talawas blog

Chuyên mục:

Trần Văn Tích – Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về cách đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông

23/11/2009 | 2:00 chiều | 51 Comments

Tác giả: Trần Văn Tích

Category: Lịch sử
Thẻ: > >

Nơi đoạn kết bài viết về “kiêu dân Công giáo” của mình, ông Trần Lâm đề cập đến thiên hồi ký ngắn của ông Phan Lạc Giang Đông, em ruột ông Phan Lạc Tuyên, người tham gia chính biến 11.11.1960 và sau đó cùng viên hạ sĩ quan tài xế đào thoát sang Cao Miên, để vợ con ở lại Việt Nam. Ông Trần Lâm viết: “Sau cuộc đảo chánh hụt năm 1960, tay chân của anh em Ngô Đình Diệm đã xâm phạm tính dục nhiều người vợ của những viên sĩ quan tham gia vào biến cố đó (…)”. Trong một điện thư riêng gửi cho tôi – có đồng gửi cho một vài người khác – ông Trần Lâm cũng nhắc đến thiên hồi ký này kèm lời bình luận, chắc ông chưa quên. Vốn cẩn thận và chu đáo ông Trần Lâm đã đưa lên mạng mấy trang hồi ký liên hệ, nhờ thế tôi mới có dịp lần đầu tiên làm quen với cây bút Phan Lạc Giang Đông (Nhìn lại biến cố 11/11/1960. Nhớ lại và suy nghĩ). Bài viết hôm nay tập trung vào việc bình luận những điều được ông Phan Lạc Giang Đông kể lại.

Trường hợp Phan Lạc Tuyên

Tác giả Phan Lạc Giang Đông không cho biết vào thời điểm xảy ra chính biến 11.11.1960 ông Phan Lạc Tuyên, anh cả của ông, mang cấp bậc gì trong quân đội. Tham khảo Việt sử khảo luận của cố luật sư Hoàng Cơ Thụy, Nhà xuất bản Nam Á (Sudasie), Paris, 2002, cuốn 5, đoạn 201, Cuộc đảo chính ngày 11-11-1960 của binh chủng nhảy dù và Liên minh dân chủ, từ trang 2816 đến trang 2872, được biết ông Phan Lạc Tuyên thuở bấy giờ mang cấp bậc đại uý.

Tác giả Phan Lạc Giang Đông cho biết: “Có lần anh (Phan Lạc Tuyên, TVT chú) được gọi vào trình diện Tổng thống Ngô Đình Diệm rất bất ngờ và sau lần gặp đó, anh chuẩn bị đi làm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương. Tôi nghe đâu công việc đang tiến hành.” Chúng ta không rõ lúc bấy giờ ông Phan Lạc Tuyên bao nhiêu tuổi nhưng tôi phỏng đoán ông chỉ chừng trên ba mươi dưới bốn mươi. Và tôi có nhận định sau: là người Bắc di cư (tức không phải dân Trung, đương nhiên), có thể không phải là Công giáo, chẳng là Cần lao, mới chỉ là đại uý, còn đang rất trẻ, ông Tuyên đã được Tổng thống Diệm lưu ý và có ý định đề bạt vào chức vụ cai trị một tỉnh. “Nhìn lại và suy nghĩ”, tôi dẫu là kẻ bàng quan, cũng mừng cho ông và cho gia đình, nhất là vợ con ông. Thế nhưng bỗng dưng ông Phan Lạc Tuyên tham gia đảo chính mà không hề cho đại gia đình và tiểu gia đình biết.

Như vậy, đọc ông Phan Lạc Giang Đông (và nếu thông tin ông đưa ra là đúng), tôi tìm thấy một dữ kiện chứng tỏ rằng Tổng thống Ngô Đình Diệm, ít nhất qua trường hợp đại uý Phan Lạc Tuyên, không phải chỉ đề cử quân nhân viên chức vào các chức vụ quan trọng theo ba tiêu chuẩn dân Trung, Công giáo, Cần lao.

Thảm kịch Bùi Thị Nga

Bà Bùi Thị Nga là phu nhân của đại uý Phan Lạc Tuyên. Sau khi chồng đào thoát sang Cao Miên, bà bị cơ quan an ninh quân đội bắt giữ và vào dịp đó, bị xâm phạm tiết hạnh.

Khi được phóng thích, bà về lại nhà chồng và ngang nhiên ăn nằm cùng một kẻ lạ mặt, “một người mặc thường phục, cao lớn và dáng là quân nhân, đi xe hơi đen, hoặc xe Jeep” (Phan Lạc Giang Đông, tlđd, tr. 214). Nhận định về thảm cảnh của chị dâu, tác giả Phan Lạc Giang Đông viết: “Chị Tuyên là người có nhan sắc, bởi vậy, chị đã bị nhiều kẻ lợi dụng, nhất là những kẻ có quyền lực, vả lại, trong hoàn cảnh kinh tế khốn quẫn đến cực cực (sic), toàn bộ gia đình bị cô lập, ngay cả cái đám họ hàng Phan Lạc đều xa lánh, thử hỏi, việc chị sa ngã cũng không đáng trách.” Như thế, theo nhân chứng là người em chồng, đoạn đời bất hạnh của bà Nga bắt đầu khi bà thất thân trong tù để rồi sau đó, bà sống phóng túng vì bị nhiều kẻ có quyền lực lợi dụng. Tiếp tục truy tầm những thành phần “chủ trương báo thù bỉ ổi” (chữ của đại tá Trần Ngọc Nhuận), chúng ta được ông Phan Lạc Giang Đông đưa đến gặp ông Vi Bằng năm 1988 (tr. 216). Ông Vi Bằng cho biết: “đã có những người ‘anh em văn nghệ’ của anh Tuyên, vì chị Tuyên là người có nhan sắc – nên họ đã lợi dụng và làm nhiều việc rất nhờm tởm; mà một trong những số đó là những V.Q., những tên vô liêm sỉ khác nữa.” Thử liệt kê theo ông Phan Lạc Giang Đông chúng ta có một gã mặc thường phục, chúng ta có một kẻ nào đó tên Đ., chúng ta có những kẻ có quyền lực, chúng ta có những người “anh em văn nghệ”, chúng ta có những V.Q., chúng ta có những tên vô liêm sỉ khác nữa. Nhưng tuyệt nhiên chúng ta không hề thấy những tên sĩ quan an ninh quân đội bị tố cáo đích danh, đích thân, đích thị, đích thực, đích xác. Trái lại, chúng ta gặp một danh sách cá nhân hoặc tập thể chung chung, lồng trong những cung cách dùng từ bí ẩn. Nhưng ông Trần Lâm không hề thấy cái mớ bòng bong đó. Ông khẳng định đó là những “tay chân của anh em Ngô Đình Diệm”.

Các bà phu nhân khác

Những người lãnh đạo cuộc đảo chánh 11.11.1960 về phía quân sự là đại tá Nguyễn Chánh Thi, trung tá Nguyễn Triệu Hồng và trung tá Vương Văn Đông; về phía dân sự có luật sư Hoàng Cơ Thụy, được xem như “quân sư” của nhóm đảo chánh. Ngoài ra còn nhiều sĩ quan khác, chẳng hạn thiếu tá Phan Trọng Chinh, thiếu tá Phạm Văn Liễu v.v… Khi đảo chánh thất bại, một số sĩ quan như đại tá Thi, trung tá Đông, thiếu tá Liễu bắt trung tướng Thái Quang Hoàng làm con tin và dùng phi cơ Dakota C-47 trốn sang Cao Miên.

Vợ con của họ kẹt lại Việt Nam. Tôi chưa đuợc đọc tài liệu nào nói về “chủ trương báo thù bỉ ổi” đối với họ. Nếu ông Trần Lâm biết những tài liệu này, xin ông vui lòng chia sẻ kiến thức với tôi; tôi xin cám ơn trước.

