talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Mạnh Hùng – Trung Quốc, ảo và thực

16/11/2009 | 6:00 sáng | 15 Comments

Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng

Category: Chính trị - Xã hội, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: > >

Nhân ngày 9-11- 2009, 20 năm sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ

Đáp những câu hỏi nợ bạn bè, lẽ ra chẳng phải đợi hôm nay, ngày Bức tường Bá Linh sụp đổ 20 năm trước. Dẫu sao, đây cũng là dịp đánh dấu một cuộc đổi thay toàn cầu khá ngoạn mục, trên  diện ý thức hệ, rồi chính trị và kinh tế. Thay đổi này chẳng chỉ ở Đông Âu mà còn cả Châu Á. Chủ nghĩa xã hội giáo điều coi như đã vào chung cục, kể cả ở những nước mạo nhận danh nghĩa xã hội chủ nghĩa, như Trung Quốc (TQ). Dù những con mèo lông trắng và đen cứ bắt được chuột là dùng – cách nói của Đặng Tiểu Bình – đã được phát ngôn từ nhiều năm trước khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, nhưng giả như nếu sự cố này không xẩy ra, tôi chắc con đường của TQ vào tư bản chủ nghĩa bảo kê bằng những khẩu hiệu kiểu phát triển (kinh tế) trong ổn định (chính trị) sẽ bớt tính “rừng rú”. Ở thời điểm cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang có hy vọng được vãn hồi, và theo giới chuyên gia, vãn hồi là nhờ những quốc gia mới nổi như Brazil, Ấn Độ và nhất là TQ, dư luận về một TQ siêu cường (thậm chí có xu thế thành đế quốc) có vẻ là một thứ phao cứu cho phép người ta giữ hy vọng tránh được những tác động tồi tệ có khả năng thay “bước cáo chung của lịch sử’’ kiểu Fukuyama – nghĩa là, thể chế chính trị dân chủ và nền kinh tế thị trường – như  giai đoạn dứt điểm của văn minh nhân loại.

1. Tại sao hệ thống XHCN sụp đổ?

Liên Xô – tức Đế quốc Xã hội – sụp đổ vì không thể cứ giữ mãi một xã hội kinh tế yếu kém (nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và trung), thu nhập bình quân thấp, thông tin bịt kín một chiều, và nắm bộ máy quân sự-chính trị bằng một thiểu số đặc quyền đặc lợi. Cuộc chạy đua võ trang với Mỹ khiến Liên Xô bó tay trong khả năng nâng cao mức sống của người dân, đào sâu những rạn nứt xã hội từ bên trong, và cho thấy một đế quốc thuần quân sự khó tồn tại mãi được. Quyết định của Gorbachev không sử dụng 3 triệu lính Xô-viết để giữ Bức tường Bá Linh, với tầm nhìn trung hạn, là không tránh được. Thật ra, từ những  thập niên 60-70, giới trí thức ở những nước XHCN đã thấy khá rõ sự bất cập của thể chế chính trị độc trị cộng hưởng với một nền kinh tế chỉ huy qua những kế hoạch tập trung. Họ từng nêu lên sự cần thiết một xã hội dân sự với ít nhiều quyền tự do căn bản… Kể ra, những Sakharov, Zinoviev, Solzhenitsyn… là điển hình. Trí thức ở Ba Lan, Tiệp, Đông Đức, Hung cũng khá đông. Kornai, Havel… chẳng hạn. Bức tường Bá Linh sụp là một quá trình của Chiến tranh Lạnh, không đột phát, không tình cờ… Nói kiểu thời thượng, nó có tính cách qui luật.

2. Nếu là qui luật, tại sao vẫn còn Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba?

Tôi không nghĩ TQ và Việt Nam, trừ khía cạnh độc trị, còn cái gì có thể gọi là XHCN. Ngày xưa, XHCN đồng nghĩa chia đều cái khó, cái nghèo. Ở TQ hôm nay, nghèo khó (thậm chí tương đối là hơn xưa) được lùa lên đầu lên cổ nông dân, chiếm khoảng 70-80% dân số. Thu nhập thấp, lại mất đất vì nhà nuớc công nghiệp và đô thị hóa, nông dân nay phải bán sức lao động với giá rẻ mạt, tha phương cầu thực ở những thành phố lớn, ngày làm việc trung bình khoảng 10-12 giờ, đêm chỉ có 2-3 mét vuông để trải chiếu ngủ, và cứ cuối năm là hàng ba bốn trăm triệu người về quê ăn Tết. Dĩ nhiên, với độ tăng GDP khoảng 7-10% thập kỷ vừa qua, TQ làm lóa mắt thế giới. Nhưng GDP là – nói cường điệu – một ảo tưởng. GDP không cho thông tin gì về sự huỷ hoại môi trường, về chỉ số an sinh xã hội (chủ yếu gồm phúc lợi đến từ y tế và giáo dục công cộng), về sự thất thoát do tham nhũng, về vấn đề phân bố lợi tức bất bình đẳng có khả năng dẫn đến khủng hoảng an ninh xã hội. Theo thống kê Liên hiệp quốc thì chỉ số Gini đo tính bất bình đẳng phân bố lợi tức ở TQ là 46.9, tức thuộc lớp những quốc gia mấp mé mức có vấn đề ở châu Phi và dăm nước châu Mỹ Latinh. Thật ra, lợi tức trung tuyến (median income) so với lợi tức bình quân nói nhiều hơn về mức bất bình đẳng, nhưng tôi không có số liệu đáng tin cậy. Sự bất bình đẳng này, ngoài giữa chủ-thợ, không chỉ giữa nông thôn-thành thị, giữa các sắc dân (Tân Cương là một thí dụ) mà còn giữa các vùng kinh tế (ven biển-nội địa chẳng hạn). Hàng năm, số tranh chấp của nông dân về nhà đất, của công nhân về điều kiện lao động và lương bổng, tăng lên đến cả trăm ngàn vụ. Nhưng thông tin bị bịt, thật khó xác định được mức bất ổn xã hội.

Nay, xin nói về 3 nước còn lại. Việt Nam thì là một vệ tinh xoay quanh TQ, nhưng là một vệ tinh chuyên gia công trong công nghiệp nhẹ, nợ nần như chúa Chổm, tham nhũng là quốc nạn, và dăm năm gần đây có ý đồ (!) bán tài nguyên thô (kể cả xuất khẩu lao động) vì thật mà nói, chẳng có gì khác để mang đi bán cả. Tóm lại, cả TQ lẫn Việt Nam, dẫu rêu rao XHCN  nhưng nay ai cũng biết là hai nước này tuân thủ chủ nghĩa tư bản vừa rừng rú, vừa định hướng tư bản nhà nước độc trị, rất nặng mùi vị phong kiến. TQ bóc lột lao động để sản và xuất công nghiệp gia dụng hạng nhẹ, đang tìm cách vươn lên công nghiệp cấp trung (xe hơi, viễn thông…). Độ phát triển kèm lời hẹn, cứ giầu lên, dù không đồng bộ, nhưng ai nấy đều có phần hưởng. Và muốn phát triển phải ổn định, nghĩa là phải phục tòng theo cung cách trung quân Khổng-Mạnh. Trung quân, vua mới là tập đoàn lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc. Và khi cần, thì động viên cái gọi là lòng ái quốc, hà hơi làm sống dậy niềm tự hào Hán tộc qua những động thái biểu diễn hào nhoáng như tổ chức Thế vận Hội, phóng phi thuyền lên không gian, và rêu rao là chủ nợ số một  của Mỹ. Nhà nước TQ đã cho xây khoảng 70 cái văn miếu thờ Khổng Phu tử trên thế giới, định tạo thị trường văn hóa cho chính sách ổn định để phát triển, với tầm ngắm chính là Châu Phi còn nhiều tài nguyên, nhưng ta sẽ nói chuyện này sau.

Còn lại, Bắc Hàn thì XHCN ở cái nghĩa xấu nhất, dùng khả năng làm vũ khí hạt nhân như kế sách mặc cả với thế giới, với một tổ chức chính trị rập khuôn thời phong kiến, và hẳn cũng bắt chước TQ trong nhiều khâu. Cuba là một hòn đảo quá nhỏ, tối tối vẫn nhẩy rumba, chachacha… trong tiếng nhạc xập xình mặc ai đó ban ngày bôi mỹ danh XHCN lên những mặt lộ lồi lõm ổ trâu ổ ngựa vì đã lâu không có tiền bảo quản.

Nói cho cùng, tôi chẳng thấy XHCN ở Châu Á hay bất cứ đâu. Tôi nghĩ Marx-Engels có sống dậy cũng chịu, lắc đầu, và (có lẽ) thở dài. Khi cẩn thận loại “phương thức sản xuất Châu Á” ra khỏi phân tích kinh tế-chính trị của mình, chắc là hai vị có khả năng tiên liệu khá xác đáng!

3. Về TQ và cuộc trầm thoái kinh tế năm 2008-2009

Tháng 10-2008, tin công ty tài chính Lehman Brothers trên đà phá sản đã đẩy cuộc trầm thoái mấp mé bờ vực một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Rồi Goldman Sachs, Merrill Lynch, AIG… cũng vậy. Bên Châu Âu, tình hình các nhà băng và công ty tài chính không khá hơn. Những nước công nghiệp cao ở mọi nơi đều đứng trước tình thế cạn nguồn tín dụng (credit crunch), thứ mỡ bôi trơn cho cỗ máy sản xuất kinh tế vận hành. Thế là ông nhà nước khối tư bản chủ nghĩa Mỹ-Âu, xưa nay tuân thủ qui luật không (hay ít) can thiệp vào thị trường, đành phải ra tay. Một là cho vay (tức phải in thêm tiền) và bảo trợ những công ty tài chính, và hai là bung những gói kích cầu ra để bù trừ cho sự giảm mức tiêu thụ gây ra bởi kinh tế đình trệ, nạn thất nghiệp, sự suy giảm tín dụng trong tiêu dụng. Đầu năm 2009, quả bong bóng trong thị trường chứng khoán xì hơi, độ tụt giá những tích sản chóng mặt, và người ta đã lo nguy cơ cuộc khủng hoảng toàn cầu 1929. G7, rồi G20, họp để cứu ứng nền kinh tế thị trường coi mòi không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Kinh tế gia Roubini, và nhà tài chính Weiss… đều đã tiên liệu cách đấy 2, 3 năm tình trạng Roubini Roubini “bóng vỡ” này. Ở Mỹ, lượng cung tiền tệ tăng gấp 2 từ Thế chiến II. Chỉ trong 4 tháng, Bernanke của FED đã tăng lượng cung tiền tệ gấp 2 lần, bằng lượng tăng kể từ Thế chiến II cho đến ngày Lehman Brothers gặp khó khăn. Thâm thủng tài chính của chính phủ liên bang Mỹ lên đế 1400 tỉ đôla, gấp 3 lần thâm thủng năm trước. Nay, nợ của Mỹ lên 11 ngàn tỉ, và có khoảng 104 ngàn tỉ công trái cần bảo chứng. Chia đổ đồng từng đầu người, mỗi công dân Mỹ nay mắc nợ  thế giới cỡ hơn nửa triệu đôla!

Nợ ai? Chủ nợ TQ có khoảng 870 triệu công trái. Tính thêm cả dự trữ đôla, TQ nắm trong tay khoảng 2100 triệu, thành vị chủ nợ lớn nhất thế giới của Mỹ. Chủ nợ có vấn đề của chủ nợ. Đi xiết nợ ư? Xiết thế nào? Trong khi với lượng cung đôla, chắc chắn sẽ lạm phát: giá trị đô la giấy so với những mặt hàng thật (dầu, vàng, sắt, nhôm…) sẽ giảm. Khi Tổng thống Nixon cho thả nổi đôla năm 72, giá một ounce vàng từ 35 đô lên 60. Hôm nay, 37 năm sau, giá vàng là 1000 đô/ounce, tức tăng 300 lần. Và đôla Mỹ vẫn là tiền thanh khoản trong thương mại quốc tế, giá trị khống chế bởi chính sách tiền tệ ở Washington. Như vậy, chủ nợ buộc phải nhấp nhổm như ngồi trên lửa là điều dễ hiểu. Ở đây, xin nói thêm về chính sách tiền tệ TQ. Vì đặt trọng tâm lên xuất khẩu, hàng TQ rẻ nếu đồng Nhân dân Tệ thấp so với ngoại tệ. Nhiều lần, Mỹ yêu cầu TQ tăng giá đồng Nhân dân Tệ, bỏ chính sách kìm giá, để giảm áp lực cán cân nhập siêu. Bốn năm trở lại đây, TQ thả nổi rất chừng mực đồng Nhân dân Tệ, nhưng vẫn duy trì một mức sai lệch kiểm soát được. Nay, khi mức cầu kinh tế Mỹ (và Châu Âu) suy giảm, TQ lại càng không có lý do tăng giá đồng Nhân dân Tệ, vì làm thế thì không thể tiêu thụ được hết sản phẩm trên những thị trường tiêu thụ. Hơn nữa, đồng Nhân dân Tệ tăng, tức giá trị đôla giảm. Và giá trị món nợ của ông chủ  nợ hẳn giảm theo. Nhưng nhìn lượng cung đôla như nói trên, sự cố giá trị nó giảm trong tương lai là tất yếu. Đề nghị mới đây về một rổ ngoại tệ (Đôla Mỹ, Bảng Anh, Euro, Nhân dân Tệ, Rúp Nga, và vàng) thay thế cho bản vị đô la Mỹ thì còn lâu mới thành hiện thực. Trong khi chờ đợi (10 năm?) phải tìm cách hạ cánh an toàn, nếu có thể!

