talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Đôi điều với ma giữa ban ngày

18/11/2009 | 1:10 chiều | 25 Comments

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Category: Báo chí - Truyền thông, Chiến tranh Việt Nam, Tôn giáo
Thẻ: >

Sau khi bài “Đôi điều với Liên Thành về Biến động miền Trung” được công bố rộng rãi trên diễn đàn báo chí, ông Liên Thành đã mời tôi trực tiếp đối chất với ông trên diễn đàn ra sách của ông tại Sacramento ngày 8-11-2009. Tôi cũng đã đáp lễ trả lời từ chối vì xét thấy chưa cần thiết.

Tiếp theo chỉ một ngày sau đó là chiến dịch i-meo tấn công và chụp mũ cá nhân tôi nổi lên ồ ạt và liên tục. Tất cả gồm một mớ i-meo vá víu lại thành một bài tạp lục đủ thể loại như kể chuyện, bình văn, ý kiến, vu vạ, bịa đặt… nhằm mạ lỵ đời tư, chụp mũ cộng sản. Tệ hại hơn nữa là sự ngụy tạo người quen, người thân, người đồng hương, người làng và thậm chí, ngụy tạo luôn cả thư “thú tội” của tôi bằng một lối viết dung tục hạ đẳng, nhằm gây mâu thuẫn chính trị và tôn giáo về cá nhân tôi.

Người cầm bút Việt Nam thường được ví như những nhà văn đứng giữa hai lằn đạn (writers caught in the crossfire). Nếu không nắm bắt được đâu là nguồn thông tin cần tham khảo học hỏi, và đâu là nguồn dư luận như ma quỷ hiện giữa ban ngày cần thản nhiên và vứt bỏ, thì có lẽ nên chọn một thú tiêu dao nào khác đầy sương khói và mơ mộng hơn là viết chuyện đời thường.

Khi viết tới những dòng nầy, tôi liên tưởng tới một luận điểm trong thư mời tranh luận của ông Liên Thành gởi cho tôi. Đó là điểm ông xác định thái độ khinh bỉ và ghê tởm đối với những con chuột chui rúc, đục khoét, tung vãi những nguồn thông tin láo khoét và xuẩn động: Không dám ra mặt ngoài ánh sáng để nói với nhau ba mặt một lời mà ươn hèn đặt điều trong bóng tối.

Giới lừa bịp đã coi thường và đánh giá công luận quá thấp vì nhầm lẫn thời điểm truyền thông đại chúng chính xác và nhanh như chớp mắt hôm nay với thời kỳ rỉ tai, đồn miệng, phóng uế ngoài ngõ… thời Ba Giai Tú Xuất còn đi quanh chọc cười thiên hạ.

Ma giữa ban ngày

Đọc những email mà tôi vừa gọi là “chùm thư hổ lốn” nói trên, tôi thấy vừa quen quen, vừa là lạ. Quen vì bắt gặp toàn người thật, việc thật. Nhưng lạ vì sự biến ảo tài tình nói không thành có. Những nhân vật đều là những người thật bằng xương, bằng thịt mà lại là ma; những sự việc hoang tưởng lại hóa ra như thật.

Hiện tượng ma hiện giữa ban ngày không phải là chuyện đồng bóng phù thủy thời xa xưa mà đang xảy ra lồ lộ ngay trên xứ Huê Kỳ ở thế kỷ 21. Số là chuyện như vầy:

Ở làng Hương Cần, quả thật, có Nguyễn Văn Lũy là huynh trưởng Gia đình Phật tử, có Nguyễn Ánh là xã đội trưởng, có người làng tên Nguyễn Phi là em bà con với Nguyễn Văn Lũy, có Cao Văn Nhớ ở xóm Giữa, có Trần Kiêm Đoàn là người làng Liễu Cốc Hạ sát nách Hương Cần. Và, sau 1975, có lắm việc lao động tập thể như việc thanh niên đi vác Gi sắt để làm sân khấu văn nghệ tuyên truyền. Thôi thì cứ tạm tưởng tượng như là có một sân khấu văn nghệ như thế. Việc vác vật liệu xây dựng sân khấu là người thật việc thật, nên khai thác chuyện nầy là tạo được sự chú ý và tin tưởng của người ngoài đối với người trong cuộc. Sân khấu mở màn. Tất cả người và việc hiện ra sống động mà ai cũng hình dung được. Trong khung cảnh đó, chỉ cần tưởng tượng để ngụy tạo ra một Trần Kiêm Đoàn hay một thầy tu, một nhân vật Ất Giáp Bính Đinh nào đó… mang dép râu, đội nón cối, lên sân khấu “chửi Mỹ Ngụy” thì thật là vừa vặn cho tâm lý tò mò theo bén gót Tôn Ngộ Không vào động Hoa Sơn tìm yêu quái. Tuy là sản phẩm của tưởng tượng, nhưng có sức thuyết phục cao vì đánh động vào nhu cầu tò mò của người đọc. Kẻ bị ngụy tạo hay quần chúng hoài nghi không cách nào chứng minh được. À, nhớ ra rồi! Tôi cảm thấy tiểu xảo nầy quen quen vì hầu như nội dung của tập sách Biến động miền Trung đã được xây dựng trên thủ pháp của người và ma trong mê hồn trận “tình báo” thông tin như thế. Tuyệt vời! Chính bà xã tôi, người đã sống bên cạnh tôi hơn 40 năm mà cũng phải thốt lên: “Thiệt tài tình quá! Nếu em không phải là vợ anh thì em cũng cho những điều bịa đặt về anh là thật, hay ít lắm thì cũng hoang mang nghi ngờ không biết anh có hành động như thế hay không. Chỉ tội cho người không có làm mà bị hàm oan hoặc đã chết, hoặc không muốn nói hay không thể tự mình nói lên tiếng nói bạch hóa cho sự chụp mũ bất lương đó. Nếu có ai đó mà bị buộc tội xâm phạm tình dục theo lối thông tin tình báo nầy thì chỉ có cái mền, cái gối có mắt có tai và biết nói năng thì may ra mới lên tiếng minh oan được cho kẻ hàm oan bị ném hỏa mù.”

Trong chùm thư hổ lốn – nhưng cực kỳ ma mãnh và tinh xảo theo lối “thông tin tình báo” – vừa nói ở trên, những kẻ ngụy tạo thông tin đã tạo ra hai “nhân chứng sống” được dàn dựng lên như người thật, nhưng chỉ là bóng ma hiện giữa ban ngày đã ném hỏa mù làm dư luận bên ngoài chẳng biết đâu là chân, đâu là giả. Trường hợp hai nhân vật Nguyễn Phi và Cao Văn Nhớ trong chiến dịch… công đồn đả viện Trần Kiêm Đoàn tôi cũng nằm trong ma thuật nầy.

Đúng là có anh Nguyễn Phi, em họ của anh Nguyễn Văn Lũy, liên đoàn trưởng Gia đình Phật tử Hương Cần đồng thời với tôi là liên đoàn trưởng GĐPT Liễu Hạ (1962-1967) cùng thuộc hệ thống liên GĐPT Hương Cần. Anh Nguyễn Phi là một sĩ quan quân lực VNCH đã bị đi tù sau 1975, được qua Mỹ theo diện H.O và hiện đang định cư tại thành phố San Jose, tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Đúng là có anh Cao Văn Nhớ, người làng Liễu Cốc Hạ ở cách nhà tôi một xóm.  Anh Cao Văn Nhớ, hiện đang còn ở tại làng Liễu Cốc Hạ và đang làm nhân viên trật tự tại quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

Cả hai anh đều ở độ tuổi lục tuần. Sau khi liên lạc và kiểm chứng trực tiếp, cả hai anh đều cho biết là họ chỉ lo sống làm ăn thầm lặng, hoàn toàn không để ý đến chuyện thị phi bên ngoài. Cả hai người đều xác nhận rằng, chưa bao giờ nói với ai hay viết một điều gì về Trần Kiêm Đoàn, về tôn giáo chính trị gì cả.