Tướng Nguyễn Chánh Thi sang Cao Miên, được cộng sản đến thuyết phục theo họ, nhưng ông cương quyết từ chối. Có lúc họ còn hứa với ông là nếu ông đồng ý thì họ sẽ đem vợ con ông ra ngoại quốc. Nhưng ông chỉ trả lời vắn tắt là ông chưa có ý đi đâu cả và cũng không nghĩ gì về việc đem gia đình trốn khỏi Việt Nam (Nguyễn Chánh Thi – Việt Nam, một trời tâm sự, dẫn theo Hoàng Cơ Thụy, tlđd, tr. 2868). Phần luật sư Hoàng Cơ Thụy thì được CIA dùng bao bố ngụy trang thành “tín hàm” xách lên phi cơ nhà binh mang ra khỏi Việt Nam. Ngay trước đó ít hôm, luật sư Thụy liều lĩnh lén lút về thăm nhà thì chỉ gặp hai cô con gái và hai cậu con trai giữa, riêng bà luật sư thì dẫn hai con trai đầu và út lẩn trốn vào Chợ Lớn. Tôi không hề được nghe hay được đọc về những hành vi khủng bố, kỳ thị đối với bà luật sư cùng số con trai con gái đông đảo của ông bà. Họ tiếp tục cư ngụ trong ngôi biệt thự khang trang toạ lạc tại số 84 đường Bà Huyện Thanh Quan, ngay giữa thủ đô. Các con trai và con gái học hành đến nơi đến chốn, có người trở thành sĩ quan và hy sinh tại Hạ Lào. Xin ghi chú thêm là hai vợ chồng chúng tôi, trong cuộc sống lưu vong, đã có cơ may quen biết luật sư Hoàng Cơ Thụy và được ông nhận là nghĩa đệ nghĩa muội. Chúng tôi cũng từng được hân hạnh diện kiến ông bà trung tá Vương Văn Đông ở Paris trong một dịp sinh hoạt văn học.

Thế cho nên tôi vừa xót xa đau buồn vừa phẫn hận uất ức khi đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông để được nghe kể về cuộc sống hậu đảo chính của gia đình ông, nó cứ y như trong chế độ cộng sản. Nhưng tại sao lại chỉ có một mình gia đình ông lâm cảnh oan khiên nghiệt ngả, ít nhất theo như tôi được đọc, được nghe, được thấy? Vậy nên tôi xin lặp lại đây lời thỉnh cầu gửi ông Trần Lâm, mong ông nếu có những tài liệu khác liên quan đến sự kiện đau buồn tương tự mà nạn nhân không thuộc dòng họ Phan Lạc thì xin ông vui lòng cho tôi được tham khảo cùng.

Em ông Phan Lạc Tuyên không cho hay ông lãnh nhiệm vụ gì trong biến cố 11.11.1960. Tìm đỏ con mắt trong mấy chục trang giấy khổ lớn chữ nhỏ của cuốn Việt sử khảo luận mới thấy ông Tuyên xuất hiện qua một câu duy nhất nơi trang 2852: “Cho nên Thi (đại tá Nguyễn Chánh Thi, TVT chú) phái đại uý Phan Lạc Tuyên đi “mời” bác sĩ Phan Quang Đán đến và nói: (…)”. Không phải là lãnh đạo chính biến mà chỉ là cấp thừa hành, sao riêng một mình gia đình đại uý Phan Lạc Tuyên phải chịu cảnh oan trái như vậy?

Vào dưỡng trí viện Biên Hoà

Năm 1971, vì chứng bệnh tâm trí của bà Bùi Thị Nga càng ngày càng nặng nên ông cụ nhạc gia của bà và ông Phan Lạc Giang Đông đưa bà lên dưỡng trí viện Biên Hoà xin nhập viện nhưng bị từ chối. Phải làm đơn gửi đi gửi lại vài nơi khác, cuối cùng bà Nga mới được nhận điều trị tĩnh tại. Đọc hồi ký giữa các hàng chữ, tôi lại cảm thấy bàng bạc bầu khí quyển khủng bố, kỳ thị, cách biệt, ly gián bao trùm lên gia đình người thiếu phụ bất hạnh. Cảm giác này càng nặng nề, căng thẳng đến độ ngột ngạt, ngộp thở vì tôi biết rõ bộ máy công quyền y tế quốc gia. Khoảng cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 thế kỷ trước, giám đốc dưỡng trí viện Biên Hoà là bác sĩ Tô Dương Hiệp, con trai trưởng nhà văn Bình Nguyên Lộc. Bác sĩ thường trú dưỡng trí viện là bác sĩ Cao Văn Lê. Cả hai đều tốt nghiệp năm 1962, cùng khoá với tôi. Qua bảy năm ròng cùng học chung thầy chung lớp, chúng tôi biết nhau khá rõ. Tôi không thể hiểu nổi tại sao hai anh bạn đồng nghiệp đồng khoá này lại có thể từ chối không nhận một nữ bệnh nhân mắc bệnh tâm thần trầm trọng. (Bác sĩ Tô Dương Hiệp mất trước 1975 vì ung thư máu, bác sĩ Cao Văn Lê chết trong ngục tù cộng sản.)

Dưới chế độ quốc gia, khi một người dân đau ốm, họ có thể và có quyền đến khu khám ngoại chẩn của các bệnh viện thích nghi tại Sàigòn (Chợ Rẫy nếu là ngoại khoa và/hoặc nội khoa, Chợ Quán nếu là truyền nhiễm, Từ Dũ nếu là sản phụ khoa v.v…). Khám ngoại chẩn đôi khi do bác sĩ phụ trách nhưng thông thường thì do anh chị em sinh viên y khoa chúng tôi (năm thứ năm và năm thứ sáu) cáng đáng. Làm việc rất cực nhưng cũng rất vui, tối tăm mày mặt mà không biết mệt. Chúng tôi chỉ biết bệnh nhân, chúng tôi hoàn toàn không cần biết lý lịch, gốc gác. Trường hợp bệnh nhân mang theo được giấy giới thiệu nhập viện của một đàn anh đàn chị có phòng mạch tư thì alêhấp, yêu cầu y tá và hành chánh bố trí giường bệnh ngay. Chúng tôi chưa hề gặp trường hợp nào có chỉ thị của ai đó xía vô chuyện tiếp bệnh nhận bệnh và cũng không thể tưởng tượng được là có thể có chuyện “trên” yêu cầu này nọ.

Ông thân sinh nhị vị Phan Lạc Tuyên – Phan Lạc Giang Đông là một nhân sĩ, một thức giả. Bản thân ông Phan Lạc Giang Đông là một nhà văn quảng giao. Tại sao không ai nghĩ đến chuyện đưa bà Bùi Thị Nga đến khám bệnh tại một phòng mạch tư và xin giấy giới thiệu vào dưỡng trí viện Biên Hoà? Thay vì làm vậy, cụ Phan Lạc senior lại mấy lần viết đơn gửi dưỡng trí viện và các nơi khác.

Cháu Phan Quốc Hưng

Cháu Phan Quốc Hưng là con út nhị vị Phan Lạc Tuyên – Bùi Thị Nga khi mẹ cháu bị an ninh quân đội câu thúc thân thể. Cháu lên sáu tuổi và cùng đi tù với mẹ. Tác giả Phan Lạc Giang Đông cho rằng chất căm hờn đã thấm vào dòng máu của cháu. Phần ông Trần Lâm thì coi đây là một tội ác trời không dung đất không tha.

Tôi nhìn vấn đề có khác. Đối với đứa bé sáu tuổi, vũ trụ chủ yếu chỉ qui vào hai người: cha và mẹ. Nay bỗng nhiên một nửa vũ trụ biến mất, nó chỉ còn lại nửa kia là mẹ. Nó cần mẹ hơn bao giờ hết và nó muốn gần mẹ hơn bao giờ hết. Nó muốn được mẹ bón cơm cho ăn, nó muốn cùng mẹ tỉ tê trò chuyện, nó muốn ngủ vùi trong suối tóc của mẹ, nó muốn sờ tí mẹ.  Nó cần mẹ bế bồng, vuốt ve, thay áo, mặc quần, tắm rửa, chải tóc, thoa gãi. Càng bé càng thường xuyên lo sợ mất mẹ mỗi khi không nghe tiếng nói của mẹ trong một thời gian ngắn. Tóm lại, bố mẹ đi vắng lâu ngày gây cho trẻ cảm giác mất an toàn. Do đó tâm lý học không ngần ngại dùng khái niệm dyade để mô tả mối quan hệ chặt chẽ mẹ-con. Ở các quốc gia Tây phương ngày nay, có lẽ cháu bé sáu tuổi không phải đi tù cùng mẹ. Nhưng năm 1960 ở miền nam nước Việt, tôi nghĩ giải pháp cho phép bà mẹ khốn khổ mang theo đứa con út thân thương vào nhà tạm giam là một giải pháp nhân đạo. Nhìn sự việc một cách nhân bản như vậy, tôi không nghĩ rằng có ai đó đã kể cho đứa bé đáng thương là nó đang đi tù vì chắc chẳng ai đành đoạn hành hạ nó thêm một bước như thế, nhất là một khi nó chưa cần vận dụng trí khôn để hiểu nghĩa chữ “tù”.

