talawas blog

Chuyên mục:

Nói lại và nói thêm về nhân cách người Việt

24/03/2009 | 9:32 chiều | 6 Comments

Tác giả: Hoàng Hưng

Category: Khủng hoảng đạo đức
Thẻ: > > >

Đúng với mong đợi của tôi, bài viết về nhân cách Việt đưa lại trên Talablog đã được hưởng ứng với nhiều bài viết và ý kiến phản hồi rất sâu sắc và mở rộng ra rất nhiều. Đơn cử bài của Thiện Ý. Tác giả, một cán bộ cộng sản lão thành, đã công phu điểm lại một cách hệ thống toàn bộ quá trình dẫn đến sự băng hoại đạo đức hôm nay. Tác giả khẳng định đó là do đường lối tư tưởng-văn hoá-giáo dục nhất quán từ Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây cho đến ĐCS Việt Nam bây giờ: vứt bỏ đạo đức truyền thống, dựng lên hệ thống đạo đức mới mang tính giai cấp; đề cao chủ nghĩa tập thể cực đoan, phủ nhận giá trị cá nhân. Đến hôm nay, khủng hoảng đã bùng nổ do thứ “đạo đức cách mạng” kia chỉ còn là những lời hô hào giả dối không ai buồn nghe, trong khi bản chất chế độ đã thay đổi từ “đi lên chủ nghĩa xã hội” chuyển thành “kinh tế thị trường” (thực chất là chủ nghĩa tư bản). Thiện Ý đề ra biện pháp cứu vãn đạo đức dân tộc mà ông tóm tắt: “hãy làm những gì mà cuộc sống đòi hỏi và hãy từ bỏ thật nhanh những gì chỉ nghĩ ra theo tư duy của ý thức hệ đã lỗi thời” và nếu “tất cả mọi việc đều minh bạch, chắc chắn đạo đức sẽ phục hồi.” Thật đơn giản và rõ ràng.

Đó cũng là ý tưởng chung của tất cả các ý kiến phát biểu từ trong đến ngoài nước mà tôi đọc được trên Talablog, cũng như đại đa số những comment trên BBC trước đó (ngoại trừ 2 ý kiến lạc lõng phê tôi là “phản động” một cách chung chung mà không chứng minh gì hết).

Điều thú vị là: gần như trùng hợp với cuộc thảo luận “ảo” xuyên quốc gia kia, đã diễn ra cuộc hội thảo của các vị học giả chính thống trong nước mà tôi cũng vừa đọc được bài tường thuật qua spectrum của Talablog. Có thể tóm tắt tinh thần hội thảo bằng cách trích vài câu mở đầu và kết luận bài viết: “Dù còn nhiều quan điểm bất đồng về nguyên nhân dẫn đến tâm thế, tư duy và lối sống của người Việt hiện nay nhưng hầu hết các học giả đều cho là: người Việt hiện nay… xấu xí”, “Nhiều học giả cho là người Việt cần đổi mới tư duy và lối sống để thích nghi tốt trong thời kỳ hội nhập.”

Bất đồng về nguyên nhân như thế nào thì bài tường thuật không nói, cũng như đổi mới tư duy và lối sống ra sao cũng không nói rõ, nhưng nhiều ý kiến được trích trong bài, dù cố gắng thể hiện rất nhẹ, rất khéo, rất vòng vo, đã cho thấy về bản chất không khác những ý kiến trên Talablog:

“Theo ông Tiến (Thạc sĩ Lê Minh Tiến), cái gốc của lối tư duy này phát sinh từ lối sống nông nghiệp bao đời nay của người Việt vẫn chưa sửa được, lối sống cộng đồng phát sinh thành tâm lý bầy đàn, “ai sao tui vậy” che mờ đi trách nhiệm cá nhân nên dẫn đến nhiều hệ lụy vì không phù hợp với xã hội công nghiệp hóa hiện nay.

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích thì lấy tâm lý của bộ phận công chức ra để chứng minh cho tư duy trọng tập thể, né tránh trách nhiệm cá nhân…Vì chính tư duy sợ trách nhiệm cá nhân nên họ không tin cả người dân đến làm việc với mình, đòi hòi đầy đủ giấy tờ thủ tục một cách máy móc và khô cứng, thiếu linh động dẫn đến trì trệ và mất thời gian cho người dân. Bởi họ sợ sai một chút gì là mình chịu, dẫn đến việc nước ta cải cách hành chính mười mấy năm qua nhưng hiệu quả đạt được vẫn còn khiêm tốn.