Nói tóm lại là cơ quan “tình báo thông tin” khuông phò Biến động miền Trung đã ngụy tạo đủ các loại thư email: Thư chụp mũ Việt cộng, thư dựng chuyện bôi xấu đời tư, thư mạ lỵ tục tằn, thư chia rẽ tôn giáo, thư gây hoài nghi cho gia đình bà con dòng tộc… của tôi. Những con ma xó ấy còn ngụy tạo luôn cả thư “tự thú đủ thứ tội” của Trần Kiêm Đoàn gởi Nguyễn Phi và thân hữu!

Với sự phán xét thông thường của công luận thì “một điều bất tín, vạn sự không tin”, nên đến đây có thể phủi tay ném tất cả những mớ thư nặc danh và mạo danh chụp mũ ấy vào sọt rác. Đồng thời, có đủ chứng lý để tố cáo trước pháp luật phường tội phạm mạo danh, bịa chuyện mạ lỵ và hãm hại người vô tội sau khi thẩm tra IP để truy nguyên nguồn gởi. Tuy nhiên, tôi vẫn thấy có trách nhiệm phải đi ra khỏi cái vòng lẩn quẩn “ma hiện giữa ban ngày” đó, vì những điều tôi viết là để mong tránh được viễn ảnh phân hóa cộng đồng, ngăn ngừa khả năng chia rẽ tôn giáo và gây hoang mang dư luận chứ không phải viết để thỏa mãn nhu cầu viết lách tiêu khiển cho cá nhân mình.

Nhóm tạo huyền thoại “ma giữa ban ngày” đã manh động biến người thật thành bóng ma để “làm chứng” cho hoạt động ma nhằm tấn công một Trần Kiêm Đoàn là người thật. Dùng người ma và việc ma gán tội lên đầu người thật mà không cách gì để chứng minh “giải tội” được là tội ác ghê rợn nhất của tập đoàn Stalin đã sử dụng để kết tội, đày ải và giết chết hàng triệu người ở Tây Bá Lợi Á; lẽ nào lại tái hiện ban ngày ban mặt hôm nay?!

Nhưng đây là thế kỷ 21, là ngã tư của thế giới, là thời kỳ khoa học kỹ thuật hiện đại phục vụ con người được thấy và tìm thấy sự thật.

Những sự thật sau đây thuộc về đại chúng vì bất cứ ai thắc mắc cũng có thể tìm thấy và đối chứng dễ dàng. Về số điện thoại của các nhân vật liên hệ, xin vui lòng chỉ sử dụng trong trường hợp cần đối chứng.

Sau đây là phần trả lời ngắn gọn về những Thắc mắc đã nêu ra:

1. Thắc mắc: Thân phụ của tôi là liệt sĩ cộng sản? – Sai!

Ông cụ là lính thợ thời Pháp thuộc ở đồn Tòa Khâm. Sau ngày Nhật đảo chánh năm 1945, ông về quê, ngã bệnh và mất năm 1948, chẳng dính dấp tơ hào nào về chuyện chính trị cả.

2. Thắc mắc: Tôi dính líu với phong trào học sinh sinh viên tranh đấu Huế? – Sai!

Tại Việt Nam trước 1975, tôi là huynh trưởng của Gia đình Phật tử Liễu Hạ (thuộc làng Liễu Cốc Hạ). Tôi không đi lính vì có hai ông anh tại ngũ và có mẹ già nên tạm được hoãn dịch gia cảnh để đi học.

Tự xem mình là một Phật tử độc lập, tôi không ở trong một môn phái hay giáo hội nào của Phật giáo cả. Tôi theo con đường của Phật dạy là lấy pháp giới làm phương tiện nhưng phải tự mình thắp đuốc lên mà đi. Tôi là đệ tử của Ôn Châu Lâm tức là Hòa thượng Thích Viên Quang (1893-1976), được ngài đặt cho pháp danh Nguyên Thọ. Tôi học ở Thầy về ngôn giáo thì ít mà thân giáo thì nhiều.  Sau nầy, tôi đã lấy hình ảnh Thầy Châu Lâm để xây dựng cho nhân vật Thầy Tiều trong tác phẩm Tu bụi.

Tôi tham gia phong trào tranh đấu Phật giáo năm 1963 đòi tự do và bình đẳng tôn giáo. Nhưng khi cờ Phật giáo đã tung bay trở lại bình đẳng với các tôn giáo bạn, khi lần đầu tiên có nha tuyên úy Phật giáo cho các chiến sĩ VNCH theo đạo Phật nằm xuống song song với nha tuyên úy Công giáo ở miền Nam, tôi hoàn toàn trở lại với việc sách đèn và không còn tham gia vào hoạt động phong trào nào khác.

3. Thắc mắc: Sau 1975 tôi được CSVN trọng dụng? – Sai!

Tháng 9-1975, tôi làm phó ban điều hành trường Nguyễn Tri Phương, Huế, phụ trách chia thời khóa biểu và sinh hoạt thanh niên nhà trường vì là “thanh niên trắng” (không đi lính, dưới 30 tuổi). Hai tháng sau, ông Lê Huy Linh từ Bắc vào thay thế phụ trách thanh niên, tôi chỉ còn làm giáo vụ. Trưởng ban điều hành trường là ông Dương Văn Lộc, trung úy VNCH biệt phái; phó ban là ông Nguyễn Văn Tám cũng là thiếu úy VNCH biệt phái. Tháng 7-1977, tôi bị đuổi dạy vì trước 1975 làm việc cho Peter Downs, trong lúc tất cả giáo chức miền Nam vẫn còn được ở lại dạy học.

4. Thắc mắc: Sau 1975 tôi đội nón cối và mang xắc cốt về làng lên sân khấu chửi Mỹ Ngụy? – Sai!

Tôi làm việc ở trường học thành phố Huế, mắc mớ gì lại lên sân khấu nói chuyện chính trị ở làng. Nguyễn Phi đi lính ở miền Nam và đi tù ở miền Nam ngay sau 1975, năm năm sau mới được thả. Tôi bị đuổi dạy năm 1977, nghĩa là nếu giả thử có “lên sân khấu làng” nói năng điều gì đó như Nguyễn Phi (ma) đề cập, thì chỉ xảy ra trong vòng 2 năm khi chưa mất quyền công dân mà thôi. Nếu thế thì Nguyễn Phi làm sao lại vừa đi vác Gi sắt làm sân khấu cho xã đội trưởng Nguyễn Văn Ánh ở Hương Cần, lại vừa ở tù tận trong Nam (xin kiểm chứng với ông Nguyễn Văn Lũy, hiện vẫn còn ở tại làng Hương Cần, người anh mà Nguyễn Phi nói đến trong thư.)

5. Thắc mắc: Tôi bị thường xuyên nhận diện là đi xe Honda màu đỏ, nhà ở Tây Lộc? – Sai!

Tôi chỉ có một xe Honda xanh từ 1966 đến 1982 bỏ ở làng Hải Nhuận để vượt biên. Tôi chưa bao giờ có nhà hay cư trú ở Tây Lộc cả.

6. Thắc mắc: Ông Trần Kiêm Mai, “bác” họ tôi đang ở Fullerton mắng tôi là “láo khoét” và ông Trần Kiêm Trợ, “chú” tôi ở Sacramento từ tôi vì tôi là VC? – Sai!

