy điện hạt nhân Bataan, tốn kém hơn 2 tỷ đô (thời điểm năm 1984). Phillipines mất 30 năm mới trả xong nợ. Nhà máy điện hạt nhân này sau đó bị bỏ không sử dụng. Hiện nay Phillipines đang có ý định chuyển đổi nó thành nhà máy điện chạy bằng khí đốt.

    Sự thành công của Hàn Quốc và sự thất bại của Phillipines trong lĩnh vực điện hạt nhân nói riêng, và trong sự phát triển kinh tế nói chung, là bài học cho Việt Nam.

    Liệu Việt Nam có đủ ý chí và năng lực để có thể phát triển điện hạt nhân, cũng như công nghiệp hóa thành công, như Hàn Quốc. Hay Việt Nam sẽ giống như Phillipines?

    Chủ quan mà nói, tôi nghĩ Việt Nam có thể làm tốt hơn Phillipines, nhưng khó mà theo kịp Hàn Quốc.

  9. Lê Anh Dũng viết:

    Năng lượng và môi trường là 2 vấn đề lớn nhất cho mọi quốc gia trong thế kỷ 21 này và về sau.

    Đã có nhiều ý kiến của những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền về chuyện nên hay không nên đầu tư vào điện nguyên tử, theo giáo sư Hiển thì đa số có ý không nên; nên ở đây tôi chỉ có nhận xét về sự và cách họ nêu ý kiến:

    Ở trong nước, vào gần thời điểm quyết định trước khi quốc hội biểu quyết, giới chuyên môn dù bất đồng với dự án này đã chọn một ngôn ngữ rất là vo tròn, lăn bi là “kiến nghị gửi tới quốc hội với tinh thần là Việt Nam chưa sẵn sàng cho điện hạt nhân”, thay vì dùng một ngôn ngữ mạnh mẽ, rõ ràng hơn. Qúi vị chuyên gia không nói một cách mạnh mẽ, thật rõ ràng nhằm thể hiện khuyến cáo của qúi vị là “không nên” thì ai có khả năng và vị trí tốt hơn qúi vị để nói? Quốc hội là đại biểu của dân, nói lên tiếng nói của dân, tại sao qúi vị lại phải “kiến nghị gửi tới quốc hội” như dân đen thưa với quan trên, thay vì gửi tới những đại biểu nhân dân của qúi vị (dù là trên danh nghĩa) một “bản khuyến cáo gửi tới quốc hội”? Có thể có ai trong nước tìm ra được bản kiến nghị này và tung lên mạng cho dân – người làm chủ thực sự của đất nước Việt Nam – xem nội dung kiến nghị này như thế nào, hay đây là một bí mật quốc gia?

    Ở ngoài nước, có Talawas là một diễn đàn có uy tín, được nhiều trí thức ở nước ngoài tiếp cận dễ dàng, có nhiều đóng góp của tiếng nói trong nước. Thay vì có ý kiến trên vấn đề thiết thân của đất nước (đầu tư vào điện nguyên tử khoảng 20, 30 chục tỷ đô la, con số này còn phình ra như nhiều chuyên gia dự đoán, trong khi GDP của Việt Nam vào khoảng 90 tỷ, https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/vm.html ) lẫn của nhân loại, thì lại có quá nhiều tầm chương, trích cú, bàn luận chán chê dài dài tới ngày hôm nay trên ý kiến chơi nổi của Nguyễn Hữu Liêm. Ông Hoàng Ngọc-Tuấn, nằm trong nhóm chủ biên của Tiền Vệ (avant-garde) ngoài đóng góp trong mục phản hồi, còn viết thêm 2 bài, bài của ông Tuấn rất hay nhưng nếu ông thuộc về nhóm “lượm banh xung kích” thay vì Tiền Vệ thì tôi có thể thông cảm. Chơi nổi, chơi bạo, đời nào, ở đâu lại không có người? Tôi không tin Nguyễn Hữu Liêm “cải tà qui chánh” dù có 1001 ý kiến hay bài viết công phu phản đối. Nguyễn Đình Đăng ( http://ribf.riken.go.jp/~dang/page3.html ), đa tài, một khoa học gia vật lý nguyên tử, từng tổ chức hoặc đồng tổ chức nhiều hội nghị quốc tế về vật lý nguyên tử, có ý kiến về vấn đề này bằng một sự im lặng. Còn tương đối trẻ, rất chuyên môn trong lãnh vực mà không nói, thì chả lẽ đợi những vị cao niên hơn nói (thành thật xin lỗi anh Đăng nếu anh có lên tiếng mà tôi không được biết dù đã tìm tòi)…