4. Hạ cánh an toàn, Trung Quốc làm thế nào?

Hạ cánh, được! Nhưng hạ cánh an toàn thì không hiển nhiên. Với lượng đôla khá lớn nhưng giá trị bấp bênh ngoài tầm kiểm soát, TQ không còn “ẩn thân” như lời Đặng Tiểu Bình khuyên đám đồng sự hậu bối là chớ kích động nỗi lo của Nã Phá Luân khi “con Rồng thức giấc”. Sẵn đôla, phải tiêu thôi. Rồng nay quẫy đuôi phun nọc rắn. Ở Châu Phi, nơi tài nguyên thiên nhiên còn nhiều, lại vẫn còn dị ứng với Châu Âu, những chủ nhân ông thời thuộc địa chưa mấy xa xôi. TQ nhìn thấy những cơ hội khổng lồ tại Châu Phi. Kể từ năm 2001 tới nay, tổng thương mại giữa Trung Quốc và Châu Phi đã tăng gấp 10 lần. Riêng năm ngoái, giá trị thương mại là 107 tỉ đôla. Mười  năm qua, TQ bắt đầu ve vãn bằng cách viện trợ và cho vay để xây dựng hạ tầng cơ sở,  phô trương nghĩa vụ quốc tế lấy tiếng, “bôi trơn” tầng lớp lãnh đạo, bán khí giới và luôn ủng hộ “ổn định”, nhất là ổn định những thể chế độc tài như ở Darfur chẳng hạn. Gần đây, TQ đã kết cấu được với chính quyền ở Zimbabwe, Congo, Sudan. Ba năm qua, TQ ký kết thuê dài hạn đất nông nghiệp, khai thác tài nguyên địa chất, xây đập thủy điện, kiểm soát nguồn nước… Và chuyển sang Châu Phi mô hình cơ xưởng và một đội ngũ công nhân TQ khá đông, có nguồn nói số này lên đến hàng vài trăm ngàn. Phải nói, thời thuộc địa Châu Âu không thừa người như TQ. Người Âu đến, phần lớn đi sau ít năm, chỉ hoạ hoằn mới ở lại như trường hợp Algérie, hình thành lớp người mà người Pháp xách mé gọi là những kẻ “chân đen” (les pieds noirs). Với TQ, khác. Dân số đã lên 1 tỉ 3, tức 1/4 nhân loại, và người đông đất chật, sớm muộn họ cũng phải di dân. Song song, vấn đề lương thực sẽ rồi có, đất nông nghiệp rất cần. Đã là chủ nhân ông, có quyền sử dụng lao động như ý muốn. Công nhân Phi, hẳn phải có. Nhưng cũng rất cần công nhân (sau này, cả nông dân) TQ, vì tay nghề, vì ngôn ngữ, vân vân… Rồi cứ từng bước, họ sinh con đẻ cái, gây giống mới, và sinh cơ lập nghiệp dài lâu. Sự đe dọa này sờ sờ khó giấu. Ở Alger, tranh chấp xung đột giữa công nhân TQ và người bản địa đã xảy ra hàng loạt.

Người Châu Phi bắt đầu e ngại “thực dân mắt xếch”. Trả lời một phóng viên mới đây tại Ai Cập, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói: “Từ lâu rồi đã có các cáo buộc là Trung Quốc tới Châu Phi để khai thác tài nguyên thiên nhiên của Châu Phi và thực hiện chính sách thực dân mới. Cáo buộc này theo tôi là hoàn toàn không có cơ sở. Ai là người thực sự đặt ra những câu hỏi này? Có đúng là các quốc gia Châu Phi, hay lại là phương Tây đang theo dõi một cách lo ngại?”. Tuy nhiên, không chỉ có phương Tây đặt ra câu hỏi, mà một số chính trị gia cao cấp của Châu Phi cũng lo ngại. Bộ trưởng Ngoại giao Nigeria, Bagudu Hirse, cho rằng TQ đang ném tiền vào các thể chế tham nhũng và đàn áp tại Châu Phi, nói: “Chúng tôi chấp nhận những gì Trung Quốc đang làm. Chúng tôi chào đón sự đầu tư của họ. Nhưng họ cũng phải hiểu rằng chúng tôi rất nhạy cảm trước các vấn đề dân chủ và cai trị tốt. Chúng tôi không thể nào bắt đầu lo lắng chuyện bị áp đặt cấm vận đối với Guinea hay Niger vì tội cầm quyền tồi tệ trong khi họ đi sau lưng và thực hiện một số hợp đồng.” Dân biểu độc lập của Ai Cập, Mustafa al-Gindi coi đây là cuộc chiến giữa phương Đông và phương Tây để giành lấy chiến lợi phẩm từ Châu Phi. Ông cho rằng các mối quan hệ cũ tại Châu Phi đang bị thử thách. Vô cùng lo ngại cách thức kinh doanh của TQ, ông phát biểu: “Cho dù họ nói gì đi chăng nữa, thực tế rõ ràng là Trung Quốc không đến Châu Phi chỉ với các kỹ sư hay khoa học gia. Họ tới với các nông dân. Đây là chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Họ không có đạo đức, giá trị gì cả, mà chỉ có một điều thôi, là: Chúng tôi muốn có đất và chúng tôi sẽ lấy đất bất kể bằng cách nào.”

Năm nay, Liên hiệp quốc đã cảnh báo việc cho thuê đất dài hạn khiến nông phẩm có thể trở thành một  loại vũ khí nhằm “bỏ đói” người cho thuê. Ngoài ra, và trên hết, việc TQ kiểm soát nước đầu nguồn những con sông lớn cũng đặt ra vấn đề an ninh ở hạ lưu và lượng nước cung cấp cho nông nghiệp: đây là những áp lực chính trị rất có trọng lượng khi TQ cần uốn nắn những quốc gia khác vào con đường mình muốn. Cũng vậy, như đối với những quốc gia vùng Đông Nam Á, những đập nước trên đất TQ ở thượng nguồn sông Mekong, sông Hồng… đều là những điểm “chẹt” sinh tử có thể sử dụng khi TQ cần áp đặt.

TQ không chỉ dùng “quyền lực mềm” với Châu Phi hay với những nước Đông Nam Á mà còn bỏ ra hàng tỉ đôla mua lại cổ phần của những đại công ty ở Mỹ, Tây Âu, Úc… gặp khó khăn kinh tế. Phải nói, đây là một cơ hội hiếm hoi, và nắm cổ phần trong một nền kinh tế toàn cầu tuân thủ những qui định quốc tế còn hơn là giữ đôla mà giá trị thật bấp bênh. Nhưng ở khâu này, TQ gặp sự dè dặt đáng kể vì có những khâu kinh doanh chiến lược mà các nước tiền tiến không muốn bị kiểm soát hay để TQ “xí” vào để tìm thông tin kỹ thuật. Và cần tài nguyên dự trù trong phát triển, TQ tìm cơ hội hợp doanh để khai khoáng. Chiến lược này cũng chẳng dễ ăn: chúng ta nhớ vụ đụng chạm giữa TQ và Úc với những cáo buộc làm gián điệp kinh tế dẫn đến việc phải xé hợp đồng đã ký kết giữa Chinalco và Rio Tinto, theo đó TQ mua 9% cổ phần với giá 14 tỉ. Năm 2008, China Petroleum & Chemical Corporation (Sinopec), tập đoàn dầu khí lớn thứ hai của thế giới chỉ sau ExxonMobil, cũng đã thất bại trong việc mua 20% số vốn của Repsol YPF của Tây Ban Nha. Năm 2005, China National Ossshore Oil Corp. (CNOOC) đã phải rút lại đề nghị mua công ty Mỹ Unocal với giá 18,5 tỉ USD, vì đề nghị đó đã gây ra các phản ứng rất tiêu cực ở Mỹ.

Đối phó với trầm thoái kinh tế, các nước Tây Âu và Mỹ đề nghị TQ cùng thế giới kích cầu, mở thị trường tiêu thụ nội địa, nhập khẩu nhiều, xuất khẩu ít, hầu tìm một thế quân bình toàn cầu. Gói kích cầu ở TQ, vào khoảng 550 tỉ, chủ yếu nhắm xây dựng hạ tầng giao thông (đường sắt, xa lộ…), sau là hạ lãi suất và dễ dàng cho vay trong khâu bất động sản, giảm thuế nhà đất. Số tiền cho những công ty nhỏ và trung bình vay được đổ vào nhà đất, lại tạo loại bong bóng cố hữu, khiến giá nhà Thượng Hải nay cao như bất cứ thành phố Mỹ nào. Lớp bần cùng đi làm công thất nghiệp, không được hưởng một chính sách hỗ trợ an sinh, đã nghèo càng nghèo. Sau một thời gian, TQ có chiều thành công trong việc kích thích kinh tế nội địa. Hiện tại, 200 triệu nông dân về sinh quán bắt đầu lục tục lên thành phố kiếm việc mưu sinh. Tuy nhiên, TQ vẫn chưa mở thị trường tiêu thụ nội địa, vẫn tiếp tục tăng xuất khẩu, tức vẫn gây ra những mất quân bình. Ở ngắn hạn, TQ đã hạ cánh được. Ở trung hạn, tức 10-20 năm tới, hạ cánh an toàn hay không để tiến lên vai trò siêu cường vẫn là một dấu hỏi. Một dấu hỏi lớn…

5. Trung Quốc siêu cường, là hiển nhiên? Việt Nam, muốn hay không, cũng  sẽ rơi vào quĩ đạo kinh tế Trung Quốc? Và Trung Quốc có khả năng thành đế quốc thế kỷ 21 này?

Nếu tính tổng sản lượng GDP, TQ có nền kinh tế đứng thứ 3 trên thế giới, với ¼ dân số địa cầu. Nếu tính GDP/đầu người thì hiện 130 triệu người TQ chỉ làm được 1 đôla mỗi ngày, và 35% dân số, tức trên dưới 455 triệu người, chỉ thu nhập dưới 2 đôla mỗi ngày, tức ở mức 700-750 đô la/năm. So với thế giới, người TQ vẫn còn là nghèo. Hiện chế độ an sinh (lợi tức  hưu trí, y tế xã hội…) ở TQ còn phôi thai, và mức bất bình đẳng phân bố đo bằng chỉ số Gini là cao, cảnh báo tiềm ẩn xung đột lớn. Nếu xét đến mức phân bố theo vùng, rạn nứt giữa những khu kinh tế đặc biệt ở duyên hải và những thành phố lớn đối với nội địa mà nông nghiệp là chính càng ngày càng lớn. Ngoài ra, TQ phải đối mặt với hiện tượng lão hóa trong cơ cấu dân số. Kèm theo, là vấn đề môi trường bị hủy diệt ở mức trầm trọng vì kỹ thuật kém và vì tầm nhìn ngắn. Hiện thời, TQ đã khởi bước đầu vào công nghiệp nặng và trung, nhưng vẫn còn tập trung trong khâu công nghiệp nhẹ nhắm xuất khẩu. Năm 2010, TQ sẽ là nước có mức xuất lớn nhất thế giới, nhưng vẫn kẹt ở cái thế phải dùng đôla làm tiền tệ thanh khoản. Những nước đang lên (Brazil, Ấn, Nga, và TQ) – gọi là BRIC- bàn nhau về phương sách thay đôla, nhưng có sớm cũng phải 5, 7 năm tới, và với điều kiện BRIC giữ được mức đoàn kết tối thiểu. Điều này khó, khi xét quan hệ Ấn-TQ  và Nga-TQ.

