talawas blog

Chuyên mục:

Trần Gia Phụng – Diễn tiến biến động miền Trung

15/11/2009 | 7:00 sáng | 23 Comments

Tác giả: Trần Gia Phụng

Category: Chiến tranh Việt Nam, Lịch sử
Thẻ:

Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1-11-1963, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ngày 26-10-1956 bị bãi bỏ. Không có luật căn bản quốc gia, các tướng lãnh tự do tranh giành quyền hành, liên tiếp gây nhiều binh biến, khiến cho tình hình VNCH không ngừng bị xáo trộn. Trong hoàn cảnh đó, một biến động chính trị rộng lớn bùng nổ cả ở Sài Gòn lẫn các tỉnh miền Bắc VNCH, mà trước khi đất nước bị phân chia, là miền Trung Việt Nam, nên dân chúng thường quen sự kiện nầy là Biến động miền Trung.

I. Nguyên nhân

Nguyên nhân trực tiếp đưa đến sự bộc phát Biến động miền Trung từ tháng 3 năm 1966 là vụ trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh quân đoàn I và Vùng I Chiến thuật, bị cách chức.

Nguyễn Chánh Thi nguyên là đại tá tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông tham gia cuộc đảo chánh chống Tổng thống Diệm ngày 11-11-1960, nhưng thất bại.  Ông lưu vong sang Phnom Penh (Nam Vang). Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, ông về nước ngày 16-11-1963.  Một tháng sau, ông được cử làm tư lệnh phó Quân đoàn I, dưới quyền chỉ huy lúc đầu của trung tướng Đỗ Cao Trí, rồi của trung tướng Nguyễn Khánh kể từ sau tháng 1-1964.[1] Lúc đó Quân đoàn I chịu trách nhiệm an ninh các tỉnh thành Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Ngày 30-1-1964, đại tá Nguyễn Chánh Thi vào Sài Gòn giúp trung tướng Nguyễn Khánh, thực hiện cuộc chỉnh lý, đưa Nguyễn Khánh lên cầm quyền. Trở về Quân đoàn I, Nguyễn Chánh Thi được cử làm tư lệnh Sư đoàn I Bộ Binh ngày 7-2-1964, rồi thăng chuẩn tướng ngày 29-5-1964.

Nắm được quyền lực, Nguyễn Khánh tìm cách củng cố địa vị, ban hành Hiến chương ngày 16-8-1964 tại Vũng Tàu nên thường được gọi là Hiến chương Vũng Tàu (HCVT). Hiến chương gặp nhiều chống đối, nhất là giới tín đồ Phật giáo và sinh viên học sinh. Các đảng phái như Đại Việt, Dân chủ Xã hội, Việt Nam Quốc dân Đảng đều lên tiếng công kích. Nhiều cuộc biểu tình xảy ra trên toàn quốc, mạnh nhất là ở Huế, Đà Nẵng và Quy Nhơn. Tại Huế, Hội đồng Nhân dân Cứu quốc do bác sĩ Lê Khắc Quyến thành lập, đả kích nặng nề HCVT. Cuối cùng, trong cuộc biểu tình lớn lao ngày 25-8-1964 tại Sài Gòn, Trung tướng Nguyễn Khánh xuất hiện và hô to khẩu hiệu: “Đả đảo Hiến chương Vũng Tàu”.  Thế là HCVT bị dẹp bỏ.

Sau biến cố nầy, trung tướng Dương Văn Đức và thiếu tướng Lâm Văn Phát tổ chức binh biến ngày 13-9-1964 nhằm lật đổ Nguyễn Khánh. Một lần nữa, Nguyễn Chánh Thi về Sài Gòn giúp trung tướng Nguyễn Khánh dẹp cuộc “biểu dương lực lượng” nầy. Nguyễn Chánh Thi được thăng thiếu tướng ngày 21-10-1964 và trở thành tư lệnh Quân đoàn I ngày 14-11-1964.