    Phản đối nhà cầm quyền Việt Nam không cần thiết phải là một phản xạ, nhất là khi có quá nhiều sự cố liên tiếp xảy ra, khiến sự phản đối dễ hóa thành nhàm chán. Nhưng quá chú ý trên những “biến cố” như bài phát biểu của ông Liêm, và kiến nghị xìu xìu hay thờ ơ trên chuyện thật sự quan trọng hơn phát biểu của Nguyễn Hữu Liêm, thì có vẻ:

    – Đập vào đuôi chó phe phẩy thay vì đánh vào đầu con chó.
    – “Trí thức” Việt Nam cảm thấy bất lực, nên tự an thần, tự kích hoạt trên những chuyện thật ra không quan trọng. Nhà cầm quyền đã hơn hẳn “trí thức” về sự bền bỉ, theo đuổi mục tiêu của mình, “trí thức” đã nói, lương tâm đã yên ổn.
    – “Trí thức” Việt Nam chỉ có thể phò hay đánh bóng, không thể suy nghĩ như trí thức, đóng đúng vai trò suy nghĩ và hướng dẫn của mình, không biết phân biệt cái nào quan trọng, cái nào không.

    Tinh thần Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hoàng Xuân Hãn của “trí thức” Việt Nam muôn năm.

  10. Thanh Nguyễn viết:

    @ Lê Anh Dũng,

    Nếu ông Dũng muốn tìm kiếm sự đồng thuận để phản đối trong vấn đề này; việc làm đầu tiên là nên soạn một bản kiến nghị và xin chữ ký của 900 vị VK vừa dự Đại hội ở Hà Nội.

    Công việc này chắc là sẽ vất vả, vậy ông Dũng nên đánh tiếng kêu gọi GS. Trần Thanh Vân và LS Nguyễn Hữu Liêm giúp cho một tay.

    Chúc ông Lê Anh Dũng thành công và hy vọng ông không bị ớn lạnh khi tìm được những người phụ tá!

  11. Lê Anh Dũng viết:

    Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nguyên tử Đà Lạt, cựu thành viên viện Nghiên cứu phát triển (IDS), nguyên viện phó viện Năng lượng nguyên tử quốc gia, hiện là chủ tịch hội đồng khoa học cục Kiểm soát và an toàn bức xạ, hạt nhân, đã có ý kiến không thuận lợi về việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử tại Ninh Thuận.

    Theo bài phỏng vấn giáo sư Hiển dưới đây, thì Liên Hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam đã có kiến nghị gửi tới quốc hội với tinh thần là Việt Nam chưa sẵn sàng cho điện hạt nhân, cũng theo giáo sư Hiển thì báo chí đã phản ảnh là phần lớn các đại biểu quốc hội đồng ý với kiến nghị này.

    Xem và nghe phỏng vấn ở http://www.rfi.fr/actuvi/articles/119/article_5788.asp

    Kết qủa biểu quyết là Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án hai nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận với hơn 77,5% số phiếu tán thành.

    Như mọi lần, nhà cầm quyền Việt Nam làm một quyết định duy ý chí tới từ một nhóm nhỏ chóp bu, bất chấp ý kiến không thuận lợi của những tiếng nói chuyên môn, lẫn những tổ chức có thẩm quyền nhất như Liên Hiệp hội khoa học kỹ thuật Việt Nam. Cần nhấn mạnh là phân tích tổng hợp nói trên của giáo sư Hiển đã nhắc tới nhiều yếu tố liên đới không thể không tính tới trong một bài toán tối ưu như kinh tế, chính sách năng lượng, tự chủ, quốc phòng v.v…, mà hàng chục tỷ đô (gía thành của nhà máy điện nguyên tử) chỉ là một thành tố, dù là mấu chốt.

    Huy động hàng chục tỷ đô la là một vấn đề tối quan trọng cho một nước yếu, nghèo như Việt Nam (giáo sư Hiển lượng giá khi lựa chọn của nhà nước là công nghệ thế hệ thứ ba).