Hoa Sơn luận kiếm

Ông Trần Lâm xuất hiện trên talawas lần này là lần thứ ba, nhưng chỉ qua hai đề tài: đại úy “ma” Scott và “kiêu dân Công giáo”. Cả hai đề tài đều cùng thuộc vào công trình biên soạn luận văn tốt nghiệp đại học của ông. Ông nuôi hoài bão sẽ đạt được vào năm 2013 “thành quả hàn lâm” mà ông Cao Huy Thuần từng đạt được vào cuối thập niên 60 của thế kỷ 20. Từ đây đến đó, ông phải lo luyện võ ôn văn nhằm có đủ tư cách lên đỉnh Hoa Sơn luận kiếm với quần hùng. Khi anh theo học đại học hay tốt nghiệp đại học thì quả là anh có thể được gọi hay được xem là académiste, Akademiker mà trong cả hai ngôn ngữ Pháp, Đức chữ này cũng hàm nghĩa hàn lâm. Tôi không thật chắc trong Anh ngữ có như thế không. Nhưng tự xem luận văn tốt nghiệp đại học của mình là một thành quả hàn lâm thì tôi nghĩ dường như có điều ra làm sao ấy. Tôi e chính bản thân ông Cao Huy Thuần cũng chẳng muốn sử dùng tính từ hàn lâm cho cái thèse của mình. Tôi cũng thấy là lạ khi ông Trần Lâm mệnh danh công việc trình luận văn tốt nghiệp là chuyện Hoa Sơn luận kiếm với quần hùng. Ai sẽ là Tây Độc, ai sẽ là Đông Tà trong ngày trọng đại vào năm 2013 sắp tới? Tôi vốn thuộc thành phần “Tây học”, hiểu theo nghĩa đen; vì thế tôi đoán chắc quá trình biên soạn luận án và thủ tục bảo vệ luận án ở các quốc gia thuộc hệ ngôn ngữ Anh-Mỹ hẳn hoàn toàn khác với sự hiểu biết của cá nhân tôi.

Lời chót

Qua những dòng này tôi chỉ muốn đọc mấy trang hồi ký của ông Phan Lạc Giang Đông theo cách riêng tư và khi cần thì thử so sánh với cách đọc của tác giả “Kiêu dân Công giáo thời Ngô Đình Diệm”. Người đọc bắt buộc phải và nhất định đã bắt sóng tác phẩm như một thực thể nghệ thuật theo cảm thụ và tâm cảnh chủ quan, nhưng cần tránh diễn dịch, suy luận theo định kiến, thiên kiến. Nhìn chung, theo tôi, hồi ký Phan Lạc Giang Đông cung cấp những dữ kiện có thể đáng tin. Tuy nhiên đôi chỗ các dữ kiện dẫu đáng tin mà lại bất thường.  

Trong số những người từng sống qua các giai đoạn tao loạn của miền Nam trước đây có rất nhiều người hiện còn tại thế. Tôi ước ao sẽ có sự tiếp tay của những chứng nhân các vụ bạo hành tính dục hàng loạt, các vụ hiếp dâm cưỡng dâm tập thể xảy ra sau ngày 11.11.1960 theo “chủ trương báo thù bỉ ổi” qua những “tay chân của anh em Ngô Đình Diệm” nhằm cung cấp thêm tài liệu cho công trình nghiên cứu của ông Trần Lâm. Tất nhiên là những chứng nhân đáng tin cậy. Phải chăng các danh tính Chính Đạo, Nguyễn Mạnh Quang, Phạm Xuân Tích, Nguyễn Kiên Hùng; những tác giả chủ biên hay cộng tác nhằm hoàn thành “Nhìn lại biến cố 11/11/1960” mà thành quả trí tuệ không được ông Trần Lâm đưa lên mạng có thể là những chứng nhân quan trọng đầu tiên?

Bình luận

51 Comments (bài “Trần Văn Tích – Thử bàn luận cùng ông Trần Lâm về cách đọc hồi ký Phan Lạc Giang Đông”)

  1. Hoà Nguyễn viết:

    Trả lời ông Imitee.

    Dụ số 10 trở thành phân biệt đối xử tôn giáo khi chỉ áp dụng cho Phật giáo và các tôn giáo khác, chứ không áp dụng cho Thiên Chúa giáo. Thiên Chúa giáo tiếp tục được biệt đãi theo quy chế hưởng từ thời Pháp thuộc. Theo Lữ Giang viết Phật giáo trước 1950 “theo Luật về Hiệp Hội 1901 (Les associations loi 1901) và các văn kiện kế tiếp của Pháp”.

    Năm 1950, VN chưa thể gọi là một nước độc lập (dù có tuyên ngôn độc lập năm 1945), nhưng từ 1954 trở đi luật lệ ở cả hai miền VN không thể theo luật thời Pháp thuộc nữa, như để cho Thiên Chúa giáo tiếp tục hưởng quy chế ưu đãi khác với các tôn giáo khác. Nhưng ông Diệm đã làm vậy (tuy được biện minh là ông không làm Dụ số 10), và do đó chế độ ông Diệm đã phải sụp đổ.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    @ pnn.

    Tôi không muốn dây vào cuộc tranh cãi với những lý lẽ đả kích cá nhân, không kể các thứ khác. Nhưng cũng trả lời vài điều cho những ai quan tâm chuyện ở miền Nam trước 1975.

    1/ Về Dụ số 10, trích từ bài viết ngắn “Lý do cuộc đảo chính 1.11.1963” của ông Trần Gia Phụng:

    “Chính sách tôn giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn Hữu ban hành ngày 6.8.1950 dưới thời quốc trưởng Bảo Đại. Dụ nầy ấn định quy chế các hiệp hội, gồm có 5 chương, 45 điều. Điều 1 của dụ nầy sắp các tôn giáo, trừ Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội đua ngựa…); trong khi điều 45 của dụ nầy cho biết sẽ ấn định quy chế đặc biệt cho các hội truyền đạo Ky-Tô và các hội Hoa kiều.”

    Trước 1959, theo Lữ Giang (viết trong bài phê bình bài của TGP) các tổ chức tôn giáo ở VN, trừ Thiên Chúa giáo, theo Luật về Hiệp Hội 1901 (Les associations loi 1901) và các văn kiện kế tiếp của Pháp được áp dụng.

    Biệt đãi Thiên Chúa giáo trong thời Pháp thuộc thì không lạ, vì nguyên nhân Pháp đánh chiếm VN là vì họ cho Thiên Chúa giáo bị triều đình Huế ngược đãi, bách hại, nhưng tình trạng này kéo dài đến thời VN đã độc lập là quá lỗi thời, và bài học này Lữ Giang cũng chưa nhận thấy.

    4/ pnn viết: “Một mặt các bác chống ông Diệm toàn đổ cho cái tội “đàn áp” tôn giáo, nhưng các bác lại không đếm trong nội các ông Diệm cho đến các ông tướng có bao nhiêu ông không phải CG?”

    Ông Diệm dù là thánh cũng không thể tạo ra các tướng Công giáo đủ cho quân đội VNCH, khi giáo dân Công giáo chỉ chừng 3 triệu ở miền Nam lúc đó (so với Cao Đài là 2 triệu), vì không phải muốn có tướng thì chỉ gắn lon. Nhưng để củng cố quyền lực, người chỉ huy ngành Tình báo là Trần Kim Tuyến, Công giáo, chỉ huy Lực lượng Đặc Biệt là Lê Quang Tung, Công giáo; lực lượng này đứng ngoài hệ thống chỉ huy quân đội, do Ngô Đình Nhu trực tiếp điều động, và lực lượng này đã tấn công các chùa mà các tướng như Trần Văn Đôn (quyền Tổng tham mưu trưởng), Trần Thiện Khiêm (chỉ huy quân doàn bao quanh Sài Gòn), Đỗ Mậu (An ninh quân đội) không hề biết. Đỗ Mậu, một người Phật giáo, nhưng đã theo ông Diệm từ trước 1945 vào thời Nhật, từng giúp ông Diệm chống lại tướng Nguyễn Duy Hinh (1954) và đại tá Nguyễn Chánh Thi (1960), nhưng năm 1963, khi các chùa bị tấn công, Đỗ Mậu “phản lại” hai ông Diệm Nhu. Ông Diệm còn đưa Phạm Ngọc Thảo, một Công giáo do Giám mục Thục giới thiệu và bảo đảm, từ chiến khu Viêt Minh về, trông coi xây dựng Ấp chiến lược, với mục đích nắm Dân vệ, điạ phương quân, các quận trưởng, tỉnh trưởng, để làm đối trọng chống lại quân đội mà ông Diệm nghi ngờ lòng trung thành sau đảo chính 1960. Sự thiếu chỉ huy thống nhất lực lượng quân sự trong cuộc chiến chống lại “Việt Cộng” đang mạnh lên lúc đó, là một trong nhiều bất bình của phía quân đội, nên họ đã đề nghị cải cách tổ chức trước khi làm đảo chính 1-11-63, nhưng ông Diệm không chấp thuận. Từ 1954 đến 1961 (lần cải tổ nội các chót), ông Diệm ngoài chức Tổng thống (hay thủ tướng) còn kiêm Bộ trưởng Quốc phòng (phụ tá BT là Nguyễn Đình Thuần, một người thân tín). Khi đảo chính xảy ra, các cấp đại tá xung quang Sài Gòn nắm binh quyền là Công giáo, như Lâm Văn Phát sau này cùng Phạm Ngọc Thảo làm nhiều đảo chính chống tướng Khánh.