Nhưng nếu cứ có khả năng “ổn định” củng cố tập quyền về mặt chính trị, chuyện vào vai siêu cường của TQ là có. Siêu cường, chẳng phải vì TQ có kỹ thuật không gian cao, đóng được tầu ngầm nguyên tử, hay phóng được tên lửa mang đầu hạt nhân xa 3000 km (hãy còn chậm 20 năm so với Mỹ). Siêu cường vì bỏ vốn đi buôn hợp đồng thời cầm giữ đôla như giữ lửa trong tay. Siêu cường vì có khả năng, như Châu Âu đầu cuộc Cách mạng Kỹ nghệ thế kỷ 18-19, ra sức bóc lột giai cấp lao động trong nước và ăn cướp tài nguyên từ những thuộc địa. Khả năng có, nhưng hiện thực thế nào thì còn phải chờ. Những lực cản đã xuất hiện. Tây Âu, Nhật, Nga… bắt đầu quan tâm và có phản ứng trước chính sách kinh tế đối ngoại của TQ. Còn vướng tay giải quyết vấn đề kinh tế mỗi nước, hiện họ chỉ đánh động nguy cơ trước “quyền lực mềm” và khẩu hiệu win-win “hài hòa” của Bắc Kinh.

Phần Việt Nam, có rơi vào quĩ đạo kinh tế TQ hay không thì là một quyết định chiến lược, không cứ tất yếu kiểu một số người nghĩ, vì thế giới ở thế kỷ 21 này sẽ là, như lập luận trong phần sau, một thế giới đa cực. Và nói ngay, hiện nợ ngập đầu ông chủ nợ hàng xóm, vào quĩ đạo TQ thì con cháu chúng ta sẽ phải đi làm công ít là vài đời, thành nô dịch ô-sin chỉ vì chúng ta thiếu tự tin, thiếu tự trọng, và khiếp nhược trước một TQ ảo được hóa trang khéo léo và đánh bóng bằng lừa mị. Trên thực tế, TQ không đáng sợ đến độ chúng ta phải qui hàng vô điều kiện.

Hiện nay, TQ có thể ví như một con voi. Voi bằng giấy (phủ đôla móc từ thặng dư lao động của nông dân phải đi làm công nghiệp trên thành phố), với ba chân đất sét (với môi trường hủy diệt, lao động lão hóa, và bất bình đẳng trong phân bố lợi tức), một chân bằng gỗ (quân đội trung kiên với quyền lực chính trị). Nhưng TQ đã cấm không cho phép quân  đội “làm ăn”. Chân gỗ hẳn chẳng còn được đóng đế sắt, và lung lay thế nào thì xin đợi vòng quay sau của bánh xe lịch sử.

Đế quốc thế kỷ 21? Mới vào vai siêu cường còn khó khăn thì TQ trở thành đế quốc chưa thể là chuyện hình dung ra được. Ngược đường lịch sử, Đế quốc La Mã khai sinh từ một tổ chức quân đội kỷ luật và có khả năng kỹ thuật cao, sau rao giảng Kitô giáo, một hệ thống giá trị hoàn thiện hơn những nền văn hoá phôi thai ở Châu Âu thời đó. Đế quốc Hồi đến sau, quân lực hùng hậu, phát triển thêm một nền khoa học. Với kỹ thuật dẫn thủy độc đáo, và kèm vào Kinh Coran, cũng từ truyền thống tôn giáo vùng Trung-Cận Đông, họ mang tới Châu Phi những giá trị mới. Đế quốc Anh, thống trị mặt biển, khai mào cùng một số nước Châu Âu chính sách thuộc địa, mang theo hành trang những tư tưởng thởi Phục hưng và Khai sáng. Đế quốc Mỹ, thắng Thế chiến II, chia thế giới thành hai, rồi đi rao giảng những giá trị dân chủ, tự do… Đế quốc Xã hội cũng vậy, bài rao giảng Marx-Lenin là rao giảng về những giá trị, nhưng tiếc là khả năng trở thành hiện thực của những giá trị ấy không thật có. Kể sơ như vậy, dẫu biết là không đầy đủ, nhưng tôi vẫn nói nhằm nhấn mạnh hai điểm sau: Điều kiện cần để thành đế quốc là lực lượng quân sự và kỹ thuật (kể cả kỹ thuật chiến tranh) cao, và sau, điều kiện đủ là kèm theo đó một hệ thống giá trị mới có khả năng thay thế những giá trị cũ kỹ lỗi thời. Về điểm đầu, TQ còn khá lạc hậu so với những khả năng quân sự của những nước tiên tiến. Về điểm thứ hai, thật khó tưởng tuợng nổi một hệ thống giá trị thời Xuân Thu-Chiến Quốc xưa hàng mấy ngàn năm lại có thể ảnh hưởng  lên những con người thời đại hôm nay, với những phương tiện truyền thông hiện đại. Dù có lập 70 Văn miếu thờ Đức Khổng ở nhiều nơi trên trái đất, và mặc dầu không có ác cảm gì với nhà tư tưởng này, tôi vẫn tự thấy mình quả rất lố bịch khi tưởng tượng ra một thanh niên da đen xì xụp lạy Ngài, miệng lặp đi lặp lại quân, sư, phụ… như thứ bùa chú để giữ ổn định cho những vị lãnh đạo Châu Phi. Việc đi xây Văn miếu này chứng tỏ những nhà lãnh đạo TQ đang bế tắc trong sự tìm kiếm một mô hình văn hóa có giá trị phổ quát toàn cầu ở ngưỡng cửa thế kỷ 21 này.

6. Kinh tế thế giới có phục hồi được không? Bàn cờ thế giới sẽ thay đổi thế nào?

Năm 2010 tới đây là một năm bản lề. Lạc quan, chuyên gia nói kinh tế Tây Âu và Mỹ sẽ tăng trưởng, nhưng chừng mực. Bi quan, sẽ lên rồi xuống kiểu chữ W, vì vẫn còn  bong bóng, và những cứ liệu căn bản (fundamentals) không có gì mới mặc dù giá chứng khoán có tăng từ tháng 3–2009. Quay lại thời kỳ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ bơm hơn một ngàn tỉ vào nền kinh tế hầu cứu ứng nan đề cạn nguồn tín dụng, lý do khiến những đại công ty tài chính và ngân hàng không cho vay, cơ xưởng đình trệ, tức nền kinh tế “thật” suy thoái. Tín dụng (tiền tệ) là giấy, ảo, và là đơn vị trung gian giữa mua và bán những mặt hàng thật (như trả lương lao động, mua nhiên vật liệu… chẳng hạn). Trên lý thuyết, bản vị trung gian tín dụng không tác động lên nền kinh tế “thật”, nhưng trong thực tế cuộc trầm thoái vừa qua, thì không thế. Tại sao? Giới tài phiệt đã đi quá chức năng truyền thống của ngân hàng, lao vào hoạt động đầu cơ may rủi qua những quĩ đầu tư (hedge funds), và ngay khi được hỗ trợ, họ giữ tiền chứ không cho vay để bôi trơn hoạt động kinh tế “thật”. Bằng cớ: vài tháng sau khi nhận tiền, khi chính phủ Mỹ định kiểm soát tiền thưởng (bonus) của lãnh đạo những tập đoàn kinh tài vẫn lên đến 900 triệu (trong 1 năm 2008 thua lỗ), họ đòi trả lại tiền bail-out đã nhận và từ chối không cho chính phủ Mỹ điều tiết  tiền thưởng của họ! Mặc dầu tân Tổng thống Obama được dư luận quần chúng ủng hộ, ông ta cũng đành “chịu thua”. Wall Street thắng Main Street, tài phiệt đã sử dụng nền kinh tế “thật” như con tin để ép nhà nước Mỹ lấy tiền đóng thuế của dân để hỗ trợ họ. Mới đây, trong hội nghị thượng đỉnh G-20 ở Pittsburg, những điều kiện chế tài vẫn lỏng lẻo, thậm chí đề nghị đánh thuế mua bán chứng khoán để giới hạn hoạt động đầu cơ (speculation) thôi mà cũng không được thông qua. Với lãi suất hiện ở mức zero, người ta cứ vay đôla không phải trả tiền lời, mang đi mua chứng khoán ở những nơi giá trị tiền tệ tăng lên so với đồng đôla, tạo ra khả năng  thổi những quả bong bóng mới trên thị trường. Tổng thống Pháp Sarkozy mạnh miệng lên tiếng nhiều lần, cho rằng tương lai của kinh tế tư bản thị trường mấp mé bờ vực phá sản với sự lũng đoạn của khu vực tài chính-ngân hàng, nhưng tiếng ông nói vẫn vô tăm. Đây có lẽ là vấn đề cam go nhất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa: ảo thắng thực, và tài phiệt chỗm trệ trên đầu mọi người, kể luôn cả tổng thống, thủ tướng, quốc hội… những quốc gia dân chủ tiên tiến.

Sau trầm thoái, phân bố quyền lực kinh tế (và chính trị, như hệ luận) sẽ khác. Mất đi, hay suy giảm, có Mỹ, Nhật, Tây Âu và những nước Đông Âu mới gia nhập Liên minh Châu Âu. Được, những nước nhiều tài nguyên như Brazil, Nga, Úc, Canada. TQ vẫn tiếp tục tăng trưởng, và nhân cơ hội sử dụng đôla đi buôn tài nguyên và đi “buôn vua” kiểu Lã Bất Vi thời Chiến quốc, chắc sẽ phát huy trong một chừng mực nhất định vị trí của mình. Ở Châu Phi, TQ giữ vai bảo kê cho những chính quyền độc đoán, hủ hóa quyền lực chính trị địa phương, khai thác tài nguyên  nhưng đồng thời gây ô nhiễm môi trường môi sinh ở mức trầm trọng, mượn tiếng sử dụng lao động để di dân hòng đối phó vấn đề nhân mãn (ở mẫu quốc), tìm cách kiểm soát và điều hành yếu tố sinh tử là nguồn nước: TQ nay lộ hình bành trướng bá quyền, đi ngược lại hầu hết những giá trị nhân loại đã, và đang tiến tới, một đồng thuận. Thực lực, về khoa học-kỹ thuật, TQ còn tụt hậu so với thế giới. Và mang những giá trị phong kiến ra rao giảng như hệ lý luận trụ cột cho phương thức “ổn định để phát triển” đúng là đi giật lùi ít ra hai ngàn năm. Trong tình huống trầm thoái kinh tế toàn cầu, với túi đôla khổng lồ, TQ bành trướng được. Nhưng chỉ trong một chừng mực, vì khi tương đối ổn định, những cường quốc kinh tế sẽ không thể ngồi yên xem TQ, con Rồng đang cong đuôi lên quẫy, tự biên tự diễn trò bá quyền mãi. Châu Phi là chiến trường của cuộc xâm lăng kinh tế kỷ 21, và sự cố TQ đàn áp người Hồi giáo ở Tân Cương  hẳn sẽ tác động tiêu cực lên cách người Châu Phi mà đa số theo đạo Hồi nghĩ về khả năng hợp tác “hài hoà” với Bắc Kinh.

Tóm lại, thế giới thế kỷ này là thế giới đa cực: điều này rất tích cực, cho phép những nước chưa phát triển trong đó có Việt Nam thời cơ hợp tác đa phương với mọi đối tác. Khép mình bó chặt vào quan hệ đơn phương và đặc thù với TQ chẳng khác tự nhốt mình trong cũi rồi hai tay dâng  chìa khóa lên chỉ để nghe cho đủ 16 chữ kềm mạ vàng.

7. Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc rất phức tạp, với nào tranh chấp Biển Đông, nào Bauxite Tây Nguyên… Ta phải nghĩ gì? Với đối sách nào?

Biết sớm muộn rồi cũng phải trả lời câu hỏi này, tôi xin ngắn gọn, không đề cập đến Biển Đông, Bauxite, than lòng sông Hồng, đập TQ đầu nguồn sông Mekong, v.v… Tìm trên trang Bauxite Việt Nam, chúng ta có rất nhiều thông tin trên những vấn đề này.

Dân dã có câu “anh em xa không bằng láng giềng gần”. Đó là trong việc cưu mang nhau. Nhưng nếu không cưu mang mà còn ngược lại, thì Việt Nam rất cần anh em xa để tránh láng giềng gần thò tay bóp cổ bịt miệng. Hai lần Bắc thuộc mà Việt Nam chưa biến thành quận huyện TQ là điều thần kỳ. Có người hô, nay thêm một lần Bắc thuộc. Xin chớ vội! Và coi chuyện Việt Nam phải vào quĩ đạo TQ như điều tất yếu hiển nhiên là một sai lầm chiến lược mà hậu quả là hậu quả truyền đời.