    Trung Quốc không giấu diếm thái độ đầu gấu, anh chị với Việt Nam. Khi hữu sự, Trung Quốc cũng không cần phải bỏ bom trên chính lò phản ứng sẽ gây phản ứng tâm lý quốc tế rất bất lợi, nhưng họ có thể bỏ bom vào các công trình liên hệ đủ làm ngưng trệ hoạt động trong vài năm của liên hợp giá hàng chục tỷ đô la này. Nhưng sau khi đã vét hết vốn liếng, mượn thêm tiền để sắm đồ chơi đắt tiền, lại dễ đập phá để ở cạnh một con gấu sẽ đưa tới một tâm lý e dè, lép vế; tương tự như việc dốc hết xương máu Việt Nam để đánh Mỹ, làm Việt Nam hết xí quách phải lép trước TQ yếu hơn Mỹ nhiều.

    TQ hoàn toàn có thể oanh tạc Ninh Thuận với Su-30 có tầm hoạt động 5200 km ( http://en.wikipedia.org/wiki/Sukhoi_Su-30 ).

    Khả năng tham nhũng của một chế độ bưng bít toàn trị như Việt Nam cao hơn của một chế độ có thông tin thoáng như Pháp. Quan chức Việt Nam tham nhũng hàng triệu đô la không còn là chuyện làm ngạc nhiên. Cựu ngoại trưởng Pháp Roland Dumas đã dính líu trong một scandale tiền bạc liên quan tới việc mua bán tàu chiến giữu Pháp và Đài Loan ( http://www.pacificnews.org/jinn/stories/predictions/000905-taiwanfrance.html ). Việc nhà cầm quyền VN quyết lập cho bằng được nhà máy điện nguyên tử bất chấp ý kiến của giơí chuyên môn, và “quốc hội” hợp thức hoá vội vã quyết định trên gây lo ngại về khả năng một nhóm chóp bu bị mua chuộc, nhất là với con số khổng lồ từ 10 tới hàng chục tỷ đô la.

    Nghị quyết điện nguyên tử:

    Trách nhiệm trực tiếp là Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam.

    Trách nhiệm gián tiếp là sự thờ ơ của trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Nếu không kể trí thức trong nước mà điều kiện phát biểu, phản đối minh bạch rất khó khăn, tới nay trên diễn đàn talawas hải ngoại, đã có 4 phản hồi về điện nguyên tử so với 57 phản hồi cảm xúc về “siêu nguyên tử” Nguyễn Hữu Liêm! Ớn lạnh.

  12. Trương Nhân Tuấn viết:

    Thử tìm hiểu dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận

    Quốc Hội Việt Nam đã thông qua, ngày 25 tháng 11, dự án xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận. Một số chi tiết « kỹ thuật » liên quan đến việc xây dựng nhà máy được nhà nước công bố, qua báo chí trong nước, gồm ba lãnh vực : kỹ thuật và công nghệ hạt nhân, vấn đề đào tạo nhân sự cuối cùng là xây dựng hạ tầng cơ sở. Một số ghi nhận lại như sau :
    – mỗi nhà máy gồm hai « tổ » máy, năng suất tổng cộng hai nhà máy là 4000 MW. Công nghệ lựa chọn là « lò nước nhẹ cải tiến ». Nhà thầu xây dựng phải thuộc quốc gia có tiềm lực cao về khoa học, công nghệ. Nhà nước khẩn trương triển khai kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân
    – Trong quá trình triển khai xây nhà máy cần phải nghiên cứu, đánh giá tài nguyên, trữ lượng, khả năng khai thác, chế biến và nhu cầu sử dụng lâu dài urani trong nước.
    – kế hoạch sử dụng đất để đáp ứng yêu cầu xây dựng khu vực xử lý chất thải hạt nhân đảm bảo an toàn.
    Nhiều dữ kiện có thể suy ra từ các dữ kiện này.