Ông Trần Kiêm Mai là anh tôi chứ không phải bác. Anh em chúng tôi thương nhau như bát nước đầy; anh TKM nhiệt tình tán thưởng tất cả sách vở và bài viết của tôi từ trước đến sau. Trần Kiêm Trợ là cháu của tôi chứ không phải là chú. Chú cháu chúng tôi thân thương và kính nể nhau cả thành phố Sacramento đều biết.

7. Thắc mắc: Tôi gả con gái cho cán bộ báo chí cộng sản và kỳ thị tôn giáo? -Sai!

Con rể tôi là Nguyễn Hùng, một thanh niên Công giáo có thân phụ là trưởng Cần lao Nhân vị Quảng Trị thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Hùng sống với chú ruột là linh mục NVN suốt thời mới lớn; hiện đang làm việc cho chính phủ tiểu bang California (muốn kiểm chứng xin mời đến nhà thờ Các Thánh Tử Đạo tại Sacramento vào mỗi sáng Chủ nhật để gặp Hùng, người phụ trách các lớp Việt ngữ cho nhà thờ). Khuynh hướng chủ đạo về tôn giáo của tôi rất cởi mở và thông thoáng. Tôi quan niệm đạo là con đường để dẫn đến chân lý chứ không phải là pháo đài để tấn công nhau giành độc quyền đi tìm chân lý. Bởi vậy, hai trong ba chàng con rể của tôi là người Công giáo. Lễ cưới cử hành tại chùa và nhà thờ rất hài hoà và trang trọng với sự tham dự của bà con thuộc cả hai tôn giáo.

8. Thắc mắc: Muốn đối chứng với “Nguyễn Phi” thì gặp BS Hồ Đắc Phương, cháu rể của tôi ở Sài Gòn? – Sai!

Hồ Đắc Phương chẳng biết ai tên là Nguyễn Phi cả. Nguyễn Phi thật ở San Jose đã không nhịn cười được khi nghe tin nầy. Anh lấy làm lạ hỏi vì sao muốn đối chứng với ông Nguyễn Phi giả nào đó lại phải đi gặp bác sĩ chuyên trị bệnh thần kinh Nguyễn Đắc Phương ở Sài gòn là thế nào; muốn chữa bệnh điên chăng?

9. Thắc mắc: Bài thơ “Về Nguồn” ca tụng sự trở về Việt Nam của Phạm Duy? – Sai!

Bài thơ “Về nguồn” làm theo lối cổ phong hát nói, thường hai câu kết luận là ý xương sống toàn bài. Đây là hai câu kết luận: “Qua hết tuần trăng, bóng tối lại về.” Không lẽ “bóng tối lại về” là sự ca tụng chế độ CS, ca tụng sự trở về của PD sao? Tội nghiệp cho thơ tôi thì ít mà tội nghiệp cho sự khập khiễng hồn thơ của những “ma quỷ chống cộng tào tháo” lại nhiều!

10. Thắc mắc: Tôi về đọc tham luận tại Việt Nam và Vesak, tham dự hội nghị Việt Kiều? – Sai!

Tôi chưa bao giờ đọc tham luận một mình hay hợp tác với ai ở Việt Nam cả. Tôi cũng chẳng để ý hay quan tâm đến hội nghị Việt Kiều hay sinh hoạt gì tương tự ở Việt Nam hay bất cứ ở đâu.

11. Thắc mắc: Tôi có khuynh hướng thân cộng? – Sai!

Năm 1986, tôi được anh chị em sinh viên đại học CSUS (California State University of Sacramento) bầu làm chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam (VSA). Nhu cầu xác định khuynh hướng chính trị tưởng như mơ hồ nhưng lại thể hiện rất mạnh mẽ khi đối diện với thực tế. Việc đầu tiên của VSA, theo luật lệ của nhà trường, là phải có một giáo sư cố vấn cho Ban chấp hành. Từ các năm học trước, giáo sư cố vấn là một giáo sư Việt Nam trong trường. Tôi cùng các anh em trong ban chấp hành đến tiếp xúc với vị giáo sư người Việt đó để mời làm cố vấn. Giáo sư đồng ý nhưng với điều kiện là trong các buổi sinh hoạt, VSA không được chào cờ và hát quốc ca (thật ra, đây là nếp sinh hoạt chung của sinh viên Mỹ chứ chẳng phải là thái độ chính trị gì cả). Tôi từ chối với lập luận rằng, hồn nước của kẻ tha hương chỉ còn chút biểu tượng là lá cờ. Chúng tôi ở miền Nam chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng. Tôi quyết định không mời vị giáo sư nầy nữa và đi tìm một giáo sư người Mỹ là Dr. Richard Cobb, trưởng khoa Business của trường CSUS làm cố vấn vì ông không phản đối việc VSA chào cờ và hát quốc ca mỗi lần sinh hoạt.

Những năm 1987 và 1988 tại Mỹ mà nổi bật nhất là ở California, một phong trào nổi lên đòi thay đổi cờ vàng 3 sọc đỏ và chọn bài “Việt Nam-Việt Nam” của Phạm Duy làm quốc ca thay cho bài “Tiếng gọi sinh viên” của Lưu Hữu Phước. Tôi đã mạnh mẽ phản đối khuynh hướng nầy. Bài chính luận đầu tiên của tôi trên đất Mỹ về đề tài nầy là bài “Quốc Ca: Tín hiệu hay pháp lệnh” góp ý rằng, mặc dầu khối người Việt tỵ nạn cộng sản tuy không còn lãnh thổ và chính quyền, nhưng vẫn còn những con người quốc gia không cộng sản hiện diện, chúng ta phải duy trì cờ vàng ba sọc đỏ và quốc ca “Này công dân ơi” làm tín hiệu và biểu tượng cho quân dân miền Nam đang lưu vong ở xứ người. Bài viết nầy lần đầu đăng trên Giai phẩm Bách Việt số 2 tháng 4, 1988 của hội Bách Việt, và sau đó được phổ biến rộng rãi trên các báo chí Việt ngữ hải ngoại. Những người trong ban chấp hành Hội Bách Việt thời kỳ 1987, 1988 như bác sĩ Hoàng Gia Hùng, ông Vũ Đình Bôn, ông Huỳnh Hóa, ông Vũ Xuân Đào, ông Lê Thành Việt, ông Đặng Long Quân, ông Nguyễn Lam Sơn… hiện đang có mặt tại thành phố Sacramento.  Trong cao trào vận động chính quyền các nước tự do vinh danh cờ quốc gia, tôi là người thứ 3 ký tên trong Thỉnh nguyện thư tại Sacramento gởi chính quyền Hoa Kỳ. Vì đây là bản văn công khai nên bất cứ ai cũng có thể ghé văn phòng lưu trữ văn thư của tiểu bang Cali để yêu cầu sao lục và đối chứng danh sách nầy.

12. Thắc mắc: Chủ trương in ấn và phát hành sách báo không được xác định rõ ràng? – Sai!

Suốt gần 30 năm sống và làm việc tại Mỹ, tôi đã có gần cả chục đầu sách, gần cả trăm bài viết và các cuộc thuyết trình trước cử tọa người Việt cũng như người nước ngoài về các vấn đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến Việt Nam. Trọng tâm là về các đề tài văn hóa, giáo dục, văn học, nhân chủng, chính trị, tôn giáo… Đa số các cuốn sách hay bài viết đã đăng trên báo chí Việt ngữ và Anh ngữ hay còn được giữ dưới dạng hồ sơ lưu trữ. Trong các tài liệu nầy, tôi chỉ có 3 điều chính để nói: (1) Vinh danh và giới thiệu văn hóa dân tộc Việt Nam, (2) chống độc tài, áp đặt và ngược đãi bất cứ từ đâu đến và mang bất cứ nhãn hiệu nào, (3) kêu gọi sự hiểu biết nghiêm túc để hóa giải nguyên nhân và hậu quả những xung đột về tư tưởng cũng như hành động.