    5/ pnn: “Đại học Saigon, Đại học Huế, đại học Đà Lạt. Nhất lại Đại học Huế”

    Đại học Sài Gòn đã có trước khi ông Diệm từ Mỹ về Sài Gòn (1954), nhưng chỉ một vài phân khoa (ông Trần Văn Tích có thể làm chứng); sau hiệp định Genève, đại học Hà Nội thành lập từ thời Pháp thuộc di chuyển vào, nhập chung với đại học Sài gòn. Đại học Huế đúng là mở ra vào thời ông Diệm, nơi quê hương của gia đình ông, nhưng với viện trưởng là linh mục Cao Văn Luận (dường như chỉ có cử nhân vì trườc đó LM Luận dạy Trung học). Đại học Đà Lạt là đại học tư, do một nhóm linh mục Công giáo lập. Thời ông Nguyễn Cao Kỳ mở thêm đại học Cần Thơ, Phật giáo mở đại học (tư) Vạn Hanh, Công giáo thêm đại học tư Minh Đức (?), và thời ông Thiệu, Hoà Hảo cũng có đại học ở Long Xuyên.

    6/ pnn: “Các bác đọc sử mà chẳng học được lịch sử để rồi đến ngày 30 tháng 4 thì đã muộn.”

    Một điều ông Trần Lâm nhận định đúng là chế độ độc tài, gia đình trị, thiên vị tôn giáo của ông Diệm khi sụp đổ tạo ra một khoảng trống chính trị rất lớn ở miền Nam, dẫn tới thảm trạng 30-4-1975. Vì độc tài tiêu diệt các đảng phái chính trị khác, dù đối lập thế nào, nên sau 1963, miền Nam không có một lực lượng chính trị nào được sự ủng hộ của một thành phần quần chúng đông đảo, nên các thế lực chi phối chính trường miền Nam là quân đội, Phật giáo, Thiên chúa giáo, các đảng Đại Việt, Việt quốc khi dựa vào quân đội khi dựa vào Thiên chúa giáo (do bị một nhóm Phật giáo chống lại, như ở Huế). Sau cùng đưa đến một chính quyền, cũng theo ông Trần Lâm nhận thấy, là Công giáo, tức Nguyễn Văn Thiệu, được nhiều người gọi là “chế độ Diệm khong có Diệm”. Ông Thiệu dùng lại rất nhiều người Công giáo thời ông Diệm (các tướng Huỳnh Văn Cao, Đặng Văn Quang, Nguyễn Bảo Trị), một số người Đại Việt (đại tá Nhan Minh Trang làm đô trưởng Sài Gòn, Huỳnh Văn Tồn), và được khối Công giáo ở Quốc hội ủng hộ. Về sau có đảng Cấp tiến, thoát thai từ Đại Việt, tuy nói đối lập, nhưng không chống ông Thiệu. Đến lúc này thì Vatican thay đổi quan điểm về chiến tranh ở VN, cho nên một số người Công giáo khác quay lại chống chiến tranh và chống ông Thiệu, như các linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, Trần Hữu Thanh, và các trí thức Công giáo ảnh hưởng nhiều đến sinh viên, như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung. Gần tới ngày miền Nam sụp đổ, LM Trần Hữu Thanh đưa ra những cáo trạng quyết liệt chống trực tiếp và mạnh mẽ cá nhân ông Thiệu, thêm phổ biến rất rộng (đăng lại trên báo chí hàng ngày), khiến chẳng còn mấy ai tin tưởng vào sự lãnh đạo của ông Thiệu nữa. Trong khi đó LM Nguyễn Ngọc Lan đã liên lạc với MTGPMN. Có thể nói miền Nam sụp đổ mau lẹ như vậy là do Công giáo gây nên, từ Tổng thống Công giáo Thiệu bị chính người Công giáo chống đối trở nên suy yếu về chính trị và vô cùng lúng túng trong mọi quyết định, đến các cố vấn cao cấp Công giáo hoạt động cho VC như Huỳng Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ, các linh mục và trí thức Công giáo. Nhóm sau có nhiều phương tiện hoạt đông hơn bên phía Phật giáo, và không bị nghi ngờ hay bị gây khó dễ gì về mặt chính trị khi mọi người tin rằng đã là Công giáo (ở VN) thì không thể là CS hay thiên Cộng. LM Thanh Lãng, một giáo sư của tôi, bảo lãnh cho Vũ Hạnh ra khỏi trại giam Tân Hiệp mà ngay tôi chỉ đọc Bách Khoa cũng nhận thấy VH là nhà văn thiên Cộng.

    Nói chung, sự sụp đổ của miền Nam, nhìn sâu xa hơn là hậu quả của một chế độ độc tài, như chế độ ông Ngô Đình Diệm, không bao giờ muốn thiết lập sẵn một cơ chế hữu hiệu cho sự tiếp nối chính trị êm thắm, bình thường, mà khi cần thay đổi chính quyền, cần chuyển giao quyền lực qua sự lãnh đạo mới, bắt buộc phải dùng đến bạo lực, hoặc là đảo chính, hoặc nổi loạn, hay cách mạng. Nhưng tiếp theo khoảng trống chính trị thường là những xáo trộn lớn, khó tiên liệu, và chính quyền mới không thể đứng vững khi có tấn công mạnh từ bên ngoài. Những nhà độc tài như thế, khi cho không ai xứng đáng hơn ta, đă làm theo ngạn ngữ của Pháp “sau ta là đại hồng thuỷ”, và sự kiện 30-4-1975 đã chứng minh là đúng như vậy.

  3. 1mitee viết:

    Về “Dụ số 10”

    Lâu nay tôi thường nghe nói về “chính sách kỳ thị tôn giáo”, “Dụ Số 10” và “Mỹ-Diệm đem máy chém lê khắp Miền Nam” thời cố TT Ngô Đình Diệm mà không tìm thấy một tài liệu nghiên cứu nào có tính hệ thống, đứng đắn, trình bày các văn kiện, chính sách, hướng dẫn về kỳ thị tôn giáo của chính quyền NĐD.

    Khi đọc phản hồi của Hoà Nguyễn về bài viết của Lữ Giang liên quan đến “Dụ Số 10” quy định hoạt động của các hội đoàn thì thấy bài đó ở đây:
    http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6931

    Nhưng đọc xong tôi có cảm tưởng Hoà Nguyễn không diễn tả đầy đủ, trung thực nội dung bài viết đó. Tôi sẽ để các độc giả tự nhận xét sau khi đọc bài báo.

    Ngoài ra, nếu chỉ dựa vào “Dụ số 10” để kết tội chính quyền NĐD kỳ thị tôn giáo thì quá nông cạn, hấp tấp và thiếu cơ sở vì Dụ số 10 không do Đệ Nhất Cộng Hoà soạn thảo và ban hành mà chỉ thừa hưởng từ Vua Bảo Đại trước đó.

    Hơn nữa, nếu chính quyền NĐD đã thực sự có chính sách kỳ thị tôn giáo thì tại sao sau 1/11/1963 tôi không thấy, hay chưa thấy, một nhà sử học nào xuất bản một tài liệu khả tín về lãnh vực này. Ngay cả những cây viết trụ cột trong phong trào tranh đấu Miền Trung cũng không có một tác phẩm nghiên cứu nào cả. Tôi chắc chắn rằng nếu có cơ sở, dữ liệu thì những cây viết đó không bỏ qua để biện minh cho “chính nghĩa” của họ đâu.

    Hầu như tất cả những lời tố cáo về kỳ thị tôn giáo đều do cảm tính, và đúng như một nhận xét, chỉ thể hiện một mối ẩn ức do tin đồn và tuyên truyền riết rồi bị nhập tâm, và cứ cho đó là sự thật mà không tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan!

    Nếu độc giả nào có tài liệu cụ thể về vấn đề này, xin chỉ bảo cho.

    Còn về chuyện “lê máy chém khắp Miền Nam” thì gia đình tôi đã sống qua những nơi sau đây: Đông Hà, Quảng Trị, Huế, Hội An, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Ban Mê Thuột, Pleiku, Phú Bổn, Vũng Tàu, Sài gòn NHƯNG tôi chưa bao giờ nghe nói về việc dùng máy chém để xử tử tội nhân nào cả. Và tôi cũng chưa từng thấy cái máy chém hình thù nó ra sao cả!