Trong khi đó, sau những tranh chấp giữa các tướng lãnh, Hội đồng các tướng lãnh giao chính quyền cho phía dân sự. Phan Khắc Sửu được chọn làm Quốc trưởng ngày 24-10-1964 và Trần Văn Hương làm Thủ tướng ngày 31-10-1964. Chẳng bao lâu, Phan Huy Quát lên thay Trần Văn Hương ngày 16-2-1965. Ba ngày sau, thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo lại đảo chánh ngày 19-2-1965. Nguyễn Chánh Thi về Sài Gòn giúp chính phủ Phan Huy Quát, ổn định tình thế.

Vì cuộc tranh chấp giữa Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát, quân đội trở lại nắm quyền. Ngày 19-6-1965, Đại hội đồng Quân lực thành lập Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG) do trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch và Ủy ban Hành pháp Trung ương (UBHPTƯ) do thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch.

Riêng Nguyễn Chánh Thi, ông vẫn giữ chức tư lệnh Quân đoàn I và được thăng trung tướng tháng 10-1965. Vốn là người ngay thẳng, trung tướng Thi công khai chỉ trích những việc mà ông cho là bất công, tham những, nhất là ông nhắm vào hai tướng Nguyễn Văn Thiệu (Quốc trưởng) và Nguyễn Cao Kỳ (Thủ tướng). Vì vậy, trung tướng Thi gây nhiều tranh cãi đối với tập đoàn các tướng lãnh chính phủ trung ương.

Trong cuộc họp Đại hội đồng Quân lực tại bộ Tổng tham mưu ngày 11-3-1966, các tướng lãnh quyết định cho trung tướng Nguyễn Chánh Thi nghỉ phép, ra nước ngoài chữa bệnh mũi, mà theo tướng Thi trong hồi ký Việt Nam: một trời tâm sự, ông cho biết ông chẳng bị bệnh gì cả.

Ngoài ra, lúc đó có dư luận cho rằng trung tướng Thi bị loại ra khỏi chức vụ có thể còn vì một lý do khác. Nguyên vào ngày 1-12-1965, trung tướng Thi gởi thư lên chủ tịch UBLĐQG Nguyễn Văn Thiệu, chính thức đề nghị là Quân lực VNCH phải Bắc tiến, nắm thế chủ động trên chiến trường, mới có thể chiến thắng cộng sản.[2] Ông cũng công khai đề nghị như thế với người Mỹ.

Chủ trương nầy đã từng được Nguyễn Khánh đưa ra ngày 19-7-1964 và Nguyễn Cao Kỳ nhắc lại ngày 20-7-1965, gọi là “Ngày toàn dân đoàn kết chuẩn bị giải phóng miền Bắc”, nhưng không được người Mỹ chấp thuận. Nguyễn Cao Kỳ vội bỏ chủ trương nầy nên được người Mỹ tiếp tục ủng hộ. Nay trung tướng Nguyễn Chánh Thi kêu gọi thêm một lần nữa. Trung tướng Thi đang giữ chức tư lệnh Quân đoàn I kiêm tư lệnh vùng I Chiến thuật, vùng giáp ranh với Bắc Việt. Phải chăng việc nầy đi ra ngoài chính sách của người Mỹ, nên việc cách chức tướng Thi có liên hệ đến chuyện Bắc tiến và người Mỹ?

Không có tài liệu nào có thể xác quyết điều nầy, nhưng không phải tự nhiên mà ngay sau khi bị buộc nghỉ việc trong cuộc họp tại bộ Tổng tham mưu (11-3-1966), trung tướng Thi nhận được thư của đại tướng William Westmoreland cũng đề ngày 11-3-1966, nhân danh Bộ Quốc phòng Mỹ, mời tướng Thi sang Hoa Kỳ chữa bệnh.[3] Sao lại có sự trùng hợp nhịp nhàng như thế?

Sau cuộc họp ngày 11-3-1966, trung tướng Thi bị giữ lại ở Sài Gòn. Thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân, tư lệnh Sư đoàn I Bộ binh được cử lên thay. Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, chỉ huy trưởng Biệt động quân, ra Huế thay thiếu tướng Chuân.