Người Việt đã đổ ra không biết bao nhiêu xương máu và nước mắt để giữ nước. So với thời Nguyên Mông lùa quân sang xâm chiếm nước ta vào đời nhà Trần thì có hai điều phải xác minh ngay. Tương đối mà nói, Nguyên Mông xưa hùng cường hơn TQ ngày nay nhiều. Và họ dùng quân sự, vì cách đây 500 năm, chưa có những hình thái khác. Ở thế kỷ này, dùng giải pháp quân sự đi xâm lăng là bất cập. Thay vào, là xâm lăng kinh tế, với sự đồng lõa của quyền lực chính trị địa phương. Thâm hiểm hơn nữa, song song với kinh tế là xâm lăng văn hóa qua phim ảnh, sách báo, truyền hình, xây Văn miếu, tượng đài… nhằm  đồng hóa: một khi mọi người Việt Nam thấy mình chẳng khác gì người TQ, xâm lăng nào còn là vấn đề nữa đâu. Đời nhà Trần, Vua gọi họp Hội nghị Diên Hồng tìm đồng thuận toàn dân. Trần Hưng Đạo bỏ thù nhà để lo đền nợ nước, quan tướng một lòng, không chia rẽ vì cái tư riêng, góp sức với nhau cứu lấy sơn hà. Đời nay, cũng phải vậy. Sau hai cuộc chiến giành độc lập khiến hàng triệu người phải hy sinh, những ai hiện thời có trách nhiệm dám bỏ chuyện tư túi để đoàn kết cùng nhau giữ nước? Xin hãy chấn dân khí, chứ đừng đi bỏ tù những người mặc áo phông có ghi “Trường Sa-Hoàng Sa là của Việt Nam”. Chấn dân khí, vì dân là nguồn lực chính chống xâm lăng. Làm nhụt dân khí lúc này chẳng  khác gì đi bán nước. Nước nhỏ, chúng ta hòa hiếu. Hoà hiếu khác bạc nhược. Nằm sát nách một thế lực lớn, chúng ta tránh đụng độ, nhu hơn là cương. Nhưng nhu không có nghĩa là nằm chết nhẹp, mặc cho người ta giẵm lên đầu lên cổ. Đừng thân Tầu vì chút quyền lực và tiền tài phù du. Và cũng đừng nhắm mắt bài Hoa, như một phản ứng vô điều kiện. Chúng ta đã từng chung sống hòa bình với nhân dân TQ. Chúng ta có thể tiếp tục sống với họ, bên cạnh họ, trong tương kính tương thân, nhưng không buộc cứ cong lưng cúi đầu trước đám quân phiệt – tài phiệt mà được.

Anh em xa là những ai? Nhật, Úc, Ấn và những nước khối ASEAN. Xa hơn, có Nga, Mỹ, Tây và Bắc Âu. Anh em xa, là cả cộng đồng quốc tế còn muốn xây dựng một thế giới công chính. Phần tôi, tôi tin là có một nhân loại tiến bộ, công bằng, hành xử có chuẩn mực đạo lý (ethics), không dễ mà thành đồng lõa của những mưu đồ bành trướng bá quyền. Người Việt Nam chúng ta, chẳng chỉ chính quyền và lớp lãnh đạo, làm thế nào để được sự hỗ trợ anh em vừa nói là điều đáng suy ngẫm. Và đó là yếu tố cho phép chúng ta tiếp tục tồn tại như một dân tộc.

_________

GSTS Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học Laval, Québec, Canada, còn có các bút danh là Nam Dao và Dã Tượng.

© 2009 Nguyễn Mạnh Hùng

© 2009 talawas blog

Bình luận

15 Comments (bài “Nguyễn Mạnh Hùng – Trung Quốc, ảo và thực”)

  1. Tri Ngộ viết:

    Xin cám ơn tác giả NMH đã cho chúng ta bài viết dùng chữ rất táo bạo và cũng cám ơn các độc giả đã phản hồi đứng đắn, tôi học được rất nhiều. Tôi cũng có vài đóng góp nhỏ nhoi:
    1. Sự có mặt của người TQ ở Châu Phi: tôi đã có dịp đi chơi và đi công tác qua những nước Senegal, Gambie, Cameroun, Maroc, Tunisie, Guinée Équatoriale, Tchad và Congo RDC từ năm 1980 đến ngày hôm nay. Sự hiện diện của người TQ ở Châu Phi là một hiện thực làm cho tôi giật mình. Khắp nơi, thấy người TQ nhan nhản trong các thành phố tôi đi qua. Ở Bata (GE), buổi tối ra đường tôi tưởng như mình đang ở Richmond (Vancouver). Người công nhân TQ rất được các chính phủ giúp đỡ và yêu chuộng và họ làm việc rất giỏi và rất hiệu quả (đào quặng mỏ, xây đường, xây hầm, làm cầu, làm đập nước và hệ thống thủy điện, xây nhà và công thự, đào mỏ dầu ngoài khơi, đào giếng nước bằng mỏ khoan…). Những nguyên liệu chính họ đem về TQ gồm có: dầu hoả, đồng, bô xít, cobalt, uranium và gỗ. Số người TQ hiện nay theo thống kê gần đây nhất tôi đọc được của BNG Canada lên đến 600 ngàn người (tức là hơn nửa triệu). Về đời sống thì họ rất khéo léo và khôn ngoan, họ không sống chung đụng với dân địa phương (họ sống phần lớn trong những compounds biệt lập). Có nhiều chỗ họ đi làm 3 shifts 24h day/7 days week. Tuy khéo léo, nhưng trên thực tế đã có những vụ xô xát giữa công nhân TQ và dân địa phương. Nào là vụ đánh nhau đổ máu ở Congo Brazzaville, nào là vụ biểu tình chống người làm ăn TQ ở Dakar, nào là vụ xô xát gần đây nhất ở Alger.
    2. Khi nói về văn hoá, mình có thể nói đến sản phẩm văn hoá và văn hoá có thể định nghĩa như cách ăn cách mặc cách đi cách ngồi tức là cách sống của mình. Chẳng hạn vụ đàn áp tăng ni sinh ở Bát Nhã được nhiều người trong nước gọi là “kém văn hoá”. Hoặc mình cũng có thể thấy Thuý Nga’s Paris By Night và Asia (hoặc Vân Sơn) đang có ảnh hưởng trên văn hoá người Việt ở hải ngoại và trong nước. Cách sống của thanh thiếu niên VN ngày nay có thể gọi là mang tính chất văn hoá đồi trụy (tôi muốn nói là không được thánh thiện và lành mạnh lắm). Câu hỏi tôi muốn đặt ra ở đây là: hình như nhà cầm quyền CSVN đang tìm cách ru ngủ thanh thiếu niên bằng cách cho họ tha hồ hút sách bán dâm ăn chơi nhậu nhẹt tự do. Như vậy người trẻ không còn thời giờ và năng lực (cũng như thiện chí) để nghĩ đến những vấn đề lớn có tính cách quốc sự như Trường Sa Hoàng Sa và vấn đề dân chủ cho VN. (Số người trẻ đi tu đông là một chuyện khá hiếm, qua vụ Bát Nhã, tôi nhận thấy vẫn còn những người trẻ có tâm huyết học hỏi những điều lành và gìn giữ thân tâm mình để phục vụ xã hội, điều này cũng cho tôi tia hy vọng tuy là mỏng manh). Tác giả NMH và anh Nguyễn Tâm Bảo có câu trả lời trên cái nhìn này của tôi không? “Nhà cầm quyền CSVN đang tìm cách ru ngủ thanh thiếu niên VN bằng cách cho họ tha hồ hút sách, bán dâm, ăn chơi, nhậu nhẹt tự do”.
    Thân kính.

  2. Đỗ Kh. viết:

    Trở lại chuyên “thuê” đất để canh tác, như trường hợp Hàn quốc ở Madagascar (bất thành và là một trong những nguyên nhân dẫn đến đảo chánh tại đây), là 99 năm trên một nửa diện tích canh tác của cả nước! Việc này lợi hại thế nào thì cần đào sâu, nhưng trước hết đã thấy là ảnh hưởng đến một nửa số nông dân (là 78% lao động của Madagascar) nếu không nói là đến cả nuớc. Chủ quyền quốc gia, chính sách kinh tế còn quyết định được hay không? Về ngắn hạn thôi, không nói chuyện môi trường, tập quán ăn uống… trên một thế kỷ vì tất nhiên Daewoo Logistics thuê đất này là để phục vụ nhu cầu của họ và của Hàn Quốc. Chính quyền, bộ trưởng kinh tế hay nông nghiệp của Madagascar nặng bao nhiêu trước lãnh đạo của Daewoo? Năm nay Hàn Quốc thừa bắp, thiếu kim chi thì Daewoo sẽ chuyển sang trồng ớt và cải, đuổi một hai triệu nông dân lên thành phố làm móc túi, ăn sương? Thì có tiền thuê chứ đất nào có phải họ chiếm, nhưng trong trường hợp này thì Daewoo lại không phải trả tiền (theo báo cực tả và chống toàn cầu hóa nổi tiếng là tờ Financial Times ở London http://www.ft.com/cms/s/0/6e894c6a-b65c-11dd-89dd-0000779fd18c.html?nclick_check=1)!

    Nguy cơ United Arab Emirates ( thuê của nước ngoài 1,4 triệu héc ta canh tác) hẳn phải khác nguy cơ Trung Quốc. Dân số nước này là 4,8 triệu, trong đó chỉ có 19% tức 900.000 là bản địa có quốc tịch Emirates, phần còn lại là người nước ngoài ngụ cư. Người Emirates đã là thiểu số 1/5 ngay tại chính quê hương của họ, rất ít khả năng họ sang sống tràn tại Pakistan (175 triệu dân) nơi họ tậu được 900.000 héc ta ruộng. Nhưng địa chủ là địa chủ và tá điền là tá điền.

    Toàn cầu hoá ngày nay khác toàn cầu hoá ngày xưa. Thế kỷ thứ 21 không phải là thế kỷ thứ 19, thời mà một cá nhân như vua Leopold II làm chủ 2.300.000 kilômét vuông là Congo http://en.wikipedia.org/wiki/King_Leopold%27s_Ghost . Ông làm chủ có 23 năm (1885-1908) chứ không phải là 99 năm, trước khi ông thẹn thùng biếu lại cho nước Bỉ. Trong thời gian này dân số Congo thiệt hại khoảng một nửa (mất 10 triệu mạng).

    Đó là thời (và tiếp tục cho đến nay dưới những hình thức khác) Tây phương mang ánh sáng văn hóa đến lục địa tối tăm này, đi rất xa trước ước ao của ông Nguyễn Tâm Bảo.

  3. Nguyễn Tâm Bảo viết:

    Gửi ông Nguyễn Mạnh Hùng

    1. Câu chuyện về anh chàng đào đất mà ông kể không đủ để thuyết phục tôi rằng GDP của Trung Quốc là ảo. Cho dù có anh chàng đào đất thật, thì một xã hội vẫn còn những người khác chứ? Vẫn phải có người may quần áo cho anh ta mặc, có người trồng trọt và săn bắn cho anh ta ăn, và có người sản xuất ra cuốc, xẻng cho anh ta dùng … Như vậy dù việc anh ta làm không đem lại sản phẩm cụ thể, nhưng cũng góp phần gián tiếp kích cầu, khuyến khích những người khác sản xuất. Bao nhiêu phần trăm tăng trưởng GDP là ảo, bao nhiêu là thực? Tôi thấy ông không đưa ra số liệu cụ thể mà kết luận như vậy thì hơi chủ quan.

    Ngoài ra việc đào đất ngày này qua ngày khác cũng có thể giúp anh ta làm chủ kỹ thuật … đào. Từ đó có thể sẽ có những cải tiến về cuốc, xẻng cũng như phương pháp đào bới … giúp những người khác tăng hiệu năng sản xuất.

    Tóm lại, ngay cả việc đào hố tưởng là vô hại nhưng thực ra cũng có ích trong việc kích cầu và cải tiến kỹ thuật … Huống gì người Trung Quốc cũng chẳng còn ngu ngốc đến nỗi bắt cả nước đào hố để lòe thiên hạ như thời của Mao nữa.

    Một trong những vấn nạn của nền kinh tế tư bản là tỷ lệ thất nghiệp không thể nào giảm xuống bằng không. Luôn có những người thất nghiệp vì xã hội không tạo đủ việc làm cho họ. Với những người này thì giao cho họ một cái xẻng rồi sai họ đào hố chắc vẫn có ích hơn là để họ ăn không ngồi rồi đâm ra “nhàn cư vi bất thiện”. Ít ra cũng là cách để họ rèn luyện thể lực và làm chủ kỹ thuật dùng cuốc, xẻng.