    Vậy thì chuyện đó có thật không? Có tài liệu, hình ảnh nào ghi lại những sự kiện (nếu có) đó không?

  4. Mặc Lý viết:

    @ Hòa Nguyễn
    Tôi đồng ý với ông Hòa Nguyễn là câu trên của tôi có lẽ thích hợp hơn nếu dành cho bài Kiêu dân công giáo thời Ngô Đình Diệm của ông Trần Lâm.

    Ý chính của ông TL ở cả ba bài và những phản hồi đó đây (cả trong một bài tương lai năm 2013?) nếu tôi không lầm là muốn nêu ra những cái tàn tệ xấu xa của chế độ nhà Ngô. Và trong khi hăng say bảo vệ luận cứ của mình, ông TL đã kích nặng nề đến khối Công Giáo. Cái tôi không đồng ý với ông Hòa Nguyễn là với những bài viết qua lại mà ông gọi là những “đáp ứng có thể cần thiết”, tôi thì gọi là “hòn chì ném lại”.

    Nhà cầm quyền, vô tình hay cố ý, xuyên qua tất cả những tranh luận này (không chỉ trên talawas) đã phân hóa được môt khối lớn những người chống đối. Họ có thể đạt được mục tiêu ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu họ cố ý, và nếu mục đích tối hậu của họ không là duy trì Đảng bằng mọi giá thì họ nên nghĩ lại. Sự cố ý này có thể đưa dến việc Đảng cầm quyền một tỉnh của Trung Hoa trong tương lai không xa, không phải là cầm quyền một nước Việt Nam mà tôi thành thật nghĩ là đại đa số bạn đọc yêu mến, kể cả ông Trần Lâm.

  5. Trần Văn Tích viết:

    Khi tôi viết rằng ông Erich Wulff phụ trách bộ môn tâm lý xã hội tại Đại học Y khoa Hannover rồi chấm câu trước khi chuyển sang ý tiếp : ông sang giúp Đại học Y khoa Huế và giảng bài bằng tiếng Pháp thì tôi không hề nêu năm nào, tháng nào hết. Nói cách khác, tôi chỉ muốn kể ra hai, ba sự kiện. Hai, ba sự kiện đó đúng hay không, tất cả vấn đề nằm ở đó. Còn người đọc suy diễn ra sao, tôi đâu có chịu trách nhiệm.
    Cũng như chuyện ông Wulff chỉ biết mù mờ về ông đại úy Scott : tôi có nhận xét này vì lúc bấy giờ có độc giả talawas đề nghị xem ông Wulff như một nhân chứng trong quá trình đi tìm tông tích ông đại úy người Mỹ cho nên tôi bảo ông Wulff cũng chỉ biết mù mờ; nay ông Nguyễn Mai Sơn lại không chịu, ông bảo ông Wulff không biết gì về ông đại uý Scott thì tôi chỉ còn biết “đồng tình” với ông Sơn và xin cám ơn ông vì ông tỏ ra tin tưởng vào nhận xét của tôi hơn cả…tôi nữa.
    Về các chi tiết dài dòng khác liên quan đến lý lịch ông Wulff, tôi không để ý vì tôi không có ý định làm người biên soạn tiểu sử ông ấy.

  6. pnn viết:

    Bác Hòa,

    1. Bác có thể chứng minh chỉ dụ 10 nó thiên vị Công Giáo ra sao không? Chứ bác nói chung chung chẳng có lý lẽ gì cả. Bác nói bác phải chứng minh cho rõ ràng chứ.

    2. Đúng như bác nói, lịch sử chính nó rất hay, nhưng theo tôi qua các ngòi bút vì thành kiến đã bẻ cong nó thì loại lịch sử đó sẽ không dạy cho ta cái gì cả.

    3. Bác từng nói là các dẫn chứng của bác Trần Lâm rất thuyết phục. Tôi nghiệm ra một điều như thế này, bác và cả bác Trần Lâm nhìn vào sự kiện qua cảm tính. Trong một cái làng, bác chỉ mới nhìn thấy cái cổng chưa sơn phết đàng hoàng vì chưa có đủ thời gian sơn phết thì bác đã cho đó là cái làng tồi. Nhìn như thế thì bác có đọc hết cả pho tàng sách sử thì bác sẽ không học hỏi được cái gì cả, tại sao? tại cảm tính đã che mắt bác, và tại bác không biết phân tích và suy luận một sự kiện qua đủ góc cạnh khác nhau.

    4. Một mặt các bác chống ông Diệm, đổ cho ông Diệm cái tội “đàn áp” tôn giáo, nhưng các bác lại không đếm trong nội các ông Diệm cho đến các ông tướng có bao nhiêu ông không phải CG?

    5. Đại học Sài Gòn, Đại học Huế, đại học Đà Lạt, nhất lại Đại học Huế, lập ra dạy cho họ biết kiết thức thì họ biến thành nơi xuống đường biểt tình để rồi trong số họ chạy vào bưng tham gia lũ sát sinh ghê rợn. Chính quyền đệ nhất CH đã cho tạo dựng nên các đại học như thế thì họ không phải là loại người tồi tệ như các bác nghĩ và tưởng tượng. Họ biết nhìn, có tri thức và có viễn kiến hơn các bác nhiều. Các bác chống thì chỉ tưởng tượng qua kích động rồi để cảm tính che mắt.

    6. Các bác đọc sử mà chẳng học được lịch sử để rồi đến ngày 30 tháng 4 thì đã muộn. Thế đấy, đọc lịch sử mà đọc như vẹt thì đọc làm gì. Rất tiếc dân Việt mình rất nhiều người toàn đọc lịch sử kiểu đó không. Đọc kiểu đó đến ngày VN thành cái tỉnh Việt Nam của Trung Quốc thì biết đâu lại sinh ra thêm một nhân vật Trần Lâm tái thế muốn “đánh bật gốc” ông Diệm và CGVN vì lại đổ thừa vì họ mà VN thành tỉnh của Tàu và biết đâu lúc đó bác Hòa lại nhảy vào rao giảng về cách đọc lịch sử. Rất có thể lắm đó.

    7. Nói thẳng ra, một dân tộc chậm tiến vì con dân VN có tư duy rất là chậm tiến. Nhìn đâu xa, Hàn Quốc có lịch sử và văn hóa rất tương đồng với VN, nhưng họ may mắn hơn VN vì họ không cần có các bộ óc siêu vĩ đại như Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu hay Trần Lâm để moi tận gốc rễ một tôn giáo từ phương Tây có cách thờ phụng khác Phật giáo của họ.

    7. Phật Giáo, CG hay Lão Giáo đều du nhập từ nước ngoài vào VN. CG từ Tây phương, Phật giáo và Lão giáo từ Tàu và Ấn Độ. Nhưng những người nhỏ nhen như Chính Đạo hay Trần Lâm có quyền gì cho mình được phê phán và muốn loại CGVN ra khỏi hình ảnh chính thống của dân tộc VN là sao?

  7. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Mặc Lý viết: “Người một tôn giáo này (hoặc không tôn giáo nào) mà đả kích nặng nề một tôn giáo khác thì tôi thấy không ổn chút nào. Quý vị có thể viết vậy để giải tỏa một uẩn ức nào đó cho quý vị, nhưng chữ viết của quý vị đang tạo một hố ngăn cách của những người Việt Nam với nhau.”

    Tôi nghĩ ông Mặc Lý nhận định không đúng vấn dề, hay câu viết trên chỉ là lời khuyên bảo chung chung (và tất nhiên đúng), nhưng không liên quan gì với nội dung bài viết và những góp ý ở đây. Có thí dụ nào thấy được về trường hợp người tôn giáo này chống tôn giáo kia ở đây không? Chỉ là những ý kiến nhận định về chế độ ông Ngô Đình Diệm, tình cờ thuộc một gia đình Công giáo lớn ở VN (cha học đạo ở Penang, anh là giám mục trẻ nhất ở VN), đã dựa phần lớn vào sự ủng hộ nhiệt thành của những người Công giáo vốn là thiểu số ở VN (cho tới ngày nay). Tôi không nêu lên điều đó, nhưng có lẽ ông Trần Lâm có khuynh hướng muốn chứng minh điều đó. Thật sự, ngay hôm nay trong một bài viết phổ biến trên mạng, Lữ Giang, một người Công giáo nhiệt thành đến cực đoan, khi chỉ trích ông Trần Gia Phụng về bài viết “Lý do cuộc đảo chính 1.11.1963” (tôi có giới thiệu trong một góp ý ở đây), đã tìm cách chứng minh Dụ số 10 về tôn giáo ở miền Nam thời ông Diệm là hợp lý, chính đáng, và một “chế độ đặc biệt” dành cho đạo Thiên Chúa lúc đó không phải để ưu đãi Thiên Chúa Giáo, vì ” lúc đó ngoài Công Giáo ra, đã có tôn giáo nào thành lập Giáo hội đâu mà nói chuyện ưu đãi hay không ưu đãi?” Thật sự, ở miền Nam, ngay thời Pháp thuộc đã có các tôn giáo như Cao Đài, Hòa Hảo (cả hai với tín đồ lên tới vài triệu, tức đông gần bằng người theo đạo Thiên chúa), và Phật giáo coi là được đa số người VN tin theo, muốn thành lập và xin được hưởng một quy chế tôn giáo khác với quy chế hiệp hội thuơng mại, thể thao nhưng không được. Tình trạng đó kéo dài tới 9 năm sau khi ông Diệm về nước. Sự bất bình về tình trạng phân biệt đối xử như vậy là nguyên nhân mạnh mẽ nằm bên trong cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ ông Diệm. Sau đó, các tôn giáo Cao Đài, Hòa Hảo. Phật giáo, Theraveda ở VN (trước kia phải thuộc vào Phật giáo Cao Miên) đuợc huởng quy chế tổ chức tốt, xứng danh hơn.