Về kỹ thuật và phương tiện truyền thông đại chúng, tôi quan niệm rằng, sản phẩm trí tuệ khi đã được viết ra và công bố dưới bất cứ hình thức nào đều trở thành tài liệu công cộng. Bởi vậy, tất cả những sách báo đã in ấn của tôi đều ở dạng “tùy nghi sử dụng, tác giả không giữ bản quyền – No copyright reserved”. Đồng thời, tác giả là người chịu trách nhiệm về nội dung bài viết của mình chứ không phải nhãn hiệu của phương tiện truyền thông.

Khi những bóng ma đã cố tình sử dụng hết những chiêu thức tưởng tượng để phóng ra những đòn phép bôi lem người ngay thì sẽ sản xuất ra vô số “thắc mắc”, 12 điều trưng dẫn trên đây chưa thấm vào đâu. Tôi tin vào đạo lý của con người “thiện ác đáo đầu chung hữu báo” nên rất thanh thản và an lạc trước mọi sự khen chê, thản nhiên về những đòn phép gian tà đang và sẽ xảy ra trong môi trường truyền thông đại chúng. Tạm thời, tôi chỉ mong dư luận nếu muốn biết những khía cạnh liên quan đến quan điểm và khuynh hướng chính trị, tôn giáo, xã hội, học vấn, việc làm… của tôi thì xin vui lòng ghé vào trang thông tin điện tử của tôi ở địa chỉ: www.Trankiemdoan.net

Kết luận

Thế hệ già đang đi qua, thế hệ trẻ đang tới. Nếu thế hệ đàn anh không tự giúp mình và giúp nhau ngoi lên được khỏi cái vòng lẩn quẩn của tâm lý cực đoan, không định hướng, chụp mũ, chống báng, chối bỏ nhau, thế hệ đàn em sẽ trở thành người xa lạ với lý tưởng quốc gia dân tộc mà chúng ta đang ra sức đấu tranh. Người Việt mà nhất là tuổi trẻ ở nước ngoài càng lâu càng có khuynh hướng trở thành “con cháu ngoại” của đất nước và cộng đồng dân tộc tại địa phương mình ở. Có tương kính và tương thân thì tham gia sinh hoạt với “người mình”. Ngược lại, thì sinh hoạt với người xứ khác chẳng thiếu gì trong xã hội Mỹ. Sự tha hóa hay giữ được giống nòi nơi đất khách là trách nhiệm của cộng đồng và thế hệ đàn anh.

Duy thức học Phật giáo trong quá trình phân tích cuộc đấu tranh thiện ác trong tâm thức của mỗi con người đã nói rằng, xung đột nên hóa giải, định kiến nên buông bỏ, hoài nghi nên giải trừ thì tâm ác sẽ tiêu tan, tâm lành mới hiển lộ; cũng như chỉ có ánh sáng mới xua tan bóng tối. Ước mong những con ma sớm trở lại làm người – mẫu người lương thiện.

Sacramento, tháng 11, 2009

© 2009 Trần Kiêm Đoàn

© 2009 talawas blog

Bình luận

25 Comments (bài “Trần Kiêm Đoàn – Đôi điều với ma giữa ban ngày”)

  1. Hoà Nguyễn viết:

    Về Trần Kiêm Đoàn (tiếp)
    Theo cái link Imitee cho để dẫn đến bài tường thuật Liên Thành ra mắt sách, tôi đọc thấy chính lời Liên Thành nói:
    “Thêm vào đó, theo một tài liệu vừa được giải mật tháng 2 năm 2009 của CIA thì Trí Quang đã nhận 2 triệu đồng, từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1965, do CIA ở Saigon trả. Một người tu hành mà có những hành động như thế thì có phải là một bậc chân tu không?”

    Cho là câu viết trên đúng sự thật, nghĩa là hiểu CIA có đưa cho bên Phật giáo Ấn Quang số tiền 2 triệu đồng VN (thật ra cần có thêm bản tiếng Anh để đối chiếu), thì đây chỉ là số tiền rất nhỏ, mà CIA dùng để gây cảm tình với danh nghĩa giúp đỡ Phật giáo lúc đó (hay cho để giúp riêng nhóm PG miền Trung). Số tiền này không thể để mua chuộc được ai, chứ đừng nói là trả công, nhất là với một người bản lĩnh làm người Mỹ phải nể phục. Thờì sau 1-11-63, rất nhiều người góp tiền bạc cho phía Phật giáo, để họ hoạt động, nuôi tăng ni, và tổ chức nhiều sinh hoạt, xây viện Hoá đạo, lập viện đại học Vạn Hạnh. Một tờ nhật báo lúc đó muốn in ra phải có số vốn khởi đầu, hay phải đăng ký, cả triệu đồng; Phật giáo có hai tuần san là Hải triều âm, và Thiện Mỹ do Võ Đình Cường làm tổng thư ký, và có nhà xuất bản riêng, nên tổng số tiền họ có hay cần có phải vài chục triệu đồng. Ngày 15-2-66, Gs Trần Ngọc Ninh, bộ trưởng Giáo dục, tặng 5 triệu đồng cho Phật giáo Theravada để xây trường Pali (Theo Việt Nam Máu Lửa Quê hương tôi, của Đỗ Mậu, trang 727). Không kể chùa Vĩnh Nghiêm được tướng Kỳ và quân đội (công binh) giúp đỡ xây cho nhóm Phật giáo từ miền Bắc phải lên tới vài chục triệu đồng. Phía bên Công giáo được tặng cho bao nhiêu không ai tò mò muốn biết.

    Imitee viết: “Lập luận cho rằng phong trào Phật giáo tranh đấu 1966 chỉ là cuộc vận động cho dân chủ chỉ là sự mơ mộng hão huyền”
    Thì chính sử gia Trần Gia Phụng đã nêu rõ ở đoạn cuối bài viết “Diễn tiến Biến động miền Trung” trên talawas. Trần Văn Đôn và Đỗ Mâu cũng viết thế, riêng Đỗ Mậu viết rõ hơn như sau:

    Sau khi hai ông Thiệu Kỳ cầm quyền được ít tháng, TT Trí Quang phát động phong trào “đòi thực hiện dân chủ, đòi tướng lãnh trở về với nhiệm vụ quân đội, đòi tuyển cử tự do…” (trích sách đã dẫn trang 728). Ngoài ra, cũng theo Đỗ Mậu, trước khi TT Trí Quang nêu rõ lập trường Hoà bình cho VN, Giáo hoàng La Mã đã kêu gọi “ngưng chiến tại VN”. Lời kêu gọi này mở đường cho những “trí thức Công giáo” sau đó như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, LM Chân Tín, LM Nguyễn Ngọc Lan… phát khởi và đẩy mạnh phong trào phản chiến ở miền Nam, ít ra trong giới sinh viên, trí thức Sài Gòn, nhưng họ không bị làm khó dễ gì (chỉ bị tịch thu ấn phẩm nếu bày bán lộ liễu, khác trường hợp TT Nhất Hạnh bị cấm về nước, sách không được ghi tên tác giả). Vậy mà chỉ có Phật giáo (Ấn Quang) bị mang tiếng là chủ trương hoà bình, trung lập, đồng nghĩa với thân Cộng.

  2. Hoà Nguyễn viết:

    Về Trần Kiêm Đoàn
    Phùng Tường Vân viết:
    “IM LẶNG giữ lại khói sương
    Bao quanh huyền thoại những chương sử mờ”

    Lịch sử khác huyền thoại, và trí giả nên tách bạch hai thứ đó, nếu khách quan và đôi chút can đảm (tôi dùng từ trí giả thay cho trí thức). Nhắm mắt, bịt tai, hay ngậm miệng làm cho bất cứ sự thật nào, thuộc lịch sử hay không, trở nên mờ mịt, và không chắc đó là thái độ cao thượng của người xưa.