II. Diễn tiến biến động

Biến động miền Trung năm 1966 có thể tóm lược qua bốn giai đoạn sau đây:

1. Cuộc tranh đấu phát khởi

Khi Đài phát thanh Sài Gòn thông báo quyết định của HĐQL cho trung tướng Nguyễn Chánh Thi nghỉ phép và ra nước ngoài chữa bệnh mũi, dân chúng Vùng I Chiến thuật hiểu ngay là trung tướng Thi bị cách chức. Đây là cơ hội thuận lợi để những phần tử vốn âm thầm chống chính phủ quân nhân bấy lâu nay, kích động và phát động các cuộc biểu tình chống đối.

Tức thì, ngày 12-3, cuộc biểu tình bộc phát tại Đà Nẵng, nơi Quân đoàn I đóng bản doanh. Cuộc biểu tình lan ra Huế ngày hôm sau 13-3. Người biểu tình càng ngày càng đông và đủ mọi thành phần: thanh niên, sinh viên, học sinh, công chức, tiểu thương, có cả quân nhân nữa. Đại đa số những người nầy là Phật tử. Những người biểu tình tổ chức thành Lực lượng Tranh thủ Cách mạng (LLTTCM). Những ngày sau đó, càng ngày biểu tình càng dữ dội. Lực lượng TTCM tổ chức tổng đình công, chiếm đài Phát thanh ở Huế cũng như Đà Nẵng.

2. Chính phủ điều đình

Trong khi biểu tình tiếp diễn, chính phủ trung ương kiếm cách thương thuyết, vừa tại vùng I Chiến thuật, vừa tại Sài Gòn. Ngày 16-3, chính phủ đưa trung tướng Nguyễn Chánh Thi ra Đà Nẵng để nhờ tướng Thi kiếm cách yên dân. Sự có mặt của tướng Thi làm cho tình hình êm dịu bớt. Ngày 1-4, chính phủ trung ương gởi trung tướng Phạm Xuân Chiểu ra điều đình. Nhóm biểu tình chống chính phủ giữ trung tướng Chiểu làm con tin một thời gian ngắn.

Tại Sài Gòn, ngày 17-3-1966, đại sứ Cabot Lodge (làm đại sứ lần thứ hai) gặp thượng tọa Thích Trí Quang, trong khi các tướng Thiệu, Kỳ gặp thượng tọa Thích Tâm Châu. Các lãnh tụ Phật giáo đồng ý ngưng biểu tình với điều kiện phía chính phủ giữ lời hứa tổ chức bầu cử và tiến đến chính phủ dân sự. Ngày 19-3-1966, Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) tuyên bố không chống đối chính phủ mà chỉ đòi hỏi bầu cử và thành lập chính phủ dân sự.[4] Tuy nhiên, các cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn. Tại Sài Gòn, cuộc biểu tình tối mồng 2-4-1966 trước Đài phát thanh trở nên hỗn loạn.

Hôm sau, 3-4-1966, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, chủ tịch UBHPTƯ, tuyên bố là cộng sản đã xâm nhập vào các phong trào tranh đấu ở miền Trung và sẽ dùng võ lực để tái lập an ninh tại Đà Nẵng. Lời tuyên bố nầy làm cho cuộc tranh đấu bùng lên mạnh mẽ.

Ngày 5-4-1966, Nguyễn Cao Kỳ ra Đà Nẵng, đem theo hàng ngàn chiến binh bằng cầu không vận Mỹ, nhưng bị quân lính địa phương theo nhóm biểu tình ngăn chặn, không cho ra khỏi phi trường. Vị chỉ huy Thủy quân Lục chiến (TQLC) Mỹ tại Đà Nẵng phải can thiệp, mới tránh đụng độ giữa hai bên.[5]

Lúc đó, thị trưởng Đà Nẵng (bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn) cùng tư lệnh Biệt khu Quảng Đà và Trung đoàn 51 Bộ binh (đại tá Đàm Quang Yêu), Địa phương quân, Nghĩa quân, Quân cảnh, công chức Đà Nẵng tuyên bố ly khai với chính phủ trung ương. Tại Huế, chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận, trung tướng Nguyễn Chánh Thi cũng về theo pheo tranh đấu.