    Khi những bài viết của Lữ Giang còn đầy những chống báng Phật giáo như vậy, thì bài viết của nhóm ông Trần Chung Ngọc, mà tôi cũng nhìn nhận là nhiều ý tưởng cực đoan, là một đáp ứng có thể cần thiết, để tạo ra cái nhìn quân bình hơn ở những ai theo dõi cả hai phía. Bài của ông Trần Lâm cho đến bây giờ chưa thấy có tính cách chống Công giáo, nhưng có vẻ chống một chế độ Công giáo mà ông ấy lo có thể phục hồi ở VN. Về mặt chính trị, ông Trần Lâm hay ai khác có thể đặt vấn đề như vậy, với những nhận định có thể đúng hoặc sai. Ai quan tâm, dù cùng quan điểm hay trái chống lại thì dự vào thảo luận, nhưng với tính cách học thuật là tốt nhất. Riêng tôi, thật sự không quan tâm chuyện đó, chỉ quan tâm đến vài sự kiện lịch sử được đưa ra ở đây là đúng hay sai, có cơ sở hay không. Lịch sử là một khoa học, và sẽ đưa đến những bài học có ích lợi cho tương lai. Cho nên với tôi, rất thú vị khi đọc lại lịch sử, dù có thuộc thời Tam Quốc bên Tàu. Tôi rất không muốn trốn chạy hay nhắm mắt trước những sự thật thuộc lịch sử, vì thói quen đó sẽ dẫn tới nhắm mắt trước thực tại đang diễn ra trên đất nước.

  8. Nguyễn Mai Sơn viết:

    3. Ông Tích cho rằng ông E. Wulff biết về nhân vật đại úy Scott “mù mờ”. Không phải “mù mờ”! mà thật KHÔNG BIẾT, đơn giản là vì KHÔNG CÓ MỘT NHÂN VẬT NHƯ THẾ tại thời điểm 8/5/1963. Tháng 5 năm 2008 khi gặp lại bs E. Wulff tại Huế, hỏi ông về giả thuyết người Mỹ là thủ phạm gây ra vụ thảm sát tại đài phát thanh Huế, Wulff khẳng định đó là một chuyện bày đặt.

    4. Điều mà ông Wulff trong sách của ông cũng như trong bài phỏng vấn mới nhất (2008) nói rõ là: lập tức sau khi vụ thảm sát xảy ra, đài phát thanh Huế và sau đó các đài truyền thông trên khắp miền Nam, chính quyền đương thời đều loan tin thủ phạm gây nên vụ thảm sát là VIỆT CỘNG. Ngay ngày sau đó đài phát thanh loan tin Việt Cộng gây thảm sát trước Đài Phát thanh Huế. Suốt cả thời gian cuộc vận động PG, những ai có tham gia đều bị truy chụp là cộng sản hay thuộc thành phần cộng sản. Phương thức truy chụp thành phần đối lập là cộng sản của chính quyền, lần này được áp dụng cho khối Phật giáo đã làm cho quần chúng nghi ngờ thành tâm của chính quyền và càng ủng hộ cuộc vận động đòi công bằng và bình đẳng tôn giáo của PG.

    5. „Mù mờ“ thứ ba của ông Tích, ngoài chuyện gạt ông Wulff, một nhân chứng sống cùng đứng trong hơn năm nghìn nhân chứng sống khác tại thời và điạ điểm xảy ra, là đã vội vàng xác định sự hiện hữu của Đại úy Scott, không do chính ông tham khảo hay chứng thực mà dựa vào lời của ông Nguyễn Trân, trong lúc chứng cứ mà ông Nguyễn Trân đưa ra chỉ dựa vào một bài báo mà chính ông Nguyễn Trân tìm không ra. Ông GS Nguyễn Văn Trung lại dựa vào ông Trân để xác định có một ông Scott. Tam sao thất bổn như thế mà một nhà nghiên cứu như ông Tích lại rất điềm nhiên. Ông trách Trần Lâm vội vã nghi ngờ uy tín của ông Nguyễn Văn Trung qua chi tiết nhỏ nhặt „Nói gì thì nói, ông Trung cũng chỉ là một con người. Ông được nghe hoặc được đọc thì ông kể lại, thuật lại. Có thể chuyện ông đọc, ông nghe là không đúng. Nhưng sao nỡ thất vọng vì ông?“. So sánh chuyện thảm sát và tìm hung thủ của thảm sát với chuyện Doãn Quốc Sĩ khen văn Vũ Hạnh của ông là tung mù nếu không nói là khập khiễng. Ông Tích rất dễ dãi về những tuyên bố của những người không phải là chứng nhân trực tiếp như ông Trân và ông Trung, còn những người trực tiếp chứng kiến như ông Wulff thì ông vội vã gán cho hai chữ mù mờ để „gắp lửa bỏ vào tay người“ chăng?

    6. Cuối cùng ông Tích „mù mờ“ về chính ông Tích trong suốt phần góp ý, nhưng ông rất rõ khi muốn vạch ra cho người khác thế đứng của ông Trần Lâm „Mấy chữ “nhà Ngô sụp đổ” cũng đủ cho ai đọc Trần Lâm hiểu được thế đứng của tác giả.“ Trong lúc ấy chính qua phát biểu của ông khi nhìn lại giai đoạn lịch sử này, người đọc thấy rõ ông Tích đang đứng ở đâu. Dĩ nhiên đứng ở đâu là quyền quyết định của mỗi người, nhưng khảo xét những dữ kiện lịch sử đòi công tâm và khách quan. Bất cứ Trần Lâm hay Trần văn Tích nếu muốn thuyết phục người khác, trước hết phải trưng bày dữ kiện một cách khách quan. Xin hỏi ông Tích, thay vì cụm từ này ông dùng cụm từ nào cho đúng với sự kiện lịch sử 1963?

  9. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Ông Tích nói ông bác sĩ Wulff “mù mờ”, nhưng trong phản hồi của ông Tích ít ra có 3 điểm “mù mờ”:

    1. Ông Tích nhận là quen biết ông Wulff, nhưng chỉ hai câu của ông giới thiệu ông Wulff cho thấy ông mù mờ hoặc cố tình gây mù mờ cho người đọc: „Giáo sư Erich Wulff không phải là người xa lạ đối với tôi. Ông phụ trách bộ môn tâm lý xã hội tại Đại học Y khoa Hannover. Ông sang giúp Đại học Y khoa Huế và giảng bài bằng tiếng Pháp“. Người đọc có thể hiểu lầm là ông E. W. sang Huế dạy Y khoa với tư cách giáo sư ĐH Hannover. Thật ra E. W. sang Việt Nam năm 1961, có nghiã là 13 năm trước khi ông trở thành Giáo sư thực thụ ở ĐH Hannover, với tư cách là giảng viên đại học y khoa về môn tâm thần học. Thời điểm ấy ông Wulff mới đậu tiến sĩ y khoa. Năm 1963 ông tình cờ là nhân chứng trong vụ thảm sát trước Đài Phát thanh Huế, bị chính phủ Ngô Đình Diêm trục xuất vào tháng 10 năm 1963. Ông trở lại Việt Nam năm 1964 và tiếp tục dạy học cho đến năm 1967. Sau khi rời VN năm 1967 (trước vụ Mậu Thân), ông sửa soạn thi tiến sĩ quốc gia. Năm 1968 ông giữ chức vụ bác sĩ trưởng tại nhà thương tâm thần của ĐH Giessen. Năm 1969 ông thi tiến sĩ quốc gia và làm giáo sư thỉnh giảng ở Paris. Mãi đến 1974 ông mới được Đại học Hanover mời làm giáo sư thực thụ cho ghế giáo sư mới thành lập về môn Tâm thần xã hội học.