    Bất cứ người Việt nào, dù ở miền Bắc hay Nam, nên đọc lịch sử của cả nước, để biết rõ quá khứ dân tộc hơn, và rút được bài học cho tương lai cả nước sau này. Lỗi lầm nào trong lịch sử, dù của ai, ở đâu rồi cũng có thể bị lặp lại.

  3. Trần Văn Tích viết:

    Khi thấy e.mail Nguyễn Phi xuất hiện trên internet, tôi biết ngay là sản phẩm giả mạo nên xoá liền. Trước đây, hình như liên quan đến Luật sư Hoàng Duy Hùng, cũng có một e.mail đồng loại, cũng kể ra một ông bác của ông Hùng, cũng cho một số điện thoại nhưng khi kiểm chứng thì là điện thoại ma. Không thấy ông Trần Kiêm Đoàn làm việc kiểm chứng điện thoại này (tôi nhớ hình như là điện thoại ở Hoa Kỳ, gọi cho một cô Oanh nào đó thì phải).

    Dầu sao cũng xin cám ơn ông Trần đã bỏ công viết thật rành mạch chi tiết để giải đáp thắc mắc cho độc giả. Tôi nghĩ công luận hẳn phải tin các dữ kiện liên quan đến bản thân do ông trình bày.

    Nhưng thật ra chuyện quan trọng và gây chú ý là chuyện ông từng có đôi điều với ông Liên Thành. Hy vọng ông cũng sẽ tiếp tục có những điều khác để nói chuyện quá khứ ở Huế cùng ông Liên Thành. Tôi không nghĩ rằng “Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ?”. Tôi nghĩ đến devoir de mémoire, bổn phận phải nhớ.

    Nhân nói đến nhớ, xin ông Trần Kiêm Đoàn vui lòng nhớ nêu rõ ấn bản “Biến động miền Trung” ông sử dụng. Vì nếu ông/bà 1mitee không tìm ra chữ “thằng” thì tôi cũng chẳng thấy chi tiết theo đó ông Trần Kiêm Đoàn bảo rằng “Đi xa hơn nữa, Liên Thành còn viết là thầy Trí Quang có người yêu già nhân ngãi non vợ chồng là một cô bé làm thị giả 13 tuổi”.

    Tôi sử dụng “Biến động miền Trung”, tác giả tái bản tại Âu châu tháng 7.2009, có hiệu đính. Phải chăng chi tiết “thị giả 13 tuổi” đã được ông Liên Thành xoá bỏ khi hiệu đính?

  4. Phùng Tường Vân viết:

    Định nghĩa cổ điển của “IM LẶNG”

    Im lặng là biết quên đi
    Những gì nhắc lại nhiều khi đau lòng!

    …và đây, định nghĩa “lãng mạn” của IM LẶNG:

    IM LẶNG giữ lại khói sương
    Bao quanh huyền thoại những chương sử mờ.

  5. 1mitee viết:

    Từ “Người” đến “Ma”

    Sau bài Trần Kiêm Đoàn (TKĐ) có đôi điều với Liên Thành (LT), tác giả “Biến Động Miền Trung” (BĐMT), đề cập đến một số nội dung của quyển sách (sẽ bàn sau), bài thứ hai của TKĐ bỗng dưng lại chỉ nói chuyện với “Ma,” tranh cãi những điều về cá nhân, gia đình mà độc giả talawas chẳng mấy ai biết!

    Như vậy là thế nào ? Tại sao không trả lời những phản hồi của độc giả trước đây về những tình tiết trong BĐMT mà TKĐ cho là LT bịa chuyện, hoặc vì động cơ này khác! Có phải TKĐ nhận thấy mình không thể bảo vệ những lập luận trước đây, nên dùng những tranh cãi hạ cấp đó … để chạy làng chăng ?

    Trước hết, đây là link của một bài tường trình về buổi nói chuyện của LT tại Sacramento, nơi TKĐ đang sinh sống:

    http://www.vietland.net/main/showthread.php?t=9849

    Nếu đúng như lời TKĐ rao giảng “xung đột nên hóa giải, định kiến nên buông bỏ, hoài nghi nên giải trừ” thì còn cơ hội nào tốt hơn là hai mặt một lời giữa hai người Huế cũng ở lứa tuổi 60s. Lục thập nhi hình như chưa nhĩ thuận mấy! Nhưng TKĐ đã từ chối và đó là một cơ hội đánh mất để chứng tỏ sĩ khí của TKĐ.

    Trước đây tôi có một phản hồi về việc TKĐ cho rằng LT dùng từ “thằng” để nói về người này, kẻ khác trong BĐMT và cho rằng đó là loại ngôn từ hạ cấp. Tôi đã đọc lại BĐMT và không thấy từ “thằng” được dùng để chỉ ai cả. Đối với Hoàng Phủ Ngọc Tường (HPNT) mà LT cho rằng có mặt ở toà án nhân dân tại trường Gia Hội, LT vẫn gọi là GS HPNT, và trong một đọan nói thẳng với HPNT, LT vẫn xưng “Thầy Tường” vì trước đó có học với HPNT ở trường Quốc Học Huế.

    Điều thứ hai, TKĐ gán cho LT động cơ “Phù Ngô Phục Hận” qua việc viết BĐMT. Đối với những thành phần trong phong trào nhân dân tự quyết hay Phật giáo tranh đấu, chủ yếu là phái Ấn Quang của TT Trí Quang, thì đây là hành động “chụp mũ” rất ác độc. Nó khơi dậy những thù hận, ác cảm của những kẻ cuồng tín tôn giáo trước đâỵ Nếu ai đã ở Huế phải công nhận sự thực này. Trong bài viết thứ hai, TKĐ đã không đưa ra được chứng cớ nào cho cáo buộc trước đó.

    Như vậy TKĐ đã phạm một trong ngũ giới của Phật giáo: “Không nói dối.” Nói dối với chính mình càng tệ hại hơn.

    Tôi chỉ đề cập đến hai chi tiết này vì chừng đó đã đủ để thấy cách hành xử của TKĐ trong khi thảo luận về những sự kiện xảy ra ngay tại quê hương của nhừng người trong cuộc là TKĐ và LT.

    Còn về chuyện TT Trí Quang thì tôi vẫn cho rằng tương lai sẽ trả lời chuyện ông có phải là cộng sản hay không ? Các tài liệu của Mỹ với những tiêu chuẩn kết luận của họ là một nguồn thông tin, BĐMT cũng là một nguồn thông tin khác. Một nguồn thông tin khác là những hồ sơ của Đảng CSVN khi được bạch hoá thì sẽ giúp soi rọi rõ ràng hơn về nghi vấn lịch sử này. Tuy vậy, tài liệu “CIA and the Generals – CIA và các Tướng Lãnh” được giải mật tháng 2 năm 2009 cho biết CIA đã chi cho TT Trí Quang 2 triệu đồng từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1965 làm tôi nghĩ
    rằng “Nếu TT Trí Quang nhận tiền của CIA mà làm việc cho cộng sản Bắc Việt” thì ông phải là gián điệp nhị trùng siêu đẳng, hơn cả Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, v.v.

    Đối với lập luận cho rằng cuộc tranh đấu ở Miền Trung năm 1966 là vì Tướng Nguyễn Chánh Thi bị cách chức thì thật là đặt cái cày trước con trâu. Tướng Thi bị cách chức vì đã đưa cả Quân Đoàn 1 theo phong trào tranh đấu của TT Trí Quang. Cần chú ý là Tướng Thi lưu vong ở Cam bốt sau vụ đảo chính hụt 11/11/1960 nên chỉ trở lại làm tư lệng vùng 1 khi được Tướng Trần Văn Đôn của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạnh chỉ định, và điều này cũng là một mối bực tức của Tướng Thi. Tham vọng chính trị của Tướng Thi lớn hơn nhiều so với chức vụ tư lệnh một quân khu. Đó là lý do Tướng Thi hầu như tham gia nhiều cuộc lật đổ, chỉnh lý sau 1963 và ông đã thường được gọi là “Vua Đảo Chánh” quả là không ngoa!