    1/ « Tổ máy » ở đây phải hiểu là một lò phản ứng. Công suất mỗi lò như thế là 1.000 MW. Hai nhà máy là 4 lò phản ứng. Công nghệ ở đây là « lò nước nhẹ cải tiến ». Lò nước nhẹ, tức là réacteur à eau légère (REL) hay là light water reactor (LWR), ý nghĩa kỹ thuật ở đây là lò sử dụng nước thường (H2O) để làm chất dẫn nhiệt, khác với lò nước nặng (D2O), sử dụng nước nặng làm chất điều hòa. Còn « cải tiến » ra sao thì chưa biết rõ, vì chưa biết kiểu mẫu đích xác, chỉ đoán chừng ghi ở dưới.
    Nước nặng D2O khác với nước H2O ở chỗ nguyên tử Deutérium, là chất đồng vị của Hydrogene, trong nhân có thêm một neutron, trong khi Hydrogen chỉ có một proton. Ta còn có Tritium, cũng là chất đồng vị của Hydrogen, nhưng có thêm 2 neutron.
    Chất dẫn nhiệt (calorporteur) : là chất để… dẫn nhiệt, tức chuyển nhiệt lượng tỏa ra do phản ứng phân nhân (fission) – dưới dạng phóng nhiệt (exothermique) – sang hệ thống hấp nhiệt. Độ nóng của hệ thống hấp nhiệt khoảng 270°, biến nước ở đây thành hơi nước dưới áp suất lớn. Hơi nước này làm quay turbine điện.
    Chất điều hòa (modérateur) : là chất dùng để hấp thụ bớt neutron phóng ra trong lò phản ứng, dùng để điều chỉnh hiệu suất của lò máy.
    Các lò phản ứng nước nhẹ thông thường hiện nay gồm các loại « lò phản ứng nước sôi » hay « lò phản ứng nước dưới áp suất ».
    Ngoài ra còn có loại lò phản ứng cũng dùng nước nhẹ làm chất dẫn nhiệt nhưng sử dụng graphite làm chất điều hòa do đó không xếp vào loại REL hay LWR. Các lò loại này có khả năng sản xuất plutonium nên được dùng trong quân đội. Ngoài ra còn có loại lò RBMK của Nga (kiểu mẫu của lò Tchernobyl).
    Các lò phản ứng của Bắc Hàn hiện nay đều thuộc kiểu mẫu ERL (LWR).
    Các loại lò nước nhẹ « cải tiến » có thể là : lò phản ứng nước dưới áp suất (réacteur à eau pressurisée REP hay (PWR Pressurized Water Reactor). Đây là lò thuộc thế hệ II, phổ biến nhiều trên thế giới từ năm 2006. Công suất các lò của Châu Âu REP từ 1.550MW đến 1.800MW
    Tuy nhiên, công nghệ hạt nhân của nước Nga cũng có các kiểu mẫu « cải tiến » từ lò RBMK, công suất khoảng 1.000MW.
    Lò phản ứng của VN, tuy chưa lựa chọn công nghệ của nước nào, nhưng phải là « quốc gia có tiềm lực cao về khoa học, công nghệ ». Mọi người có thể tiên đoán là nước nào.

    2/ Về nhân sự, nhà nước có tuyên bố là xây dựng nhà máy điện theo lối « clé en main », chìa khóa trao tay, tức là nhà thầu cung cấp từ a đến z. Tuy có tuyên bố sẽ « khẩn trương triển khai kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân » nhưng chắc chắn sẽ không kịp, trong một thời gian dài chuyên gia VN sẽ chỉ là chuyên gia… bấm nút, vì hệ thống điều khiển lò máy đều tự động hóa. Đào tạo chuyên gia do đó cần phải ở nhiều mặt, như đã hoạch định ở dưới.

    3/ Có chi tiết cho thấy VN có tham vọng tiến xa và sâu vào lãnh vực hạt nhân, đó là : nghiên cứu, đánh giá tài nguyên, trữ lượng, khả năng khai thác, chế biến và nhu cầu sử dụng lâu dài urani trong nước. Việc nghiên cứu, đánh giá… không quan trọng nhưng việc « chế biến và sử dụng » là các khâu quan trọng, cần hạ tầng cơ sở và chuyên gia cao cấp.

    4/ Nhưng quan trọng hơn cả là « xử lý chất thải hạt nhân » ở trong nước. Ở đây có thể là xử lý chất thải thực sự hay là xử lý các chất uranium hay plutonium có phẩm chất quân sự.

    5/ Vị trí xây dựng các nhà máy là Ninh Thuận, nếu không lầm thì nơi này ở ngoài tầm hoạt động của các máy bay SU 27 của Trung Quốc.