    2. Sở dĩ nêu thứ tự thời gian, bởi vì chính E. Wulff xác nhận là khi ông sang VN, ông không có một lập trường chính trị nào ngoài chuyện dạy học. Tôi không muốn suy diễn dụng ý của ông Tích khi ông giới thiệu ngay ông E. Wulff là người mác xít. Để thật khách quan, một tiêu chuẩn mà chính ông Tích đòi hỏi, tôi xin đưa thông tin (ngoài ra cũng có thể truy cập thân thế và sự nghiệp của E. Wulff trong Google) liên quan đến vụ „thảm sát trước Đài Phát thanh Huế“ vào dịp Phật đản năm 1963 mà E. Wulff tình cờ đã là chứng nhân. Vào thời điểm này, ông Wulff chưa lấy một lập trường chính trị hay đảng phái nào cả. Khi biến cố trước Đài Phát thanh 1963 xảy ra, ông đã chứng kiến và bất bình trước thái độ của nhà cầm quyền. Chính ông là người tình nguyện lên chùa Từ Đàm để săn sóc sức khỏe các tăng ni và sinh viên tuyệt thực. Sau đó ông nhận lời giúp đưa tin tức về vụ thảm sát ở Đài Phát thanh Huế ra thế giới. Ông đã yêu cầu chính quyền sở tại cho biết thành phần cấu tạo nên lựu đạn cay để có thể chữa trị hữu hiệu cho những người đi biểu tình bị lựu đạn cay. Ông đã bị chính quyền NĐDiệm tạm giữ và trục xuất trước tháng 11. 1963. Ông chính là người đã cải tiến và xây dựng lại bệnh viện tâm thần Huế, tất cả các cựu sinh viên và bác sĩ Huế đều biết rõ và ghi ân. Ông xác nhận là sau khi trở về VN năm 1964, chính những người sinh viên y khoa và một số bạn bè ông quen trong tình hình chính trị miền Nam vào thời điểm ấy đã làm cho ông có cảm tình với MTGPMN. Hoạt động khuynh tả của E. Wulff công khai ở tại Đức khi ông trở về sau 6 năm dạy học tại Việt Nam. Tại Đức, uy tín quốc tế về chuyên môn của ông trên lãnh vực tâm thần học càng ngày càng gia tăng. E. W đã dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, như ông tuyên bố công khai khi xây dựng đề án khoa tâm thần xã hội học. Dựa trên phương pháp luận này E. Wulff đã tạo nên được một uy thế quốc tế trên lãnh vực này cho Đại học Hannover.

  10. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Bác sĩ trần Văn Tích phân tích rất chi li tỉ mỉ việc đọc hồi ký của Phan Lạc Giang Đông nhân bài viết của Trần Lâm, nhân đây tôi cũng muốn nhắc lại thông tin của ông Tích về một nhân chứng của cuộc vận động Phật giáo năm 1963: ông E. Wullf. Chúng ta nên đọc như thế nào về thông tin này của bác sĩ Tích?

    Trần Văn Tích nói (09/07/2009 lúc 3:11 chiều):

    Giáo sư Erich Wulff không phải là người xa lạ đối với tôi. Ông phụ trách bộ môn tâm lý xã hội tại Đại học Y khoa Hannover. Ông sang giúp Đại học Y khoa Huế và giảng bài bằng tiếng Pháp. Ông công khai tự nhận mình là người mác xít, từng giữ chức Phó Chủ tịch Phong trào Ái hữu Á-Phi gì gì đó (tất nhiên phong trào này thiên cộng nếu không là chính cộng). Ông từng viết sách kể lại những năm giảng dạy ở Huế, trong sách cũng đề cập đến vụ thảm sát ba giáo sư người Đức (Tết Mậu Thân). Ông viết thư kể với tôi từng cố xin ông Phạm Văn Đồng tha cho một nhân viên giảng huấn văn khoa Sàigòn nhưng ông Đồng chẳng làm (được) gì cả.

    Lập trường chính trị của ông Wulff rất rõ ràng nhưng vai trò của ông trong truy tìm lý lịch Đại uý Scott thì lại rất mù mờ.

    Ông bạn Trần Lâm kể chuyện ông đại uý Scott. Theo ông bạn, chuyện Scott không đáng tin vì do ông Cao Thế Dung đưa ra mà ông này thì “có trí tưởng tượng rất phong phú”. Nhưng dính líu vô ông Scott còn có ông Nguyễn Trân. Không thấy bạn Trần Lâm đưa bằng chứng là ông Nguyễn Trân cũng đồng bệnh với ông Cao Thế Dung. Bạn Trần Lâm còn có vẻ xúc động hơi nhiều khi được biết ông Nguyễn Văn Trung cũng kể lại dật sự Scott vì ông Trung là “một trí thức và khoa bảng hàng đầu của miền Nam”. Nói gì thì nói, ông Trung cũng chỉ là một con người. Ông được nghe hoặc được đọc thì ông kể lại, thuật lại. Có thể chuyện ông đọc, ông nghe là không đúng. Nhưng sao nỡ thất vọng vì ông? Nhà văn Doãn Quốc Sĩ từng lên tiếng khen ngợi quyển Người Việt đáng yêu do ông Vũ Hạnh viết dưới tên một người Ý, theo chủ trương của thành đoàn thành ủy gì đó. Chẳng lẽ vì vậy mà than thở là sao một con người chống cộng mạnh mẽ lại đi khen một tác phẩm ngấm ngầm tuyên truyền cho cộng sản?
    Dõi theo chỉ dẫn của ông Trần Lâm, tui được biết ông Minh Võ từng ghi nhận các nhân viên cao cấp chung quanh Tổng thống Ngô Đình Diệm đều toàn là Phật tử. Điều này tui hiểu là ông Minh Võ muốn đập lại phe rêu rao Tổng thống Diệm chỉ trọng dụng người Công giáo. Nhưng lại có lời bàn đi kèm: “Điều mà Minh Võ không cho độc giả biết là việc những người này thường là những kẻ nịnh thần (…)”. Không rõ lời bàn của ai, nhưng tui thấy nó trật đường rầy. Anh nói tui chỉ chơi với dân Công giáo, tui thưa lại bạn bè tui toàn là người bên lương không à. Anh lại chê tui sao không nói là bạn tui chuyên làm chuyện không nên không phải!

    Nếu tui hiểu đúng thì mục đích chính của ông bạn Trần Lâm là muốn người đọc thấy rằng phong trào Phật giáo 1963 “là một vận động xã hội bộc phát từ những lý do chính đáng” mà ông bạn đã dày công nghiên cứu thẩm định từ cả chục năm nay và sẽ công bố thành quả trí tuệ của mình vào năm 2013, nhằm kỷ niệm năm mươi năm ngày nhà Ngô sụp đổ. Mấy chữ “nhà Ngô sụp đổ” cũng đủ cho ai đọc Trần Lâm hiểu được thế đứng của tác giả.

  11. Phùng Tường Vân viết:

    “Người Việt nhìn nhau xa lạ, Người Việt nhìn nhau căm hờn”

    “Người một tôn giáo này (hoặc không tôn giáo nào) mà đả kích nặng nề một tôn giáo khác thì tôi thấy không ổn chút nào. Quý vị có thể viết vậy để giải tỏa một uẩn ức nào đó cho quý vị, nhưng chữ viết của quý vị đang tạo một hố ngăn cách của những người Việt Nam với nhau.” (Mặc Lý)

    Tôi không biết chút gì về ông Trần Lâm cho đến khi ông xuất hiện trên talawas, nhưng những gì ông Mặc Lý nhắc nhở ở trên khiến tôi liên tưởng đến một tác giả khác mà thái độ bút mực đúng như ông (ML) đã phàn nàn, đó là ông Nguyễn Mạnh Quang, người đánh phá Giáo Hội, Giáo Đồ Thiên Chúa Giáo (Vatican) một cách liên tục, kiên trì với một bút pháp dữ dội, hung bạo khác thường, ông ta cũng lôi tam thế, tứ đại gia đình Ngô Đình Diệm ra réo chửi không chút tôn trọng nào với người đã khuất, ôn hòa với người còn sống. Có người thuật lại với tôi những ân oán rất cá nhân của ông ta đối với nhà Ngô cộng với cái bi kịch gia đình khiến danh dự của một người đàn ông bị cái nhiễu nhương của thời đại vùi dập, nó như một chất muối ân oán kết lại dưới ngòi bút của ông ta khi ông có cơ hội nhả nó ra trên những trang viết mặn chát chất vị căm hờn. Nếu quả sự thật là như vậy, tôi thật tâm thương cảm cho một quãng đời chìm nổi của ông, nhưng tận cho đến ngày nay chẳng lẽ ông ta và những người gần gần ông ta lại có thể quên những nguy cơ đã rất gần của Tổ Quốc mà cứ đào bới mãi những hố sâu chia rẽ mãi sao, chẳng lẽ các vị cứ muốn cho khúc bi ca Người Việt nhìn nhau xa lạ, Người Việt nhìn nhau căm hờn nó như là một số phận trùm phủ dân tộc ta mãi mãi sao?