Còn Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh: … Từ việc sợ trách nhiệm cá nhân đã đẩy lên thành một chủ nghĩa cá nhân cực đoan trong lòng người Việt.”

Cộng thêm dư âm chưa tắt của di cảo “Đi tìm cái tôi đã mất” của nhà văn công thần chế độ Nguyễn Khải, tất cả những ý kiến nêu trên đều cho thấy: đã đến lúc những người tự đặt cho mình (hay tự huyễn về) trách nhiệm “quản lý, chỉ đạo” con tim khối óc của hơn 80 triệu con dân phải thật sự “nhìn thẳng vào sự thật” đúng như lời kêu gọi không chỉ một lần của người có chức vị tối cao của họ. Sự thật ở đây chính là: phải khôi phục tư cách, quyền lợi chính đáng của cá nhân, có như thế mới đòi hỏi được cá nhân có trách nhiệm thực sự với xã hội, xây dựng lại nền đạo đức tự nhiên mà cuộc sống đặt ra.

Tất nhiên tôi không cực đoan đến mức không thấy dụng tâm tìm cách “chui dần” ra khỏi vòng kim cô “đạo đức Cộng sản” của những người lãnh đạo Việt Nam khi họ cố đưa ra phong trào “học tập đạo đức Bác Hồ” để thay thế, bên cạnh việc khuyến khích truyền bá tư tưởng Phật giáo “nhập thế” đã được Việt hoá từ lâu đời. Việc thứ nhất dễ thấy là lãng phí thì giờ tiền bạc vô ích, vì nó vẫn luẩn quẩn trong cái vòng “đạo đức cách mạng” mà người rao giảng cũng chẳng còn tin, trong khi cả người “bị” nói đến người “bị” nghe trong thực tế đều đang mải mê chạy theo lời dụ của chính truyền thông nhà nước: “làm giàu không khó”! Việc thứ hai tôi thấy là tốt. Theo quan sát của tôi, bên cạnh mặt trái của nó là tệ nạn buôn thần bán thánh & mê tín hoá một tín ngưỡng cao siêu và đầy nhân bản mà xã hội đang rung chuông báo nguy, phong trào phục hưng Phật giáo hiện nay cũng có tác dụng giải độc không ít nạn nhân của tư tưởng vô thần (dẫn đến “vô sừng vô sẹo”) và làm mềm không ít cái đầu dắn ngay trong hàng ngũ cao cấp của Đảng Cộng sản; tinh thần Phật giáo cũng là đối trọng hầu như duy nhất hữu hiệu để cân bằng lại lòng tham vốn là động lực phát triển tự nhiên của xã hội thị trường, phương thuốc hàn gắn vết thương vẫn còn rỉ máu trong lòng người từng đứng ở 2 bên chiến tuyến. Và chính thực tế này cũng lặp lại phán quyết: đã đến lúc những người tự đặt cho mình (hay tự huyễn về) trách nhiệm “quản lý, chỉ đạo” con tim khối óc của hơn 80 triệu con dân phải “nhìn thẳng vào sự thật”.
Nhìn thẳng vào sự thật để ít nhất cũng thôi đi/ giảm thiểu những lời nói dối. Vâng, những lời nói dối có thể có lợi nhất định trong một giai đoạn. Nhưng ngay cả khi đó, nó cũng đã tiêm độc tố vào trái tim khối óc cả người nói lẫn người nghe rồi. Tôi không bao giờ quên một sự cố trong đời mình, sự cố đã khiến tôi dứt khoát rút lui khỏi văn đàn chính thống và bắt đầu con đường “làm thơ chui”, đúng vào lúc đang được o bế như một nhà thơ trẻ nổi lên của “thế hệ chống Mỹ”. Đó là buổi họp các cộng tác viên về Thơ của báo Văn nghệ vào năm 1973. Trước đông đủ thi hữu già trẻ, nhà thơ đầy uy lực Chế Lan Viên một mình lên lớp, “xạc” lớp trẻ về những vụ lộn xộn mới xảy ra như “Vòng trắng vòng đen” (thơ Phạm Tiến Duật), “Cây táo ông Lành” (truyện Hoàng Cát), “Ký sự đêm đợi tàu” (tác giả hình như tên Đỗ Phú?). Tôi không thể quên tư thế trịch thượng (ông đứng nói, một chân gác lên thanh ngang của chiếc ghế tựa) cũng như những lời mà tôi không dám tin ở tai mình. Ông bảo: “Đảng có thể bỏ đi cả một thế hệ các anh!” (nếu các anh cứ lộn xộn như thế). Ông còn khẳng định: “Nếu như trên trời máy bay ta với máy bay địch quần nhau mà máy bay ta rơi, các anh cũng phải hô lên: ‘máy bay địch rơi’ chứ!” Tất cả im phăng phắc, không ai dám ho he. Và tôi là người duy nhất đứng lên tranh luận với ông. Tôi nói đại ý: Vấn đề là anh có đủ lòng tin để hô lên như thế không đã chứ. Vì nếu chính anh không tin, thì làm sao anh thuyết phục được người đọc tin anh? Sau buổi họp ấy, tôi hoàn toàn tỉnh thức: người ta chỉ coi văn nghệ là những lời tuyên truyên để lôi kéo quần chúng, bất chấp sự thật. Đến một thần tượng của chúng tôi lúc ấy, một nhà thơ có tri thức vào hàng cao nhất mà đã huỵch toẹt ra thế thì… Hỡi ôi! Nhưng tôi phải công nhận, chính những lời nói dối có ý thức mà bộ máy truyên truyền miền Bắc đưa ra đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng trong cuộc chiến 1954-1975. Chính nó đã che giấu thực chất ý thức hệ và phe phái, làm nổi bật yếu tố dân tộc của cuộc chiến mà Thiện Ý coi là nguyên nhân chủ yếu đưa miền Bắc đến chiến thắng. (Sau này chính Chế Lan Viên đã ‘sám hối’ về những câu thơ thúc người lính ra trận trong một số bài “Di cảo” của ông).