    Việc Tướng Thi ly khai theo TT Trí Quang là một ví dụ của cái gọi là “đồng sàng dị mộng.” Trong tiếng Anh có thành ngữ “politics makes strange bedfellows” để chỉ những liên minh quái gỡ khi cộng tác để thực hiện mục đích riêng. Nếu cuộc tranh đấu 1966 thành công, các Hội đồng Nhân dân Cứu quốc được thành lập ở 6 tỉnh miền Trung ly khai thì Tướng Thi sẽ là “Quốc Trưởng”, TT Trí Quang là “Quốc Sư” với thành phần trí thức tranh đấu là thành phần nhân lực điều hành thì có khả thi không ?

    Lập luận cho rằng phong trào Phật giáo tranh đấu 1966 chỉ là cuộc vận động cho dân chủ chỉ là sự mơ mộng hão huyền. Hãy hỏi TT Thích Tâm Châu về cách các sư tranh đấu quá khích phái Ấn Quang đã đối xử với ông như thế nào khi để một đĩa máu và một con dao trên bàn làm việc của ông để đe dọa, đến nỗi sau đó TT phải bỏ trốn về chùa ở Vũng Tàu lánh nạn. Hãy hỏi những cộng đồng Công giáo ở Thanh Bồ, Đức Lợi ở Đà nẵng khi nhà cửa bị đốt, một số người bị giết trong chỉ mấy tháng tranh đấu năm 1966!

    Tất cả đều là buồn vui lịch sử, với cái hệ lụy là Đảng CS, đúng theo mục đích, tôn chỉ của Hồ Chí Minh, đang kéo lê nhân dân Việt Nam trên đường tiến đến thế giới đại đồng theo chân “anh Hai” Trung Cộng! Ai có trách nhiệm, hãy một lần tự vấn chính mình!

  6. Hoà Nguyễn viết:

    Về Trần Kim Đoàn – TN Tố Cần – Im Lặng hay không ?

    Chuyện xảy ra ở miền Nam VN trước 1975 đã thuộc về lịch sử, và ai muốn biết rõ hơn thì tìm đọc lịch sử, tất nhiên nên từ nhiều phía. Chỉ kể thí dụ về TT Trí Quang bị nhiều người Công giáo như Lữ Giang gán cho là CS (trong khi họ lờ đi những người Công giáo sau này lộ diện là cán bộ CS như Phạm Ngọc Thảo, Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ đều được giám mục, linh mục giới thiệu vào chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam. Nhiều người dùng dẫn chứng mập mờ, để che giấu hay bôi bác sự thật. Như ở đây có người cho dựa theo “hồ sơ mới giài mật của Mỹ” TT Trí Quang là cán bộ CS, vậy xin dẫn chứng rõ ràng, chi tiết hơn. Lữ Giang trong bài viết trên Thông Luận mới đây cho là theo cuốn băng thu dài nhiều giờ của TT Kennedy mới được công bố, Mỹ đã ra lệnh giết ông Diệm, thế nhưng trong cả bài viết Lữ Giang chỉ trích ra được lời của TT Johnson nói sau này là “chúng ta đã giết ông Diệm”, và điều nên biết Johnson thờì còn là Phó TT không được dự họp bàn về chuyện ở VN lúc sắp đảo chính (Kennedy không coi trọng Johnson). Dựa vào bài của một sử gia Mỹ, công bố năm 2008 do ông Trần Lâm giới thiệu, và bản dịch của ông Trần Ngọc Cư, sau 1975 TT Trí Quang bị buộc làm cho Ty Vệ Sinh tại Huế, (có thể) bị giam ở khám Chí Hoà trước khi bị giám sát ở chùa Ấn Quang cho tới nay, và cũng thấy thêm đại sứ Mỹ từ 1966 đã muốn hủy diệt uy thế chính trị của TT Trí Quang (để không ai nói TT Trí Quang làm việc cho CIA, như đã thấy có). Giới thiệu lại bản dịch bài của sử gia James Mc Allister đã được đăng trên tạp chí chuyên môn Modern Asian Studies năm 2008:
    http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/mot-nghien-cuu-ve-lap-truong-cua-ht-thich-tri-quang/

    Theo lời kể của ông Trần Trung Dung, đăng trên báo NV ở Mỹ đã lâu, trước khi qua Mỹ theo diện H.O. hay do bảo lãnh, ông Trần Trung Dung, Công giáo và là cháu rể của ông Diệm, đã mai táng hai anh em ông, đến chùa Ấn Quang để từ biệt TT Trí Quang (phải nhận là con người cũng có khi cao thượng đến thế, hay không giữ chút thù hận vô lý nào), nhận thấy TT Trí Quang bị giám sát chặt, không dám tiếp ông Dung ở phòng riêng.

    Ai quan tâm thì tự tìm hiểu thêm, chứ nếu ngài Hộ Giác, bây giờ còn sống, cũng không thể làm chứng cho TT Trí Quang là CS hay không. Vì ai sẽ tin lời ngài?

    Đổ dấy cho TT Trí Quang hay Phât giáo miền Trung là CS có các nhóm sau đây.

    _ Công giáo thuộc tổ chức Cần lao còn sót lại, vẫn thù hận vụ đảo chính 1-1-1963 (nên tới bây giờ cũng còn thù ghét ông Dương Văn Minh, người cầm đầu), tiêu biểu là những tác giả Lữ Giang, Nguyễn Văn Chức. Nhưng xa xa còn có thể là những người như Du Tử Lê đã phỏng vấn Liên Thành, tác già BĐMT, tới 6 lần trên đài truyền hình SBTN, và Huy Phương trong chương trình “Huynh Đệ Chi Binh” (của lính cũ miển Nam) trên SBTN phỏng vấn Liên Thànhh thêm vài lần nữa. Hai người sau có thể tin câu chuyện của Liên Thành, hay muốn đưa tin “mới lạ”.

    _ Những người thuộc đảng Đại Việt, Việt quốc từng xung đột với Phật giáo tranh đấu ở Huế năm 1966, như cơ sở của họ ở Hội An bị những người biểu tình Phật giáo phá huỷ, và ít nhất một đảng viên của họ bị giết ở Huế ( người chủ trương giết cho là NĐX). Những quân nhân cũ ở miền Nam có người cho Phật giáo miền Trung đã làm họ thua trận (không phải do ông Thiệu, Mỹ hay họ)

    _ Những nạn nhân của vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế khi thấy nhiều ngườì trong Phật giáo tranh đấu sau này trở lại với quyền sinh sát như NĐX, HPNT, HPNP năm 1968, hay TT Đôn Hậu trong tổ chức Phật giáo mới sau 1975,…

    _Những người đọc và trọn tin sách báo của ông Nguyễn Văn Chức, Lữ Giang, hay gần đây của Liên Thành.

    Phật giáo nói con người luôn sống trong vô minh, nên không thể nói ai có chút trí tuệ hơn ai. Mỗi người phải tự tìm lấy ánh sáng cho chính mình.

  7. ngophuchan viết:

    Đôi điều gửi ông Trần Kiêm Đoàn.
    Tôi xin bày tỏ lòng kính nể về sự can đảm của ông. Ông dám nói lên sự thật mà ít người dám nói.