    2. Tôi bảo lưu ý kiến rằng nên sử dụng đồng thời chỉ số phát triển con người (HDI) kèm theo với tỷ lệ tăng trưởng GDP để đánh giá sự phát triển của một quốc gia, thêm cả chỉ số Gini nữa càng tốt. Tuy nhiên trong lịch sử phát triển của các nước, trong thời kỳ tăng tốc và công nghiệp hóa để tích lũy tư bản thì Gini thường rất cao. Nếu không chắc Ăng-ghen không cần viết “Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh…”

    Hiện tại Trung Quốc khá giống với Anh, Mỹ, Nhật ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20: tăng tốc phát triển bằng mọi giá, lấy công nghiệp hóa làm trọng tâm, tích lũy tư bản một cách tàn khốc: dùng hàng ngàn tỷ đô mua công trái của Mỹ thay cho tăng lương hưu trí và đầu tư cho bảo hiểm y tế cũng như các phúc lợi khác, bóc lột tài nguyên và khai thác thị trường ở các nước nghèo. Anh, Mỹ, Nhật cũng đã từng như vậy.

    3. Tôi cũng không nhìn thấy được sự phát triển của Trung Quốc thì có ích lợi cụ thể gì cho Việt Nam. Thậm chí chỉ có hại, chẳng hạn, đối với các nhà đầu tư nước ngoài thì Việt Nam chỉ là “China plus 1”. Trung Quốc phát triển là một sự đe dọa đối với tất cả các mặt: kinh tế (làm cho công nghiệp Việt Nam không phát triển được vì không thể cạnh tranh), chính trị (mô hình Trung Quốc càng thành công thì Việt Nam càng khó dân chủ hóa), an ninh (vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải), ngoại giao (ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước ASEAN làm suy yếu vai trò của Việt Nam trong khu vực)…

    Riêng về văn hóa, tôi cho rằng văn hóa Việt đã qui hàng văn hóa Hán từ lâu rồi. Cái duy nhất mà người Việt còn giữ được là ngôn ngữ, nhưng nếu không nhờ một người da trắng sáng tạo ra chữ viết thì tiếng Việt cũng chỉ giống như tiếng Cantonese so với Mandarin mà thôi. Có thể chỗ này tôi hơi cường điệu, nhưng quả thật là nếu lọc bỏ đi những phần ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, văn hóa Pháp, văn hóa Nga, văn hóa Mỹ … thì văn hóa Việt còn lại gì?

    Ông viết: “Xin ông cứ lên báo mạng CAND xem những vụ con giết cha, vợ chém chồng, hàng xóm đánh thuốc độc lân bang… thì ông sẽ thấy cái văn hóa tốt đẹp đang biến dần.”

    Tất cả những tệ trạng này có phải là kết quả của sự “xâm lăng văn hóa” hay không? Hay đó là kết quả của những nhược điểm trong tâm lý Việt, trong các thiết chế xã hội Việt? Tức là có những nguyên nhân chủ quan chứ chẳng liên quan gì đến sự xâm lăng của phim ảnh, sách báo Trung Quốc.

    Việc ông nêu hiểm họa “xâm lăng văn hóa” có lẽ là xuất phát từ thiện chí của một nhà văn tâm huyết với văn hóa đất nước (tôi biết ông còn là nhà văn bên cạnh một nhà kinh tế học). Tuy nhiên, điều này có vẻ như cộng hưởng với chủ trương của những ông “quan văn hóa” trong nước thường sử dụng cụm từ “xâm lăng văn hóa” như một phương tiện để kiềm tỏa những trào lưu văn hóa mà họ không thích.

    Hơn nữa một số trí thức, do bản tính kiêu ngạo trí thức, cũng thường nêu nỗi lo về sự xâm lăng văn hóa như để khẳng định thẩm quyền của họ trong việc lọc lựa những luồng văn hóa ngoại nhập.

    Tôi vẫn cho rằng văn hóa cần phải được mở cửa tối đa để mọi luồng văn hóa từ bên ngoài có thể tự do vào Việt Nam, sau đó sự chọn lọc và đào thải sẽ diễn ra theo đúng qui luật tiến hóa và tùy theo sở thích của “người tiêu dùng”.

    Khái niệm văn hóa mà tôi sử dụng không chỉ bó hẹp ở các sản phẩm văn hóa-nghệ thuật (phim ảnh, sách báo, v.v.) mà, như tôi đã viết, bao gồm phần quan trọng hơn cả là: văn minh khoa học và các giá trị văn hóa khai phóng. Chính cái phần quan trọng này của văn hóa mà tôi mong nó chinh phục văn hóa Hồi giáo và văn hóa bộ lạc ở châu Phi.

  4. phamthientho viết:

    Bác Mạnh Hùng đã phân tích tình hình kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa nước Tàu tuy chưa đầy đủ để thỏa mãn hết bạn đọc, nhưng ít ra cũng đề xuất ra được một số vấn đề cho ta nhìn thấy được nhiều phần chính sách, chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh. Điều sau cùng bác cũng không quên nhắc đến thân phận nhỏ bé của nước Việt Nam mình đang bị cuốn hút theo trào lưu, xu hướng toàn cầu hóa của thế giới – Điều này chứng tỏ các quốc gia nào mạnh thì sẽ được vươn cao, tồn tại trong nghĩa sống còn là những quốc gia mạnh về mọi lãnh vực vừa nêu trên. Riêng Việt Nam ở sát bên nước láng giềng Trung Hoa từ bao đời cho ta thấy nếu mình yếu hơn thì coi như dễ bị xâm chiếm, thực tế thì những gì đang xảy ra giữa Trung Hoa và Việt Nam, chứng minh Việt Nam mình đang bị anh lớn láng giềng xâm luợc một cách tiệm tiến.

    Sự sống còn đối với Việt Nam bây giờ là chiến lược “hợp, tung”, kinh nghiện rút ra từ thời Chiến Quốc, nhưng có điều làm sao Việt Nam có thể trở thành Đồng minh – Chiến lược được đây? Khi bác Mạnh Hùng viết:

    “Anh em xa là những ai? Nhật, Úc, Ấn và những nước khối ASEAN. Xa hơn, có Nga, Mỹ, Tây và Bắc Âu. Anh em xa, là cả cộng đồng quốc tế còn muốn xây dựng một thế giới công chính.“

    Bắc Kinh chắc chắn luôn tìm cách xé lẽ sự đoàn kết giữa các nước mà Việt Nam đang muốn tiến tới kết bạn (theo nghĩa xây dựng chiến lược quốc phòng), đó là chiến lược “tung“ của Bắc Kinh để đối lại với chiến lược “hợp“ của các nước nhỏ yếu như Việt Nam. Điển hình cho thấy tranh chấp Biển Đông là một dẫn chứng cụ thể.

    Mong bác có nhiều bài viết hơn để trả lời cho anh em: Làm cách nào Việt Nam có thể trở thành Đồng minh – Chiến lược với các nước trong thế giới tự do? Làm thế nào để đủ mạnh trên các lãnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa như theo ý bác muốn đề cập đến để khỏi còn sợ Bắc Kinh nữa, và cũng giữ vững bản sắc độc đáo của Việt Nam, tồn tại, vượt trội lên giữa mọi trào lưu, toàn cầu hóa …?