Câu nói của Goebbels (đại ý): “lời nói dối lặp lại hàng trăm lần sẽ thành sự thật” có thể đúng trong những hoàn cảnh đặc biệt như cách mạng, chiến tranh. Nhưng trong thời đại truyền thông hôm nay, câu nói ấy đã hoàn toàn phá sản. Không những thế, ngược lại: lời nói dối càng lặp lại càng phản tác dụng, cuối cùng dẫn đến sụp đổ niềm tin của mọi người, nhất là những người trẻ. Không còn niềm tin, thì đạo đức, lối sống tất phải băng hoại.

Các vị có thể cười vào sự ngây thơ của kẻ này, nhưng thực sự tôi đã hàng trăm lần tự hỏi và hỏi bạn bè: Hiện nay cũng như nay mai (tương lai gần) chưa thể có lực lượng nào thay thế Đảng Cộng sản lãnh đạo Việt Nam, vậy thì tại sao đảng không thể công khai thừa nhận những sai lầm của chủ nghĩa cộng sản trong quá khứ, tự mình chuyển hoá thành đảng của tinh thần dân chủ, nhân quyền, đoàn kết dân tộc thực sự, chủ động xây dựng một xã hội công dân lành mạnh, lấy pháp luật làm công cụ duy nhất để điều hoà lợi ích cá nhân và tập thể? Cái gì trói buộc họ, nếu không là những đặc quyền đặc lợi quá lớn? Thế còn những đảng viên không có/ có ít đặc quyền đặc lợi? Họ có suy nghĩ như Thiện Ý? Chả lẽ họ hoàn toàn không có tiếng nói trong đảng của mình?