  12. Mặc Lý viết:

    Ông Nguyễn Chánh Thi (trong Một trời tâm sự) có trách người vợ tào khang nỡ lòng bỏ lại các con, vui duyên mới, khi ông sang Cao Miên sau đảo chính. Điều này mâu thuẫn với lời ông Trần Văn Đôn (trong Việt Nam nhân chứng) thuật lại lời ông Thi cho rằng ông bị “cướp vợ”. Ai viết đáng tin hơn ai về sự kiện này thì tùy các bậc thức giả xét vậy.

    Ông Trần Ngọc Nhuận kết tội cơ quan an ninh chế độ Ngô Đình Diệm rất nặng nề, nhưng tôi cũng chỉ thấy chung chung, ngoài tên gia đình đại úy Tuyên. Nếu có những chi tiết rõ hơn về hành động “man rợ” của cơ quan an ninh với gia đình của những người lãnh đạo đảo chính cao cấp, như Nguyễn chánh Thi, Hoàng Cơ Thụy, Vương Văn Đông, Nguyễn Huy Lợi, Nguyễn Kiên Hùng… thì mới thuyết phục được.

    Với tôi, người theo Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo… đều là người Việt Nam cả, và đều đồ máu và mồ hôi cho đất nước cả. Người một tôn giáo này (hoặc không tôn giáo nào) mà đả kích nặng nề một tôn giáo khác thì tôi thấy không ổn chút nào. Quý vị có thể viết vậy để giải tỏa một uẩn ức nào đó cho quý vị, nhưng chữ viết của quý vị đang tạo một hố ngăn cách của những người Việt Nam với nhau. Chúng ta đang cần sự đoàn kết hơn bao giớ hết.

    Thời Nhân Văn Giai Phẩm, các văn nghệ sĩ chỉ đòi tự do trong sáng tác và phê bình mà bị đối xử như thế nào thì chúng ta đều rõ. Mấy chuyện này, may thay tài liệu còn đầy đủ. Tôi nói vậy không phái là đi lạc đề mà chỉ xin quý vị, thay vì bỏ công sức đả kích một chế độ rất còn ít liên hệ tới Việt Nam hiên tại, nên dể dành sức cho những vấn đề hiện tại của Việt Nam. Cứ cái đà của nhà cầm quyên hiện tại, với việc xây dựng đất nước, khai thác Bauxit Tây Nguyên, điện hạt nhân, bắt bớ và bịt miêng những tiếng nói đối lập, tôi chỉ sợ viễn ảnh chúng ta tranh luận bằng tiếng Tàu chắc không xa.

  13. Phùng Tường Vân viết:

    Thêm chút biến ảo .

    ” …hễ cứ có Hoành Linh Đỗ Mậu là diễn đàn im lặng như tờ! Nếu chưa đủ, xin ông dặm thêm tí “Đệ Nhất Phu Nhân” của ngài Hoàng Trọng Miên nữa là vừa đủ mặn mòi cho nồi súp “chế độ Ngô Đình” (Nam Phan)

    Nếu bỏ qua những tình tiết ly kỳ thì cũng uổng, tôi xin đề nghị thêm chút “mì chính” Z30 phá lưới của cụ tác giả Đặng Thanh, vị ứng viên niên trưởng mà đơn xin gia nhập Hội Nhà Văn VN còn đang được xét duyệt .

  14. pnn viết:

    [QUOTE]Tôi cũng không hiểu tại sao NCThi không nói đến việc này. Nhưng dù ông ta có nói đến đi nữa thì cũng không đáng tin bằng Trần Ngọc Nhuận và Phan Lạc Giang Đông. Lý do: Thi ở Cao Miên, Nhuận và Đông ở VN.[/QUOTE]

    1. Thật là lạ, người trong cuộc và là nhân vât chính không nói trong cuối hồi ký lại không tin vậy tin ai? Việc ông Thi ở Cao Miên thì sau 1963 ông ta cũng về lại VN, và chẳng lẽ đàn em ông ta không cho biết sự tình hay sao?

    2. Ông Nhuận dĩ nhiên phải bào chữa tại sao ông ta bị làm khó dễ rồi, và để bào chữa thì phải lôi ông Tuyên ra để nói chứ vì ông Tuyên chạy vào bưng theo VC thì rất dễ bào chữa.

    3. Tôi cũng hiểu tại sao ông muốn “đánh bật gốc”, và lý do ông sợ hậu CS sẽ lặp lại như 1954. Lý do ông nói đó quá phiến diện. Phiến diện ở chỗ ông tự coi dân CGVN không phải là người VN. Ông coi dân CGVN rất nguy hiểm, cần loại trừ. Ông có quyền gì mà cho rằng dân CGVN không được quyền lên nắm quyền tại VN?

    4. Ông tìm đủ chiêu, lấy tài liệu không có citation chính đáng. Sở dĩ tôi muốn phơi ra cái cách nghiên cứu sử của ông vì ông cho lên talawas, vì đây là chốn public.

    5. Có đoạn, ông nói vì đám trẻ không hiểu Ba Cụt là ai nên ông mới đi nghiên cứu để cho chúng biết. Tôi nghĩ, nếu ông bỏ công tìm hiểu về ĐẢNG CS thì may ra sẽ giúp dân VN sau này và đám trẻ sẽ hiểu rõ hơn, đàng nay ông muốn đánh đổ ông Diệm và dân CG VN thì chỉ gây chiến tranh tôn giáo mà thôi. Một người có viễn kiến muốn thấy VN thoát họa CS thì họ sẽ nghiên cứu về ĐẢNG CS để cho dân VN biết rõ để bớt bị lừa.

  15. pnn viết:

    Tôi mới đọc hàng loạt các đối thoại qua lại bên bài viết “Trần Chung Ngọc: 30 năm tôi đi tìm Hồ Chí Minh”. Có một điều rất thú vị là bác Trần Lâm lo ngại người CGVN lên cầm quyền tại VN . Chính vì thế bác Trần Lâm tìm đủ mọi cách để “đánh bật gốc” gia đình cố TT Diệm . Ngoài ra, bác Trần Lâm có nhắc đến:

    [QUOTE]Dù sao đi nữa thì kết quả cuộc bầu cử năm 1967 vẫn là một chuyện ngoạn mục. Chỉ 4 năm sau khi nhà Ngô sụp đổ, một thiểu số khoảng 10 % lại có người nắm địa vị tối cao trong hành pháp và chiếm được 1/2 hay 2/3 số ghế trong cơ quan lập pháp tối cao.[/QUOTE]

    Thú thật, đọc đến tôi mớ ngộ ra một điều, bác Trần Lâm, trong tâm tư của bác chắc chỉ có những người theo đạo Phật mới là người Việt chắc ? Và có lẻ đó mà bài “Kiêu dân CG” ra đời chăng ?

    Tôi không cãm thấy thất vọng cho bác Trần Lâm, mà tôi chỉ cãm thấy thất vọng cho dân tộc VN . Nhìn sang, Hàn Quốc, nếu Hàn Quốc mà có nhiều các tư tưởng ganh tị dân như VN thì chắc chắc dân Hàn Quốc sẽ khó lòng mà được một quốc gia giàu mạnh hiện nay . Nên nhớ hiện nay, Phật Giáo và Thiên Chúa Giao coi như ngang bằng dân số .

    Bác Trần Lâm biện bạch cho là Phật Giáo có công rất lớn mở mang, đúng, nhưng nên nhớ cái tư tưởng các ông vua theo đạo Phật của nhà Nguyễn thì hướng Tàu để “bên môn tỏa cảng” dẫn đến VN bị thua. Tuy nhiên, bác Trần Lâm có lẻ sẽ dẫn chứ va mang người CGVN ra cho là giúp Pháp đánh VN . Và tôi cũng đang chờ bác!

    Dân tộc VN đã trả qua nhiều chiến tranh loạn lạc, có lẻ dân tộc VN nhỏ bé so với Tàu, nhưng hiện nay, ta đang sống ở thế kỷ 21, nhình vào các quốc gia chậm tiến và phát triển, phải nói ngay rằng tư tưởng của con người VN rất thấp bé la/i còn tư tưởng ganh tị rât lớn . Tư tưởng thấp be và ganh tị là rào cản đi của sự phát triển .

    xem các lời đối thoại trang này: http://www.talawas.org/?p=10019&cpage=2#comment-5482

1 2 3 4
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>