    Cô/Bà/Anh/Chị… TN Tố Cần lên tiềng về sự im lặng đáng ngạc nhiên của những người có trách nhiệm khối Phật giáo là đúng, vì thật ra người ta không sợ hãi hay hèn nhát nhưng tâm lý thường tình ai cũng sợ bị chụp mũ và đời tư bị xâm phạm như cả làng Vũ Đại đã im lặng cho Chí Phèo chửi nát cả làng trong chuyện của Nam Cao. Cả làng Vũ Đại không hèn nhát nhưng người ta lánh xa Chí Phèo vì ghê tởm tên côn đồ vô lại ấy mà thôi.

    Thưa ông Trần Kiêm Đoàn, chắc chắn những con “Ma Giữa Ban Ngày” đó sẽ còn có nhiều âm mưu và quỷ kế nhằm hạ nhục ông bằng nhiều cách trong những ngày sắp tới. Nếu ông đã xem đó là ma quỷ thì không nên để tâm mình bị động. Rất mong ông bình thản và an lạc như ông đã nóì trong bài viết. Biết đủ là đủ ông ạ. Theo thiển ý của tôi, ông không nên để tâm vào chuyện thị phi của ma quỷ nữa làm gì cho phí năng lực và thì giờ quý báu. Ông không cô đơn đâu, chúng tôi và những ngườì có lòng, tuy là những người thầm lặng nhưng luôn luôn có mặt bên cạnh ông.
    Chúc ông nhiều an lạc và có những sáng tác mới.

    Ngô Phúc Hân

  8. Tri Ngộ viết:

    Từ ngày có mạng lưới thông tin điện tử, vấn đề dùng các diễn đàn trên mạng để (1) nói lên một sự thật theo một góc nhìn của người viết về những diễn biến liên quan đến lịch sử VN cũng như (2) để diễn tả những uất ức hay căm thù của mình một cách vô trách nhiệm bằng cách dùng những lời lẽ cay độc thoá mạ các nhân vật quan trọng còn sống hay đã chết (quan trọng đây có nghĩa là đã tham gia tích cực vào những diễn biến lịch sử đó) đã trở nên một thảm trạng mới cho danh dự và nhân phẩm của con người cũng như gieo vào lòng người đọc một sự chán chường hoặc mất niềm tin nào đó nơi con người VN (chúng ta là một dân tộc hình như còn có nhiều người “đểu” quá, tại sao thế ?).
    Theo tôi :
    1. nếu mình thoá mạ người khác, mình phải có gan và đủ lương thiện cho tên thật của mình và sẵn sàng ra hầu toà nếu người bị thoá mạ đưa mình ra trước công lý. Trường hợp này chỉ “chạy” ở các nước dân chủ Tây Phương mà thôi (một tỉ dụ hùng hồn là có một số người Việt ở hải ngoại bị chụp mũ là CS và họ đã đưa người chụp mũ ra toà và thắng kiện, những người thua kiện phải bồi thường và trong vài trường hợp số tiền bồi thường danh dự lên đến vài trăm ngàn đô la USD). Ở những nước kém dân chủ như VN, khi mình bị chụp mũ, nhất là bởi những diễn đàn của những tờ báo nòng cốt của nhà nước như tờ Công An Nhân Dân thì chỉ có biết khóc và ôm hận suốt đời (tỉ dụ họ bôi nhọ thiền sư Nhất Hạnh và Sư Cô Chân Không một cách dã man trong một bài báo vừa qua sau vụ Bát Nhã, hoặc những lời tuyên bố của phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao VN Nguyễn Phương Nga chối phăng sự thật về những vụ đàn áp nhân quyền (cũng là một chiến dịch nói sai sự thật để gây hoang mang dư luận và đưa dư luận vào đường hướng có lợi cho nhà nước)).
    2. vấn đề ném đá giấu tay ngày càng nhiều. Người đọc phải khôn khéo đừng dễ tin ngay vào những gì mình đọc. Và theo tôi talawas nên có một chính sách (policy) về vấn đề này. Nghĩa là có cho đăng những bài cãi cọ về sự bôi nhọ cá nhân hay không (tờ lá cải take 2 to tango thành công trên việc này)? Và sẽ dùng những tiêu chuẩn như thế nào? (để tránh làm mất đi những dữ kiện lịch sử quan trọng khi mình phải từ chối những bài quan trọng mà lời lẽ kém văn hoá). Hoặc phải chuẩn ngữ lại (re-edit) trước khi đăng?

  9. tntc viết:

    IM LẶNG LÀ GÌ?
    Đọc qua hai bài viết của Trần Kiêm Đoàn về Biến Động Miền Trung của Liên Thành, người đọc sẽ có nhiều câu hỏi về sự im lặng lạ lùng của giới lãnh đạo và cựu lãnh đạo của Phật giáo Việt Nam thời trước và bây giờ. Theo tôi thì TKĐ chưa nên viết về sự kiện này vì TKĐ, theo lời ông nói, thì chỉ tham gia vào Phong trào tranh đấu Phật giáo năm 1963 mà thôi, sau đó lo học hành.
    Thế thì những khuôn mặt tham gia và lãnh đạo phong trào Phật giáo đấu tranh sau năm 1963 đâu cả rồi mà không thấy xuất hiện. Những Hoàng Văn Giàu (đang ở Úc), Thái Kim Lan (Đức), Cao Huy Thuần (Pháp), Bửu Tôn (Mỹ), Ngô Văn Bằng (Mỹ), Trần Quang Thuận (Mỹ)… và những Thầy Thích Hộ Giác, Thích Giác Đức, Thích Chánh Lạc… là những vị đã tham gia trực tiếp phong trào Phật giáo tranh đấu mà không thấy ai lên tiếng cả. Trong lúc Liên Thành qua BĐMT đã kết án mấy Thầy vô số tội. Những đại đệ tử của ôn Thích Đôn Hậu, ôn Thích Trí Quang, ôn Thích Chánh Trực ở khắp năm châu sao vẫn im lặng khi đại bổn sư của mình bị Liên Thành đấu tố. Những Giao Điểm, Chuyển Pháp Luân đâu rồi mà không nghe tiếng?!
    Một mình Trần Kiêm Đoàn tả xung hữu đột trong lúc mọi người im lặng là thế nào?
    Im lặng là đồng tình?
    Im lặng là đồng lõa?
    Im lặng là hèn nhát?
    Chỉ có hai sự im lặng: Im lặng tránh đạn và im lặng chánh pháp.

    Im lặng sấm sét! Sự im lặng của chánh pháp!
    Phật Thích Ca sau 49 năm thuyết pháp đã nói rằng: “Ta chưa hề nói một lời nào!”
    Đó là một sự im lặng chánh pháp: Nói tất cả mà chẳng nói lời nào; chẳng nói lời nào mà nói tất cả. Sự im lặng rền vang như tiếng gầm sư tử. Diệu kỳ thay một sự im lặng của giác ngộ! Nhưng mấy nghìn năm sau, người thực hành đạo Phật còn lại được bao nhiên sự im lặng mang ý nghĩa giác ngộ như thế?
    Cho nên im lặng hiếm khi đạt tới trình độ “sấm sét” vì chỉ có bậc giác ngộ mới có được.
    Như thế thì sự im lặng của thầy và đệ tử thời kỳ tranh đấu Phật giáo 1966 đâu cả rồi. Xin lên tiếng để lấy lại thanh danh cho Đạo Pháp đi chứ!

    TN Tố Cần

  10. Hoà Nguyễn viết:

    Trung Nu Hoang nói: “Tôi cũng đã làm Luật sư “miễn phí” cho ông Trần Kiêm Đoàn”.