  5. Trương Nhân Tuấn viết:

    Tôi có một số ý kiến xin được đóng góp.
    Tôi thấy có sự bất đồng ý kiến về « xâm lăng văn hóa » giữa tác giả Nguyễn Mạnh Hùng và anh Tâm Bảo. Tác giả viết:
    « song song với kinh tế là xâm lăng văn hóa qua phim ảnh, sách báo, truyền hình, xây Văn miếu, tượng đài… nhằm đồng hóa: một khi mọi người Việt Nam thấy mình chẳng khác gì người TQ, xâm lăng nào còn là vấn đề nữa đâu. »
    Anh Tâm Bảo phản biện : « về văn hóa tôi cho rằng cần phải tự do tối đa, mở rộng cửa, không chịu bất cứ một sự kiểm duyệt nào của bất cứ ai (kể cả nhà nước lẫn những người tự cho mình là trí thức có trách nhiệm làm bộ lọc văn hóa), không sợ bất cứ một sự xâm lăng nào, vì không ai có thẩm quyền để cho rằng dòng văn hóa này là cao cấp cần du nhập, dòng văn hóa kia là thấp kém cần hạn chế… mà phải để cho văn hóa tuân theo đúng quy luật tiến hóa của tự nhiên: dung nạp, đào thải, thay đổi, thích nghi v.v… »
    Văn hóa hai người đang nói ở đây là một loại hàng hóa (sản phẩm văn hóa), thể hiện qua các hình thức vật chất hay phi vật chất. Dầu muốn dầu không, khi VN đã ký tên vào WTO, không chóng thì chầy cũng phải mở cửa để các loại hàng hóa vật chất và phi vật chất từ các nước nhập vào. Tôi không biết thời hạn còn bao lâu nữa sản phẩm văn hóa của Hoa Kỳ cũng sẽ được quyền tràn ngập ở VN (như văn hóa phẩm của TQ). Thời hạn này tùy thuộc vào một điều ước về kinh tế mà VN đã ký kết với HK (tiếc là tôi không nhớ là bao nhiêu năm). Như thế, nếu xảy ra một cách bình thường, anh Tâm Bảo có ước ao hay không thì việc « tự do tối đa » cũng sẽ đến. Cũng như việc tác giả NMH lo ngại VN bị Hán hóa (hay Mỹ hóa) thì cũng không thể tránh được.
    Một ý kiến khác, tôi rất đồng ý với qui luật tiến hóa tự nhiên (như dung nạp, đào thải, thích nghi…) mà anh Tâm Bảo đưa ra. Văn hóa tự ý nghĩa của nó (hóa= biến đổi, văn =đẹp) là sự biến hóa thường trực (một tình trạng, một phạm trù nghệ thuật, khoa học kỹ thuật…) để tiến đến cái hay (đẹp, tốt…) hơn. Đó cũng là ý nghĩa « hóa » của tiến hóa. Nhưng tôi e ngại là ở VN sự tiến hóa không có qui luật tự nhiên của nó (ít ra trong lúc này). Văn hóa (nói chung) ở VN luôn do sự áp đặt (hay lựa chọn) của một thiểu số cho đại đa số. Tức là qui luật này đã bị méo mó từ đầu do những tác động (chính trị) từ bên ngoài. Ở VN, sản phẩm văn hóa của TQ được ưu tiên nhập cảng so với các mặt hàng văn hóa của các nước khác. Một số văn hóa phẩm từ các nước Tây Âu đến nay vẫn chưa được nhập vào VN, ngoại trừ một số thể loại văn hóa phẩm phi vật chất chuyển tải miển phí (hay piraté) từ mạng internet. Nếu chỉ có một thứ thì không thể có lựa chọn hay so sánh. Vậy làm sao có tiến hóa ? Không có « tiến hóa » nhưng có Hán Hóa. Do đó nguy cơ Hán hóa là có thật, tôi đồng ý với báo động của tác giả NMH. Nhưng điều tồi tệ hơn, dân VN đã không có thẩm quyền lựa chọn mặt hàng đã đành, giới trí thức VN, ở đây đóng vai trò như bộ phận lọc (chỉ ra cái tốt, dung nạp, chuyển hóa cái tôt cho thích hợp, thải bỏ cái xấu), thì không trang bị vũ khí tương đồng như các tác nhân du nhập văn hóa Hán. Một thí dụ : trường hợp cuốn Ma Chiến Hữu của tác giả Mạc Ngôn, gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước một thời gian, là một thí dụ điển hình. (xem http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3591 ). Trường hợp này cho thấy trí thức VN không thể phản biện, không phải vì không có khả năng, mà vì đã bị nhà nước trói tay. Văn hóa phẩm chỉ chảy một chiều từ TQ sang VN. VN không có tác phẩm phản biện tương đương nào phổ biến ngược lại cho dân TQ. VN tiếp nhận văn hóa Hán theo lối « nhồi nhét », với sự tiếp tay của nhà nước.
    Bộ phận lọc không có, dĩ nhiên các chất dơ bẩn tràn vào, văn hóa nước nhà vốn đã mong manh, nay bị ô nhiễm bởi các tạp chất khác, chắc chắn sẽ bị biến thái (theo chiều hướng xấu) và sẽ mai một trong thời gian ngắn.
    Một ý kiến khác về « xâm lăng văn hóa ». Anh Tâm Bảo viết : « Sẽ là tuyệt vời nếu văn hóa phương Tây có thể chinh phục trong cuộc xâm lăng văn hóa Hồi Giáo ở châu Phi. Hoặc nếu như văn hóa châu Phi mà bị xâm lăng bởi văn hóa Trung Quốc thì vẫn cứ tốt hơn là giữ nguyên trạng như hiện nay ».
    Theo tôi, văn hóa ở đây là văn hóa ở mức độ “văn minh », hiểu theo ý nghĩa « văn minh » của Samuel P. Huntington trong cuốn “Sự đụng độ của các nền văn minh”.
    Theo tôi, văn hóa không thể đơn thuần « xâm lăng » rồi đồng hóa được, nhất là với một nền văn minh lớn như Hồi giáo hay Khổng Giáo.
    (Theo Samuel P. Huntington, nhân loại hiện có khoảng bảy (hoặc tám) nền văn minh lớn (chia làm hai nhóm chính), ở đây chỉ nói các nền văn minh quan trọng : nhóm 1 gồm Tây Phương tức Thiên chúa giáo (địa bàn Địa Trung Hải), Hồi Giáo (Bắc Phi, Trung Đông), Chính thống giáo (Orthodoxe). Nhóm 2 : Khổng giáo, Nhật Bản, Ấn Độ giáo. Theo ông này thì trong tương lai sẽ có những sự đụng độ ở vùng trên đường phân cách các nền văn minh này.)
    Tôi nghĩ rằng cuộc chiến chống khủng bố hiện nay của HK (có người nói bắt nguồn từ thuyết Huntington) sẽ không « tuyệt vời », nói như anh Tâm Bảo (văn hóa phương Tây có thể chinh phục trong cuộc xâm lăng văn hóa Hồi Giáo ở châu Phi). Bất cẩn thì nó sẽ trở thành một thánh chiến !
    Thử làm một so sánh : quân Al Qaida chỉ khoảng 20.000 tên, trang bị vũ khí thô sơ, không có hậu phương, không quốc gia nào dám chứa chấp và phải sống chui nhũi trong núi. Bên liên quân hiện nay gồm HK và các nước khoảng 200.000 người (nếu tôi không lầm) với vật dụng và vũ khí có thể nói là vô hạn. Chiến trường Afghanistan vậy mà không bình định được. Nói chi đến một cuộc « thánh chiến » !
    (Tôi hiểu anh Tâm Bảo nói ở đây là để chơi vui. Tôi góp ý sơ lược vậy thôi. Tôi thấy anh có những phản biện rất dặc sắc, trên mọi lãnh vực, có kiến thức rộng. Tôi rất khâm phục.)
    Nhưng việc xây « 70 cái văn miếu thờ Khổng Phu tử trên thế giới » mà tác giả NMH có ghi lại, theo tôi là việc cần bàn thêm. Tác giả NMH viết : « Nhà nước TQ đã cho xây khoảng 70 cái văn miếu thờ Khổng Phu tử trên thế giới, định tạo thị trường văn hóa cho chính sách ổn định để phát triển, với tầm ngắm chính là Châu Phi còn nhiều tài nguyên, nhưng ta sẽ nói chuyện này sau. » hết trích.
    Tôi không nghĩ đây là một hành động nhằm « tạo thị trường văn hóa » mặc dầu hành động « xây khoảng 70 cái văn miếu thờ Khổng Phu tử » có mục tiêu « văn hóa ». Đơn giản vì « 70 cái văn miếu thờ Khổng Phu tử » không phải là sản phẩm văn hóa (mua bán) mặc dầu viễn cảnh Châu Phi nhiều tài nguyên. Theo tôi nghĩ thì đây là một đầu tư chính trị.
    Tác giả NMH viết : « Dù có lập 70 Văn miếu thờ Đức Khổng ở nhiều nơi trên trái đất, và mặc dầu không có ác cảm gì với nhà tư tưởng này, tôi vẫn tự thấy mình quả rất lố bịch khi tưởng tượng ra một thanh niên da đen xì xụp lạy Ngài, miệng lặp đi lặp lại quân, sư, phụ… như thứ bùa chú để giữ ổn định cho những vị lãnh đạo Châu Phi. Việc đi xây Văn miếu này chứng tỏ những nhà lãnh đạo TQ đang bế tắc trong sự tìm kiếm một mô hình văn hóa có giá trị phổ quát toàn cầu ở ngưỡng cửa thế kỷ 21 này. » hết trích.
    Tôi nghĩ là vấn đề này cần nhiều bàn luận. Tôi chỉ đưa ra vài ý kiến thô thiển.
    Tôi thấy hiện nay Khổng giáo, ở ngay tại TQ, cũng không hề tồn tại quan hệ « quân, sư, phụ… » với trạng thái nguyên thủy như ngày xưa.
    Văn minh Trung Quốc qua nhiều thế kỷ đã chứng minh tính sinh động của nó với khả năng tự điều chỉnh để tồn tại đồng thời chuyển hóa (hay đồng hóa) bền bỉ và hiệu quả các nền văn minh khác. Không một dân tộc nào, kể cả những dân dộc đã chinh phục và cai trị TQ, sau khi tiếp xúc lâu dài với TQ lại không bị nền văn minh này đồng hóa. Các nền văn minh của Mãn Châu, Mông Cổ… dường như hòa tan hoàn toàn trong văn hóa Hán, không còn để lại dấu vết nào. Phật giáo từ Ấn Độ vào TQ không còn là Phật giáo nguyên thủy. Gần đây nhất, chủ nghĩa cộng sản, khi truyền vào TQ, vào thời kỳ Mao (hay hậu Mao), chủ nghĩa này mang bản sắc TQ hơn là ý nghĩa nguyên thủy của CS. Hiện nay, chủ nghĩa này đã chuyển hóa rất nhiều (Hán hóa). Bề mặt là chủ nghĩa xã hội theo bản sắc Trung Hoa, nhưng thực chất có thể gọi đó là chủ nghĩa tư bản trên nền tảng Khổng giáo. Nên hiểu Khổng giáo ở đây như là một « ý thức hệ chính trị » với những giá trị cơ bản nhằm vào việc « quốc thái dân an ». Quan hệ xã hội tam cương (quân, sư, phụ), ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) cho đàn ông, tam tòng, tứ đức cho đàn bà, dĩ nhiên không còn sâu sắc, nhưng cái cốt lõi vẫn còn, đủ để một chế độ độc tài ngự trị lâu dài.
    TQ xây dựng chủ nghĩa tư bản trên ý thức hệ chính trị « Khổng giáo » như thế, với những thành quả kinh tế gây nhiều ghanh tị nơi các nước dân chủ tiên tiến. VN cóp py nguyên bản kiểu mẫu phát triển này, khá thành công. Như thế, nhiều khả năng cho thấy kiểu mẫu này sẽ được các nước độc tài (Châu Phi) khác học theo, chắc chắn sẽ không gọi là kinh tế thị trường (hay chủ nghĩa xã hội) mang màu sác Khổng giáo mà sẽ là một nền kinh tế x với bản sắc z.
    Tôi thấy Trung Quốc rất sâu sắc về chính trị. « Những quốc gia có cùng văn hóa sẽ hợp tác với nhau về kinh tế và chính trị ». Đây là lời của Huntington. TQ sẽ giúp cho nhiều quốc gia khác, Châu Phi chẳng hạn, để nhiều nền văn hóa tương đồng. Nên nhớ hầu hết các nước Nam và Trung Phi đều không có bản sắc văn hóa mạnh, rất dễ ngã theo một nền văn hóa sinh động, như Khổng giáo (nên hiểu như là một ý thức hệ hơn là một tôn giáo).
    Về góp ý của anh Đỗ Ca Hát cũng cho thấy TQ có ảnh hưởng nhứt định ở các xứ Châu Phi. Anh cũng đưa ra một số dữ kiện và so sánh về việc đất đai. Anh viết :
    « Đây cũng không phải chỉ có mình Trung Quốc. Hàn Quốc năm ngoái đã có dự án (bất thành) thuê trong 99 năm một nửa diện tích trồng trọt của Madagascar và trở thành quốc gia đứng đầu trong việc “chiếm” đất nước ngoài http://www.lemonde.fr/planete/infographie/2009/04/14/quatre-pays-a-l-origine-des-acquisitions-les-plus-importantes-de-terres-agricoles_1180639_3244.html. Cạnh bên ta, Kuwait và Qatar đang tích cực đầu tư vào đất nông nghiệp của Cam Bốt. Tin vui là chẳng kém ai, Việt Nam ta cũng nắm 100.000 héc ta (1.000 cây số vuông) cao su của Lào!
    Điều cần phân biệt ở đây, các nước Kuwait, Qatar, Đại Hàn, Việt Nam đều có điểm chung : sử dụng đất để khai thác kinh tế. Hết thời hạn hợp đồng, đất này phải trả lại. Nhưng mục tiêu của TQ là để giải quyết nạn nhân mãn. Việc này về lâu về dài, người TQ này càng qua đông, chiếm đa số (như hiện nay tại một số tỉnh thành ở Tân Cương, Tây Tạng), người dân bản xứ trở thành thiểu số ngay trên đất của mình. Như vậy là mất nước về tay TQ.
    Theo tôi, TQ có tầm nhìn chiến lược. Đánh giá thấp TQ là một sai lầm lớn.

  6. Hưng Quốc viết:

    Sáng nay có thời gian đọc kỹ lại phản hồi qua lại giữa Nguyễn Tâm Bảo và Nguyễn Mạnh Hùng. Thật “chán mớ đời” khi những phản hồi kiểu wiki, google liên tục được mang vào talawas không thèm trích dẫn (ít ra phải đánh bóng nó một chút chứ). Tuy ông Nguyễn Mạnh Hùng chỉ “nhắc khéo”, giữ lịch sự của chủ nhà, nhưng tôi thì không khéo được. Tôi rất “ớn” thói “đạo văn” (plagiarism). Cũng “may” talawas là diễn đàn tiếng Việt và hiện chưa có phần mềm phát hiện plagiarism tiếng Việt nên nó cứ lộng hành ngang nhiên thế này.

    Bác Hoàng Trường Sa,
    Câu kết đó tôi “mượn” của cụ Nguyễn Xuân Khánh, và ẩn ý của cụ ra sao thì tôi cũng “cảm” theo như thế. Tiểu thuyết của cụ là những lời kêu gọi thức tỉnh dân tộc được viết bằng cả con tim. Theo cảm nhận của tôi thì nó có đôi chút “negative” nhưng không vì thế mà mất đi sự cảnh tỉnh (yêu thì cho roi cho vọt). Còn gì để nói rõ nữa hả bác Hoàng Trường Sa?

  7. Hoàng Trường Sa viết:

    “Về phần Việt Nam, tôi ghi nhận tâm huyết của ông Nguyễn Mạnh Hùng. Chỉ tiếc là ông… còn “lạc quan” hơi quá về các “anh em xa”. Phải nhìn nhận, Việt Nam không có “anh em con bác chú gì” gì ở đây. Nếu “nước trong leo lẻo cá đớp cá” thì không có lý gì mà “trời nắng chang chang người “yêu” người” cả. Theo tôi Việt Nam sẽ có một cái kết theo đúng cái “vị trí mà họ xứng đáng”. (Trích ý kiến bác Hưng Quốc)

    Ý kiến này của bác Hưng Quốc, theo tôi, rất hay. Ví von cũng rất tuyệt vời. Có điều tôi vẫn chưa cảm nhận được bác Hưng Quốc muốn nói gì trong câu chót rằng “VN sẽ có một cái kết đúng với “vị trí mà họ xứng đáng” . Bác có thể nói rõ hơn chút xíu hay không ? Bởi vì, tình cảnh VN hiện nay, theo nhận định của tôi, khá bi đát mà trước mắt chưa thấy viễn tượng khả quan hơn. Nếu cứ theo cái đà này thì “vị trí VN xứng đáng” là gì nếu không phải là cảnh “cá bé bị cá lớn đớp” ?

  8. Hưng Quốc viết:

    Một bài phân tích hay, kỳ công và tỉ mỉ. Nhưng đúng như Nguyễn Tâm Bảo có nhận xét, bài viết nhấn mạnh nhiều về mặt “negative” hơn là “positive” của Trung Quốc (tuy theo tôi thì chỉ có “negative” và “còn lại”).