Bình luận

6 Comments (bài “Nói lại và nói thêm về nhân cách người Việt”)

  1. Đào Nguyên viết:

    Xin mạn phép trả lời ngắn về câu hỏi ngắn trong góp ý của ông Nguyễn Tâm Bảo: (i)có một nhà nước pháp quyền; (ii) cơ hội đồng đều cho mọi người trong các sinh hoạt kinh tế; (iii) nhà nước nhỏ, nhẹ và luôn cả nhỏ nhẹ với dân; và (iv) dân chủ và tự do cho nhân dân.
    Còn chuyện con lắc: không sao, nó chứng tỏ xã hội Việt Nam năng động (dynamic) trong nhiều “tang thương” vì thiếu thốn hình như cả bốn điều trên, nhưng mà lại dư ra điều 4 trong Hiến Pháp Cộng hÒa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc (nghe như nhạc Rap ông Lê Vân Tú viết trên Talawas nên tôi kính tặng ông bài nhạc Rap Annamite theo nhịp 123 sau đây:
    Không
    1
    Không có
    1 2
    Có không?
    2 1
    Không có gì
    1 2 3
    Có gì không?
    2 3 1
    Gì không có
    3 1 2
    Có gì quý không?
    Có quý gì không?
    Không có gì quý
    Có gì quý hơn không?
    Không có gì quý hơn tự do độc quyền độc lập độc tài độc đoán độc địa độc đảng độc ác …)

    Hỏi lại bạn Nhạc Rap cũng dễ làm và dễ xài được trong xã hội ta ngày nay phải không nào?

  2. maida viết:

    “Nói lại, nói thêm về nhân cách người Việt” tôi nghĩ hơi “bị” thiếu! Cụ thể hơn phải là: nhân cách của người Việt thời cộng sản. (Bắc từ 1954, Nam từ 1975.)

    1954, miền Bắc đã có Nhân văn Giai phẩm, Cải cách Ruộng đất… Thời đó thể hiện nhân cách trí thức đếm chỉ trên đầu ngón tay, quí cụ Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Hữu Loan… Còn những ai nữa? Nhưng trí thực (dấu nặng, hổng phải dấu sắc (!) là dùng trí để kiếm miếng ăn!) thì vô số kể! Dẫn đầu từ Tố Hữu đến… Nguyễn Khải (đi tìm cái tôi đã mất!)

    Hiện tại cũng thế thôi! Đếm thử có mấy người dám lên tiếng chống áp bức bất công để bảo vệ những người thấp cổ bé miệng? Có mấy người lên tiếng bảo vệ đạo đức truyền thống, trái ngược với cái gọi là “đạo đức cách mạng”? Có mấy người dám lên tiếng trước đại họa ngoại xâm? Số người VN đang mắc căn bệnh thời đại (sida) không cao lắm so với châu Phi, nhưng tiếc thay trí thức VN lại nhiễm nặng đến độ thành (liệt kháng ‘cấp’), tôi nghĩ, cao hơn lục địa đen gấp bội!

    Giữa thời buổi nầy mà Đảng bắt cả nước học tập “đạo đức bác Hồ” 5 năm mà anh HH đòi cộng sản công khai xác nhận những sai lầm trong quá khứ thì… chỉ còn nước chờ đến khi họ xuống lỗ, như Chế Lan Viên hoặc Nguyễn Khải!

    Nghĩ lại cũng đúng thôi! Ông tổ của XHCN, bác Mao, đã phán: “trí thức (tôi thêm: XHCN) giá trị không hơn một cục phân!” thì thực tế đang khẳng định!

  3. Thanh viết:

    Về “cá nhân chủ nghĩa”, đây là chủ nghĩa mà con người được đặt làm trọng tâm của xã hội. Trong một xã hội như thế, những hoạt động của nhà nước chỉ có một mục đích là phục vụ cho hạnh phúc và an ninh của mọi cá nhân trong xã hội. Điển hình cho “cá nhân chủ nghĩa” là các xã hội Châu Âu hay Hoa Kỳ. Khác nhau giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể là một bên nhà nước lập ra để phục vụ cho cá nhân và một bên là cá nhân phục vụ cho tập thể qua đại diện là nhà nước. Việt Nam hiện nay có thể xem là một xã hội cá nhân chủ nghĩa không ? Dứt khoát là không. Còn xa lắm VN mới có một xã hội như ở Tây Âu để gọi là “cá nhân chủ nghĩa”.