    Nói chung, việc lựa chọn công nghệ của VN có thể sẽ đáp ứng nhu cầu năng lưọng của VN nhưng cũng sẽ mở cho VN một lãnh vực mới về khoa học. VN đã ký kết vào công ước Không Phổ Biến Vũ Khí Nguyên Tử (TNP) của AIEA, cũng không có tuyên bố tiêu diệt nước nào (như Irak hay Iran, tuyên bố xóa tên Do Thái trên bản đồ thế giới). VN có ký kết hiệp ước hữu nghị với tất cả các quốc gia trong vùng, do đó sẽ phải đi theo con đường của các nước như Nhật, Đại Hàn, Đài Loan… Các nước này có đội ngũ chuyên gia cừ khôi, có hạ tầng cơ sở về hạt nhân đầy đủ, họ có thừa khả năng làm bom A (kể cả bom H) bất kỳ lúc nào cảm thấy bị đe dọa bởi một cường quốc nguyên tử. (Một điều khoản trong công ước TNP có dự trù trường hợp này. Vịn vào điều này, Bắc Hàn cho là bị vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ đe dọa. Thực ra các hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử của HK có mặt tại bán đảo Triều Tiên (và Nhật Bản) từ thời chiến tranh lạnh, nhưng khi khối cộng sản sụp đổ mà HK vẫn không đem về nước. Do đó Bắc Hàn lấy cớ làm bom nguyên tử). Có lẽ Việt Nam sẽ không bao giờ lâm vào trường hợp như vậy. Tuy nhiên, việc đào tạo và huấn luyện một đội ngũ khoa học gia cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho kỹ nghệ hạt nhân, là quyền chính đáng của mọi quốc gia, không quốc gia nào có thẩm quyền cấm đoán.

  13. nguoiyeunuoc viết:

    Khi thằng giặc muốn đốt nhà anh thì nó sẽ bày mưu cho anh rằng xăng là một nguồn nhiên liệu tuyệt vời và anh nên tích trữ thật nhiều xăng trong nhà để sử dụng khi cấp thiết. Khi xảy ra đánh nhau, nó chỉ quăng vào nhà anh một mồi lửa thì con kiến nhà anh cũng không còn!

    Hãy nhìn lại sự thần phục thiên triều của ĐCSVN đối với Trung Cộng thì cũng rõ dự án điện hạt nhân này do ai bày ra. Một cao nguyên bị khống chế bởi đội quân dự bị ở các nhà máy khai thác Bauxite; Hoàng Sa, Trường Sa có các căn cứ hải quân của TC, thêm 2 nhà máy điện nguyên tử bị không quân TC đánh bom vì nghi ngờ chế tạo vũ khí nguyên tử nữa thì VN lúc đó sẽ ra sao? Dựa vào ai? Nga, Hoa Kỳ hay là Bắc Triều Tiên?

  14. Lê Anh Dũng viết:

    Dù tiến sĩ Đoàn viết “Việt Nam không có ý định làm bom nguyên tử”, cộng một số phản biện rời rạc đây đó về việc lập nhà máy điện nguyên tử tại VN, có thể có 2 khả năng khi quốc hội VN mau chóng thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án hai nhà máy điện hạt nhân:

    – Đội ngũ chuyên viên nguyên tử tới từ điện nguyên tử sẽ là một cầu nối cho việc làm bom nguyên tử, đây có thể là một đối sách không nói ra của VN với TQ, và TQ cũng không ngu gì không tính tới khả năng này. Cần nhắc lại Israel đã oanh tạc Iraq để ngăn ngừa việc chế bom của Iraq trong thập niên 80, TQ sẽ sẵn sàng làm chuyện tương tự để phòng hậu họa; chuyện này nếu xảy ra sẽ vô cùng tai hại cho VN khi nhà máy bị phá hủy sẽ phát tán phóng xạ làm ô nhiễm đất nước đã qúa chật chội, dân ta sẽ không có chỗ nào để chạy cả.

    – Một nhóm cầm quyền chóp bu bị mua chuộc để lập nhà máy điện nguyên tử, một lần nữa “quốc hội” chỉ có việc biểu quyết thuận như đã luôn luôn biểu quyết thuận. Cần nhắc hiệp định biên giới Việt – Trung được thông qua mà nhiều đại biểu quốc hội không hề biết về nội dung.

    Không thể nào một chuyện nghiêm trọng như trên lại có thể được thông qua hời hợt, thiếu thông tin, giải thích hơn thiệt tới toàn dân như vậy được.

    Cần tức khắc bác bỏ nghị quyết trên của quốc hội VN khi chuyện vô cùng nghiêm trọng cho vô số thế hệ mai sau của Việt Nam chưa được bàn thảo, góp ý kỹ lưỡng.

  15. le tri viết:

    Cũng may trong quốc hội còn sót những ông, bà nghị kịp “tỉnh ngủ” chứ Đảng yêu cầu đồng thuận đến 100%. Tiền đâu để xây 2 nhà máy điện hạt nhân? Chuyện nhỏ… Đảng ta luôn nhìn ra khơi: Hoàng Sa, Trường Sa chưa đủ thì tiếp tục “chuyển nhượng quyền sở hữu” các đảo Lý Sơn, Phú Quốc hay Côn Đảo cho trọn bộ.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>