    Có một câu của tay quan cai “mẫu quốc” trong truyện “Mẫu thượng ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh mà tôi vẫn nhớ: “Có những dân tộc sinh ra trên trái đất này để thống trị, và cũng có những dân tộc sinh ra để bị trị. Lịch sử là cuộc vật lộn khốc liệt giữa các dân tộc. Dân tộc nào yếu hèn, dân tộc ấy sẽ phải ở vị trí mà họ xứng đáng. Lịch sử loài người mãi mãi như vậy” . Vâng, lịch sử chưa lần nào nói dối chúng ta.
    Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng nói: “TQ nay lộ hình bành trướng bá quyền, đi ngược lại hầu hết những giá trị nhân loại đã, và đang tiến tới, một đồng thuận” . Trí nhớ tôi có tồi nhưng cũng có thể nhận ra câu này rất quen, có lẽ người ta đã nói từ rất lâu rồi. Đây là một câu đầy tổn thương, yếm thế của những dân tộc bị áp chế như Phi Châu, như Việt Nam, như Cam-bốt… Nó kêu gọi sự cao thượng, tính thương người hay cả sự thương hại của những kẻ đi thống trị. Thật đáng tiếc là những đặc tính đó chỉ xảy ra ở những cá nhân nhỏ lẻ. Phương án “đớp” gọn Phi Châu chỉ là bước thứ “n” trong quá trình thống trị thế giới của gã “khổng lồ quê kệch”, sau đó sẽ còn bước thứ (n+1). Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản hiện cũng đang lo sốt vó về những khó khăn hiện tại của mình, còn hơi đâu mà lo đến “những giá trị nhân loại đã, và đang tiến tới, một đồng thuận”. Và cái “lo” đó càng lúc càng “muộn”, rồi sẽ đến lúc nào đó chỉ còn là cơn mê sảng giữa ban ngày thôi (có lẽ nó đã xảy đến ở một vài nơi rồi). Trong khi Trung Quốc vẫn trước sau như một, nhẹ nhàng, mềm dẻo có, mà mạnh bạo cương quyết cũng không từ lan tỏa khắp địa cầu. Đó là một thứ diệu pháp của môn “Thái Cực Quyền”, một đặc sản tinh túy của Trung Quốc.

    Trung Quốc là một chủ nợ lớn của Mỹ nhưng chủ nợ và con nợ lại liên quan đến sinh mệnh của nhau, anh này hắt xì hơi thì anh kia cũng phải sổ mũi. Cũng như trong kinh doanh, chuyện nợ nần là chuyện không tránh khỏi, nợ vẫn nợ mà hàng bán vẫn cứ phải bán. Tôi vẫn nhớ trong một phản hồi cách đây khá lâu của ông Đỗ Kh. Đại ý có nói, nếu không có Trung Quốc thì anh Mỹ không có cái quần đùi mà mặc. Đây là một lối ví von không có gì là quá đáng, các sản phẩm của Trung Quốc thống trị thị trường tiêu dùng Mỹ, không cần nhìn đâu xa, từ quần áo, các thiết bị giáo dục, đồ trang trí nội thất, đến cái nắp cống, cả lá cờ con con của Hội các cựu chiến binh Mỹ phát miễn phí cho bà con nhân ngày Quốc khánh Mỹ… tuốt lượt đều có một dòng khá quen mắt “Made in China”, vâng tất nhiên trường hợp nắp cống thì khắc chữ nổi đàng hoàng. Một bạn hàng vàng như vậy thì chắc chắn Trung Quốc cũng không dám khó dễ trong thời điểm hiện tại, nhưng biết đâu đấy một ngày kia Trung Quốc đổi kiểu chơi, sang kiểu bất bình thường thì sẽ ra sao? Với tầm nhìn của tôi thì thật khó hình dung.

    Về phần Việt Nam, tôi ghi nhận tâm huyết của ông Nguyễn Mạnh Hùng. Chỉ tiếc là ông… còn “lạc quan” hơi quá về các “anh em xa”. Phải nhìn nhận, Việt Nam không có “anh em con bác chú gì” gì ở đây. Nếu “nước trong leo lẻo cá đớp cá” thì không có lý gì mà “trời nắng chang chang người “yêu” người” cả. Theo tôi Việt Nam sẽ có một cái kết theo đúng cái “vị trí mà họ xứng đáng”.

  9. Nguyễn Mạnh Hùng viết:

    Trước hết, cám ơn đã đọc kỹ bài tôi viết, nhưng tôi xin góp ý và đáp lời phản biện của ông Nguyễn Tâm Bảo (may, không có n/q 97 cấm tôi phản biện phản biện, tội gấp 2) :

    1- Ông NTB viết :

    ‘’Tỷ lệ tăng trưởng GDP quả thật không phản ánh đầy đủ sự phát triển của một quốc gia, nhưng vẫn là một chỉ số quan trọng nhất. Nếu kinh tế không tăng trưởng nhanh thì không có cách nào tích lũy tư bản để hiện đại hóa nền kinh tế, sẽ không thể giảm tỷ lệ nghèo và không thể giải quyết được các vấn đề an sinh xã hội.’’

    Kể chuyện vui, phỏng theo J.M. Keynes : nước có một người, đào 1 cái hố mỗi ngày được1 đồng. Hôm sau, lấp cái hố đó, cũng được trả 1 đồng. Chàng Sisyphe tân thời rất Keynesian này cứ thế, đào xong lại lấp hố. Năm đó, đóng góp của chàng vào GDP là 365 đồng. Năm sau, chàng quen tay nghề, năng xuất lao động tăng, mỗi ngày đào 2 cái hố. Ngày sau, chàng lấp 2 hố, và đóng góp của chàng vào GDP là 730 đồng. Tăng trưởng GDP do lao động của Sisyphe là 100%, nhưng chẳng tạo ra được của cải vật chất nào cả! Nhưng ai trả lương cho Sisyphe? Theo thần thoại Hy Lạp, có ông Trời, ông ấy thừa quyền năng làm chuyện ấy. Thế ra, hình phạt thời nay là cho tiền để Sisyphe đào và lấp hố, độ tăng trưởng GDP 100%, và không tăng trưởng nhanh thì…cũng thế thôi, cứ đào hố và lấp hố, từ bây giờ cho đến thiên thu!

    2- Ông NTB viết :

    ‘’Chỉ số Gini thực ra cũng không phản ánh chính xác sự bất bình đẳng xã hội, vì sử dụng nominal income chứ không phải là purchasing power, nên thường cao hơn ở các nước đang phát triển nơi mà thực ra hàng hóa tiêu dùng thường rẻ hơn’’ ?????

    Dấu hỏi là tôi ghi thêm, và thấy ông NTB dùng tiếng Anh ( nominal income, purchasing power), tôi nghĩ nên trích từ

    http://en.wikipedia.org/wiki/Gini_coefficient

    For a large, economically diverse country, a much higher coefficient will be calculated for the country as a whole than will be calculated for each of its regions. (The coefficient is usually applied to measurable nominal income rather than local purchasing power, tending to increase the calculated coefficient across larger areas.)

    Và dịch thì tôi sẽ dịch …’’ vì sử dụng nominal income chứ không phải purchasing power, nên (chỉ số Gini) có khuynh hướng gia tăng khi tính toán cho những khu vực rộng hơn ‘’ . Nói kỹ, đây là điểm cân lưu ý khi tính toán cho một nến kinh tế đa khu vực đa vùng ( theo đúng ý mệnh đề tiếng Anh đi trước hai ngoặc ( ) ). Nhưng NTB đúng ở khía cạnh Gini không phản ánh chính xác sự bất bình đẳng xã hội. Nó chỉ phản ánh bất bình đẳng về thu nhập (hàng năm). Bất bình đẳng ở hình thức tài sản tích tụ ( accumulated wealth) còn ghê gớm hơn nhiều. Và Gini cho một cách nhìn so sánh. Nếu Gini của Mỹ lớn hơn Gini TQ, điều chăc chắn là phân bố thu nhập bình quân của Mỹ bất bình đẳng hơn ở TQ. Và ngược lại. Thế thôi.

    3- Ông NTB tiếp :

    ‘’ Hơn nữa chỉ số Gini cao cũng chưa chắc đã phản ánh những nguy cơ bất ổn xã hội. Theo biểu đồ của Liên Hiệp Quốc thì Trung Quốc và Hoa Kỳ có chỉ số Gini gần tương đương, đều nằm trong vùng màu tím than: Gini trong khoảng 4.5 đến 4.9.’’

    Tôi xin giới thiệu :

    http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_income_equality trong đó LHQ xếp hạng những nước theo chỉ số Gini : Đầu bảng bất bình đẳng là Nambia, với chỉ số 74.3. Đến hạng 32, là TQ với chỉ số 46.9 ( năm 2004). Sau chiến tranh lạnh, độ bât bình đẳng ở Mỹ tăng, và Mỹ đứng thứ 54, với chỉ số 40.8 (năm 2007). Ba nước có chỉ số Gini thấp nhất, tức tương đối có mức phân bố bình đẳng nhất là Đan Mạch, Nhật, và Thụy Điển, ở mức 30-35 . Phân chia ra 3 nhóm, nhóm 1 với chỉ số Gini 30-45, nhóm 2 với 45-60, và nhóm 3 với Gini lớn hơn 60 thì TQ thuộc nhóm 2, không thể nào bảo gần tương đương với Mỹ, ‘’ đều nằm trong vùng màu tím than’’

    Còn như ‘’…Gini cao cũng chưa chắc đã phàn ánh những nguy cơ bất ổn xã hội ‘’ như ông NTB viết thì thế nào? Ở Zimbabwe, chỉ số đó là 50.1, cao hơn chỉ số TQ một chút, nhưng ai hó hé là được lực lượng an ninh thăm hỏi ngay. Xã hội không ai dám làm gì, rất ổn định đấy chứ. Nhưng có một hiện tượng khác : số thanh thiếu niên tự tử cao gấp 3-4 lần những nước láng giềng, và cao gấn đâu đó 10 lần tỉ lệ tự tử ở những nước Âu Châu! Nằm trong lòng đất, hẳn rất ‘’ổn định’’, dĩ nhiên. Nhưng rất khó ‘’phát triển’’ !

    4- Ông NTB rất chí tình, viết : ‘’ Bài viết của tác giả, một giáo sư kinh tế, thật nhiều thông tin bổ ích cùng những kiến giải sâu sắc. Tuy nhiên tôi vẫn cảm thấy tác giả nhấn mạnh nhiều về phần “negative” của Trung Quốc hơn là “positive”. Tôi cho là như vậy sẽ không thực sự khách quan trong việc trả lời câu hỏi: sự lớn mạnh của Trung Quốc đem lại cơ hội gì và đe dọa gì đối với Việt Nam?’’

    Nhưng xin thưa với ông là tôi có cố gắng tìm những điều tích cực của TQ và thành tâm mong mỏi TQ mang lại cơ hội tốt cho Việt Nam phát triển (dẫu cho ổn định một thời đoạn là cái giá phải trả). Nhưng thật vô phương, với những vụ cưóp bóc sát hại ngư dân, bauxite Tây Nguyên, than lòng sông Hồng, thủy điện rồi nay rấp ranh điện hạt nhân…Kính mong ông NTB khách quan mang đến chúng ta những điều ông gọi là positive để những người như tôi được phép lạc quan mà không tếu.

    5- Để kết, ông NTB đề cập đến văn hóa, và có ý cho rằng tôi ‘’hơi bị’’ bảo thủ mà chủ trương khép kín văn hoá. Tôi nào có nói gì để ông hiểu thế nhỉ. Mang dáng tiến bộ, ông khẳng khái : ‘’Người Việt có quyền hưởng thụ những giá trị văn minh khoa học cũng như những giá trị văn hóa khai phóng. Họ cũng có quyền xem phim… khiêu dâm của Mỹ cũng như phim truyền hình Trung Quốc, Hàn Quốc… có như vậy thì đời sống văn hóa mới thật phong phú.’’ . Xin ông cứ lên báo mạng CAND xem những vụ con giết cha, vợ chém chồng, hàng xóm đánh thuốc độc lân bang…thì ông sẽ thấy cái văn hóa tốt đẹp đang biến dần, thay thế bằng loại hình hiện đại mà chỉ những phương tiện truyền thông như phim …khiêu dâm Mỹ, và… Thôi, tôi chẳng cần nói thêm vì câu kết của ông mới thật kinh hoàng :
    Không những chúng ta không nên sợ “sự xâm lăng văn hóa” mà còn phải kêu gọi để các nền văn hóa lớn hơn tích cực xâm lăng những nền văn hóa nhỏ. Sẽ là tuyệt vời nếu văn hóa phương Tây có thể chinh phục trong cuộc xâm lăng văn hóa Hồi Giáo ở châu Phi. Hoặc nếu như văn hóa châu Phi mà bị xâm lăng bởi văn hóa Trung Quốc thì vẫn cứ tốt hơn là giữ nguyên trạng như hiện nay’’

    Bạn ĐKh. đã nhẩn nha hỏi ông 1 câu khá hóc buá, “Thử đặt câu hỏi ngược, nếu văn hoá châu Phi xâm lăng Trung Quốc thì có tốt hơn là giữ nguyên trạng hiện nay không?” (Đỗ Kh.) và lần này, ông thành khẩn, đáp : Có lẽ tôi hơi thiên vị, vì tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nếu các chàng da đen đọc kiếm hiệp và luyện thư pháp, hơn là thấy thanh niên Tàu ngày năm lần xì xụp lạy Allah hoặc hô to Allahu Akbar bằng tiếng Hán trên đường hành quân… xuống phía Nam.

    Lần này, xin phép no comment!!!

    1.