    Ông Trần Kiêm Đoàn bị tội gì mà cần luật sư biện hộ ? Dẫn ra một điều luật “luât sư” biết thử coi (nhớ là nhà nước VN cũng nói theo luật lệ). Những lời nói bậy bạ, như em ông Đoàn thì bảo là “bác”, còn cháu ông ấy thì cho là “chú”, đó là những buộc tội của “bà con” nào trên mạng vậy ? Khi viết lời thương tiếc người quen biết chết cũng là tội sao?

    Định tội tầm xàm như vậy mà đòi “bị cáo” phải lên tiếng thì vớ vẩn quá.

  11. Trung Nu Hoang viết:

    Tôi cũng đã làm Luật sư “miễn phí” cho ông Trần Kiêm Đoàn nhằm biện hộ cho ông về việc “Chia Buồn” với “Đại huynh” VĐC, qua Góp Ý trước. Đại khái, tôi nghĩ: ông Đoàn là một cựu HT của GĐPT, có cảm tình với ông cựu LĐT/GĐPT của mình là điều bình thường, nhân bản, đúng lễ giáo mà người Phật tử được dạy dỗ và mặt khác, từ sự cảm mến với tác giả của những quyển sách như Ánh Đạo Vàng,… rất văn hoa, chải chuốt mà ông Đoàn đã đọc có lẽ từ khi tuổi còn thanh thiếu niên. Với máu “văn nghệ” sẵn có trong con người ông Đoàn, sự cảm mến đó là điều rất tự nhiên giữa 2 tâm hồn có chút máu văn nghệ và giữa 2 Phật tử… cùng hoạt động trong GĐPT.
    Tuy nhiên nghĩ đi nghĩ lại, tôi thấy nên để cho ông Đoàn tự biện hộ thì chắc là chính xác hơn. Có nghĩa là tôi đã chuyền quả bóng đến chân của trung phong Đoàn để ông ta “sút”, chắc chắn là hiệu quả hơn cú sút của một cầu thủ… biên trái như tôi.

  12. Đặng Thế Hùng viết:

    “Đạo quân ma” trong trường hợp của ông Trần Kiêm Đoàn là ai thế? Ở đất Mỹ văn minh và có quyền tự do ngôn luận rộng rãi mà sao lại có hành động của xã hội đen giống cộng sản trong vụ Làng Mai Bát Nhã ở Lâm Đồng vậy?
    Có người lại đòi hỏi ông Trần Kiêm Đoàn phải giải thích tại sao ông có lời chia buồn “thắm thiết” với ông Võ Đình Cường là nghĩa thế nào? Vậy thì tiêu chuẩn để làm người “Quốc gia” chống cộng là không được khóc, không được buồn, không được bày tỏ tình cảm khi có người thân làm việc với cộng sản vừa bị chết sao? Gặp bạn bè là cán bộ không dám đến gặp gỡ thăm viếng sao?
    Nếu phải sống trong một xã hội mất nhân tính đến như thế thì cái tinh thần “quốc gia” còn bất nhân hơn là cộng sản nữa. Vậy thì còn bày đặt chống cộng làm gì?

    ĐTH

  13. Hoà Nguyễn viết:

    Trung Nu Hoang viết:
    “…tôi chưa thấy ông TKĐ có ý kiến phủ bác: đó là việc ông được người ta (hay ma?) gán cho đã viết lời Chia Buồn khá “thắm thiết” với người cựu “Đại Huynh” GĐ/PT Võ Đình Cường, khá rõ là một cán bộ CS. Bà con mạng đang chờ đợi giải thích của ông đấy, thưa ông Đoàn!”.

    Tôi rất ngưỡng mộ ông Võ Đình Cường, và bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, qua những tác phẩm của hai vị đó, nhưng điều này không liên quan gì đến nhận xét: bình thường người ta có thể thương tiếc, thậm chí khóc được nữa nếu thân thiết, quen biết họ khi họ qua đời. Điều đáng ngạc nhiên là ở cái nhỏ nhen của con người đến mức như thế, khi tiếc thương cho một người chết cũng kiếm chuyện, kết tội được.

    Cô hay bà Trung Nu chứng minh dễ dàng ông Võ Đình Cường có tên trong Mặt trận Tổ quốc sau 1975, nhưng dù ông ấy làm chức vụ to như ông Võ Văn Kiệt hay ai khác, cũng có người không CS thương tiếc khi họ qua đời.

    Thật ra tôi nhớ là mãi giữa thập niên 1960 mới đọc quyển “Ánh Đạo Vàng” và một hai tác phẩm (không nhớ tên) của ông Võ Đình Cường, nhưng đã theo dõi các tập san Hải Triều Âm, Thiện Mỹ do ông chủ trưong, xuất bản tại Sài Gòn thời đó.

    Chắc chắn cũng có kẻ tố cáo ông Lê Đình Thám, học giả xuất sắc của Phật giáo VN thời canh tân trước 1945, đã theo Việt Minh để chết ở miền Bắc. Tôi cho đó là vì họ chống phá Phật giáo vô lối, và là chống Phật giáo chứ không phải chống cá nhân hai ông đó, trong khi họ lớn tiếng giả danh chống Cộng. Như vậy nếu ông Trần Kiêm Đoàn không trả lời họ, theo tôi là vì lý do rất đúng: không đáng để trả lời (và có thể vì biết rõ họ là những ai).

    Trên Wikipedia có tiểu sử ông Võ Đình Cường.

  14. Trung Nu Hoang viết:

    Trong trận tuyến giữa “Xiển giáo và Triệt Giáo” của cộng đồng VN hải ngoại, thật khó phân biệt đâu là Chánh, đâu là Tà. Chánh đó (to tiếng chống Cộng) mà thực ra là Tà (Cộng núp bóng, Ma), Tà đó mà thực ra còn Chánh hơn cả… hiệu con nai.

    Tôi tin ở sự giải bày chân thành của người cựu Huynh trưởng Gia đình Phật tử “độc lập” này, cũng như tin tưởng ở người “bố vợ” của hai chàng rể người Công Giáo qua những gì ông ta đã viết, đã làm trong thời gian sống trên đất Mỹ. Những chứng cớ, những tài liệu ông nêu lên có thể tìm thấy không khó khăn lắm trên đất nước Tự Do này cho những ai chưa tin lời ông viết.

    Duy chỉ một việc tôi chưa thấy ông TKĐ có ý kiến phủ bác: đó là việc ông được người ta (hay ma?) gán cho đã viết lời Chia Buồn khá “thắm thiết” với người cựu “Đại Huynh” GĐ/PT Võ Đình Cường, khá rõ là một cán bộ CS. Bà con mạng đang chờ đợi giải thích của ông đấy, thưa ông Đoàn!

  15. Trần Ngọc Cư viết:

    Qua bài viết này của Trần Kiêm Đoàn, người đọc biết được một chi tiết cá nhân khá kỳ thú, đó là ông Đoàn đã có tinh thần “tự do tôn giáo” từ đơn vị gia đình. Trong khi đó nhiều bậc phụ huynh Việt Nam, ngoài miệng thi kêu gào đòi tự do tôn giáo rất nhiệt tình, nhưng khi con cái mình lấy người ngoại đạo thì đòi cho bằng được người hôn phối bên kia phải “trở lại đạo” cho bằng được. Hiện tượng đòi “trở lại đạo” gần như là tất yếu và phổ biến trong xã hội Miền Nam dưới thời Ngô Đình Diệm và còn dai dẳng kéo dài cho đến 1975. Sự o ép nhân danh tôn giáo này đã đưa đến sự tan vỡ của bao nhiêu mối tình đôi lứa, thậm chí cả những cái chết oan khiên. (Chế độ cộng sản, trái lại, có một chính sách rất bình đẳng đối với các tôn giáo, đó là đường lối coi mọi tôn giáo như cỏ rác hay chỉ là “thuốc phiện của nhân dân”.)

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>