    Xã hội VN đang bị phân hóa vì đạo đức suy đồi. Khi con người sống không có đạo đức thì con người hành xử với nhau như con vật. Con vật đối xử với nhau vì bản năng, phải tranh dành với nhau để sống. Xã hội VN là một xã hội “cá nhân” như thế, sống chết mặc bây, mạnh được yếu thua, vô trật tự, vô luật lệ. Tình trạng VN hiện nay là do đạo đức chứ không phải là do thời ký quá độ từ chủ nghĩa tập thể sang chủ nghĩa cá nhân. Giải quyết nó là phải nhanh chóng chấn hưng đạo đức. Đổ lỗi cho “chủ nghĩa cá nhân” là nhìn sai vấn đề.

    Tôi cám ơn quí ông Thiện Ý, Hoàng Hưng cùng nhiều tác giả khác đã viết những bài rất hay, nội dung trình bày nguyên nhân và hậu quả đồng thời cảnh cáo về hiện tượng suy đồi đạo đức VN.

  4. Thanh viết:

    Việt Nam có thật sự như là «con lắc đơn», dao động từ từ một cực đoan này sang một cực đoan khác, từ chủ nghĩa tập thể sang chủ nghĩa cá nhân như hiện nay? Không có gì chắc chắn để kết luận như thế nếu ta hiểu thế nào là con lắc và thế nào là «cá nhân chủ nghĩa».
    Về con lắc thì thật đơn giản và gợi hình, lắc qua, lắc lại, con lắc của đồng hồ là một thí dụ. Con lắc dao động với biên độ và chu kỳ của nó được xác định bởi một hàm số tuần hoàn. Trên phương diện toán học người ta chỉ có thể so sánh một hiện tượng tuần hoàn với một hiện tượng tuần hoàn. Có thể VN đã đi từ một cực đoan này sang một cực đoan khác, nhưng đây không phải là một hiện tượng lặp đi lặp lại có chu kỳ, để có thể so sánh với con lắc. Tuy nhiên, tôi sẽ hưởng ứng nếu so sánh này chỉ cho ngoại giao của VN từ hơn nửa thế kỷ nay, dao động từ Trung Quốc sang Liên Xô, từ TQ sang LX; khi cực Liên Xô không còn, cố gắng chuyển sang Hoa Kỳ mà không thấy kết quả.

  5. dahieu viết:

    Để trả lời câu hỏi: “Nhưng làm sao để kinh tế phát triển nhanh hơn?” thì theo thiển ý cuả tôi về một nền kinh tế phát triển nhanh là một nền kinh tế tạo cơ hội cho mọi nhà đầu tư cùng được tham gia đồng đều với một nền tư pháp vô tư và minh bạch. Muốn được thế thì chỉ có cách duy nhất là VN phải có dân chủ nên cần bãi bỏ điều 4 hiến pháp mà thôi. Điều này thật khó vì có một nhà lãnh đạo VN đã từng tuyên bố: “Bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát”.

  6. Nguyễn Tâm Bảo viết:

    Xã hội Việt Nam giống như con lắc đơn, dao động từ cực đại này sang cực đại kia, chịu chi phối của hai lực tác dụng: lợi ích cá nhân và tinh thần tập thể.

    Các xã hội văn minh có những định chế để giữ con lắc đơn dao động nhẹ xung quanh vị trí cân bằng.

    Việt Nam thời bao cấp thì đề cao tính tập thể tuyệt đối, còn lợi ích cá nhân bị giảm thiểu đến zero. Đó là một cực đại.

    Sau khi mở cửa, con lắc chuyển sang cực đại khác: tinh thần tập thể xuống đến zero, còn lợi ích cá nhân được đẩy lên mức tối đa. Lòng tham và dục vọng cá nhân bùng nổ, người ta hối hả chụp giật để sống bù cho thời bao cấp thiếu thốn: quan chức thì chụp giật của công, ăn cắp và nhận hối lộ những khoản kếch xù. Dân đen không có quyền lực thì chụp giật những cái tầm thường như bẻ hoa, trộm chim cảnh v.v.

    Nhưng con lắc đơn, theo thời gian, sẽ chuyển dần từ điểm cực đại về điểm cân bằng.

    Hy vọng là cùng với kinh tế phát triển thì xã hội cũng sẽ văn minh hơn, cân bằng hơn.

    Nhưng làm sao để kinh tế phát triển nhanh hơn?

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>