  10. Đỗ Kh. viết:

    Khi nói đến văn hoá châu Phi, tôi không nghĩ đến Hồi giáo như Nguyễn Tâm Bảo. Người Hồi ở lục địa này chiếm 45% và là tôn giáo hàng đầu (Ki tô 40%) nhưng nếu khấu trừ khu vực Bắc Phi từ Sudan, Ai Cập đến Mauritania thì số người Hồi ở phía Nam Sahara chỉ còn có 250 triệu tức là 30% dân số và Ki tô giáo trở thành tôn giáo (“văn hoá”) chính.

    Thế nào thì cũng không thể thu hẹp văn hoá châu Phi vào lãnh vực Hồi giáo, cũng như không thu hẹp được văn hóa châu Nam Mỹ vào Ki tô giáo, chủ nhật nào cũng mặc đồ đẹp đi nhà thờ và thánh đường khi chiều xuống vang những hồi chuông.

    Ước mong của Nguyễn Tâm Bảo, “Sẽ là tuyệt vời nếu văn hóa phương Tây có thể chinh phục trong cuộc xâm lăng văn hóa Hồi Giáo ở châu Phi” thì đã có từ nhiều thế kỷ và thành công… trên cả tuyệt vời.

    “Nguyên trạng” của châu Phi hiện nay mà ông nói đến, có phần nào nhờ vào sự chinh phục này hay không?

    Một chi tiết, người Hồi khắp thế giới, khi cầu kinh là bằng tiếng Ảrạp. Người Hán hay người Pakistan đạo Hồi cũng đều hô “Allahu Akbar”, kiểu như “Ave Maria” tại đám cưới Việt Nam hay Philippines thì cũng là La Tinh hết ấy mà.

    Nhưng Nguyễn Tâm Bảo nói đúng, không có Lệnh Hồ Ahmad Bey nào hết!

  11. Nguyễn Tâm Bảo viết:

    “Thử đặt câu hỏi ngược, nếu văn hoá châu Phi xâm lăng Trung Quốc thì có tốt hơn là giữ nguyên trạng hiện nay không?” (Đỗ Kh.)

    Có lẽ tôi hơi thiên vị, vì tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nếu các chàng da đen đọc kiếm hiệp và luyện thư pháp, hơn là thấy thanh niên Tàu ngày năm lần xì xụp lạy Allah hoặc hô to Allahu Akbar bằng tiếng Hán trên đường hành quân… xuống phía Nam.

  12. Đỗ Kh. viết:

    Xin cám ơn anh Nguyễn Mạnh Hùng về bài viết này. Bài viết rất rộng, đây chỉ xin nói leo về một vấn đề anh đã lưu tâm đặc biệt và có đoạn in đậm, là ảnh hưởng đang tăng trưởng của Trung Quốc tại Châu Phi.

    Đây là một hiện tượng mới nhưng nhất định, khiến có bộ trưởng Angola phát biểu là số dân Trung Quốc tại nước ông đã lên ba triệu người! Angola có 12 triệu dân và con số lăng nhăng này của ông bộ trưởng cho thấy vấn đề được dư luận quan tâm đến thế nào (số người Trung Quốc tại Angola khoảng 60.000-80.000). Đằng nào thì cũng đã có đường bay hàng không TAAG thẳng từ Bắc Kinh đến Luanda một tuần hai bận, khứ hồi là 7600 Nhân dân tệ và từ Dalian, Liaoning có thể gửi thẳng kiện hàng, xin liên hệ với cô Nancy Sun http://china-freight.en.alibaba.com/contactinfo.html?mseq=6724388. Chuyện 15 tiếng này như thần tiên, mười năm trước từ Bắc Kinh đi Luanda như đường vào đất Thục, đổi tàu và qua đêm nào Hương Cảng, nào London, Lisboa.

    Minh họa quan hệ mới này là tại nhà hàng China Palace gì đó tại Addis Ababa, các cô phục vụ người Amhara mặc áo sường sám đỏ xẻ cao đùi nhưng tại nhà hàng Kilimanjaro ở Bắc Kinh các cô phục vụ người Hán, tuy chân cũng có dài nhưng lại không ngực trần như phụ nữ Masai. Trao đổi Trung Quốc với Châu Phi là một trao đổi bất quân bình.

    Đây cũng không phải chỉ có mình Trung Quốc. Hàn Quốc năm ngoái đã có dự án (bất thành) thuê trong 99 năm một nửa diện tích trồng trọt của Madagascar và trở thành quốc gia đứng đầu trong việc “chiếm” đất nước ngoài http://www.lemonde.fr/planete/infographie/2009/04/14/quatre-pays-a-l-origine-des-acquisitions-les-plus-importantes-de-terres-agricoles_1180639_3244.html. Cạnh bên ta, Kuwait và Qatar đang tích cực đầu tư vào đất nông nghiệp của Cam Bốt. Tin vui là chẳng kém ai, Việt Nam ta cũng nắm 100.000 héc ta (1.000 cây số vuông) cao su của Lào!

    @ Nguyễn Tâm Bảo

    “Hoặc nếu như văn hóa châu Phi mà bị xâm lăng bởi văn hóa Trung Quốc thì vẫn cứ tốt hơn là giữ nguyên trạng như hiện nay.”

    Ở đây là chuyện văn hoá thì phải, không phải là chuyện GDP, HDI, Gini Index. Thử đặt câu hỏi ngược, nếu văn hoá châu Phi xâm lăng Trung Quốc thì có tốt hơn là giữ nguyên trạng hiện nay không?

    Về việc này, phần tôi xin nhắc lại phát biểu của Mao Chủ tịch, “ Pháo đả Tư lịnh Bộ!”

  13. anhbalap viết:

    Kinh tế, chính trị, văn hóa… VN đã lệ thuộc vào TQ, Tập đoàn Hà Nội bị Bắc Kinh xỏ mũi dắt đi từ lâu, muốn test dễ ẹc, cứ ra đường la to đả đảo Trung Quốc, Hoàng sa Trường sa là của VN, lập tức bị bắt giam vô thời hạn.

  14. do quang nam viết:

    Một bài viết có khả năng làm “sáng mắt sáng lòng” người đọc. Mong trên talawas còn nhiều bài như thế.

  15. Nguyễn Tâm Bảo viết:

    “Nhưng GDP là – nói cường điệu – một ảo tưởng. GDP không cho thông tin gì về sự huỷ hoại môi trường, về chỉ số an sinh xã hội…” (Trích)

    Tỷ lệ tăng trưởng GDP quả thật không phản ánh đầy đủ sự phát triển của một quốc gia, nhưng vẫn là một chỉ số quan trọng nhất. Nếu kinh tế không tăng trưởng nhanh thì không có cách nào tích lũy tư bản để hiện đại hóa nền kinh tế, sẽ không thể giảm tỷ lệ nghèo và không thể giải quyết được các vấn đề an sinh xã hội.

    Tất cả các nước phát triển hiện nay đều đã trải qua quá trình tăng trưởng kinh tế rất nhanh, trên 10%, và cũng phải chịu hậu quả nặng nề với sự tàn phá môi trường và bất bình đẳng xã hội. Những hậu quả của “climate changes” ngày nay đâu phải là do sự tăng trưởng của Trung Quốc và các nước đang phát triển? Đó là hậu quá của quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của phương Tây và Hoa Kỳ. Tất cả các nước giàu có đều nhờ vào việc sử dụng nguồn năng lượng trầm tích rẻ mạt (than đá và dầu khí), do đó sự giàu có của một quốc gia nói chung là tỷ lệ thuận với sự hủy hoại môi trường toàn cầu do quốc gia đó gây ra.

    “Gini đo tính bất bình đẳng phân bố lợi tức ở TQ là 46.9, tức thuộc lớp những quốc gia mấp mé mức có vấn đề ở châu Phi và dăm nước châu Mỹ Latinh.” (Trích)

    Chỉ số Gini thực ra cũng không phản ánh chính xác sự bất bình đẳng xã hội, vì sử dụng nominal income chứ không phải là purchasing power, nên thường cao hơn ở các nước đang phát triển nơi mà thực ra hàng hóa tiêu dùng thường rẻ hơn. Hơn nữa chỉ số Gini cao cũng chưa chắc đã phản ánh những nguy cơ bất ổn xã hội. Theo biểu đồ của Liên Hiệp Quốc thì Trung Quốc và Hoa Kỳ có chỉ số Gini gần tương đương, đều nằm trong vùng màu tím than: Gini trong khoảng 4.5 đến 4.9.

    Có lẽ nên dùng chỉ số phát triển con người (human development index – HDI) kèm theo với tăng trưởng GDP để đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Nếu vậy thì bức tranh của Trung Quốc lại không u ám lắm: HDI của Trung Quốc ở vùng màu vàng nhạt, từ 0.750 đến 0.799, hơn xa các quốc gia ở châu Phi (đa số dưới 0.450 trừ mấy nước bắc Phi), hơn Ấn Độ và kém hơn các nước Mỹ la tinh một chút.

    Bài viết của tác giả, một giáo sư kinh tế, thật nhiều thông tin bổ ích cùng những kiến giải sâu sắc. Tuy nhiên tôi vẫn cảm thấy tác giả nhấn mạnh nhiều về phần “negative” của Trung Quốc hơn là “positive”. Tôi cho là như vậy sẽ không thực sự khách quan trong việc trả lời câu hỏi: sự lớn mạnh của Trung Quốc đem lại cơ hội gì và đe dọa gì đối với Việt Nam?

    Hình ảnh con voi (bằng giấy) với ba chân đất sét và một chân gỗ có lẽ không chính xác đối với Trung Quốc, có vẻ “underestimate” họ. Điều này e là sẽ gây ra tinh thần “lạc quan tếu” với những người đang chỉ trích sự hèn nhát của đảng cộng sản VN trước Trung Quốc: đánh giá quá cao họ sẽ gây ra tâm lý e sợ, qui phục; đánh giá quá thấp họ sẽ dẫn đếm nhầm lẫn chủ quan trong việc việc cư xử thế nào cho thích hợp.

    Tôi đồng ý với tác giả về nguy cơ của việc “xâm lăng về kinh tế”. Nhưng tôi nghĩ có lẽ tác giả hơi cường điệu khi nói đến “xâm lăng văn hóa”. Xâm lăng kinh tế thì có thể hiểu được, khi một quốc gia dùng sức mạnh kinh tế của mình để chi phối và khống chế nền kinh tế của quốc gia khác. Nhưng vấn đề văn hóa thì không giống như kinh tế, nhất là trong thời đại toàn cầu khi mà nhu cầu văn hóa của người dân không chịu sự bó hẹp của “những giá trị văn hóa truyền thống” nữa, mà luôn khao khát những gì mới lạ từ bên ngoài.

    Tôi chẳng thấy có gì đáng lo ngại khi người Việt trung niên ham xem phim truyền hình Trung Quốc, hay các bạn trẻ Việt đang mê mải với Hip-hop của văn hóa Mỹ.

    Về kinh tế, tôi không tin vào chủ thuyết tân tự do mà vẫn tin rằng các quốc gia cần có sự cân bằng giữa tự do mậu dịch đồng thời với những chính sách bảo hộ cần thiết để bảo vệ nền công nghiệp non trẻ, cũng như chống lại sự xâm lăng bằng thương mại.

    Ngược lại, về văn hóa tôi cho rằng cần phải tự do tối đa, mở rộng cửa, không chịu bất cứ một sự kiểm duyệt nào của bất cứ ai (kể cả nhà nước lẫn những người tự cho mình là trí thức có trách nhiệm làm bộ lọc văn hóa), không sợ bất cứ một sự xâm lăng nào, vì không ai có thẩm quyền để cho rằng dòng văn hóa này là cao cấp cần du nhập, dòng văn hóa kia là thấp kém cần hạn chế… mà phải để cho văn hóa tuân theo đúng quy luật tiến hóa của tự nhiên: dung nạp, đào thải, thay đổi, thích nghi v.v… Người Việt có quyền hưởng thụ những giá trị văn minh khoa học cũng như những giá trị văn hóa khai phóng. Họ cũng có quyền xem phim… khiêu dâm của Mỹ cũng như phim truyền hình Trung Quốc, Hàn Quốc… có như vậy thì đời sống văn hóa mới thật phong phú.

    Không những chúng ta không nên sợ “sự xâm lăng văn hóa” mà còn phải kêu gọi để các nền văn hóa lớn hơn tích cực xâm lăng những nền văn hóa nhỏ. Sẽ là tuyệt vời nếu văn hóa phương Tây có thể chinh phục trong cuộc xâm lăng văn hóa Hồi Giáo ở châu Phi. Hoặc nếu như văn hóa châu Phi mà bị xâm lăng bởi văn hóa Trung Quốc thì vẫn cứ tốt hơn là giữ nguyên trạng như hiện nay.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>