Ngày 8-4-1966, hai tiểu đoàn TQLC được gởi tiếp ra Đà Nẵng. Bộ Ngoại giao Mỹ phản đối và yêu cầu chính phủ VNCH giải quyết tranh chấp bằng thương lượng chứ không bằng quân sự.[6] Có thể vì vậy, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ chưa quyết định tấn công và ngày 9-4. UBLĐQG cử trung tướng Tôn Thất Đính ra Đà Nẵng làm tư lệnh Quân đoàn I, thay thiếu tướng Nguyễn Văn Chuân.  Vài ngày sau, Tôn Thất Đính về phe tranh đấu.

Để làm êm dịu tình hình, ngày 12-4-1966, UBLĐQG triệu tập Đại hội Chính trị Toàn quốc, gồm chủ tịch các Hội đồng tỉnh và thị xã, đại diện các đoàn thể, đảng phái, đại diện các tôn giáo, nhưng Phật giáo và Ki-tô giáo không dự. Trong ngày chót của Đại hội (14-4-1966), trung tướng Nguyễn Văn Thiệu công bố sắc luật số 14/66, tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến (QHLH) qua phổ thông đầu phiếu trong vòng từ 3 đến 5 tháng, theo đó QHLH có nhiệm vụ soạn thảo và biểu quyết hiến pháp VNCH. Đồng thời UBLĐQG chấp thuận 10 đề nghị dân chủ hóa của Đại hội. Hai quyết định nầy là một cách nhượng bộ kín đáo những đòi hỏi của phe tranh đấu nhằm dân chủ hóa đất nước, mà chính quyền không bị mất thể diện.

Sau những hứa hẹn nầy, phía Phật giáo tuyên bố tạm ngưng tranh đấu. Ngày 17-4-1966, thượng tọa Thích Trí Quang từ Sài Gòn ra Huế để dàn xếp và kêu gọi đình chỉ biểu tình. Tuy nhiên, một số phần tử cực đoan, và có thể có sự xúi giục của cộng sản, phản đối quyết định tạm ngưng nầy.

3. Chính phủ cương quyết tái lập an ninh

Vào đầu tháng 5-1966, Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cho biết sẽ bầu cử QHLH vào tháng 10-1966 thay vì tháng 8, và chính phủ quân nhân sẽ cầm quyền thêm một năm nữa. Tức thì LLTTCM phản ứng, tổ chức biểu tình phản đối khắp miền Trung, tái chiếm đài phát thanh và các cơ sở khác. Lần nầy, với sự thỏa thuận ngầm của chính phủ Hoa Kỳ[7], thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ quyết định tái lập an ninh Đà Nẵng và Huế.

Chính phủ trung ương nhờ tàu vận tải Mỹ đưa 40 xe tăng và thiết vận xa đến Đà Nẵng ngày 14-5-1966. Ngày hôm sau 15-5, chính phủ gởi 5 tiểu đoàn Nhảy dù đến Quân đoàn I. Chỉ trong một giờ, quân Nhảy dù tái chiếm Đài phát thanh Đà Nẵng. Trung tướng Tôn Thất Đính chạy ra Huế.

Ngày 16-5-1966, thiếu tướng Huỳnh Văn Cao được cử ra Đà Nẵng làm tư lệnh Quân đoàn I.  Hôm sau 17-5-1966, tại phi trường Phú Bài (Huế), Huỳnh Văn Cao bị thiếu úy Nguyễn Trọng Thức mưu sát, nhưng ông Cao thoát nạn nhờ viên xạ thủ trực thăng Mỹ bắn chết Nguyễn Trọng  Thức. Sau biến cố nầy, Huỳnh Văn Cao xin nghỉ chức tư lệnh Quân đoàn I. Thiếu tướng Trần Thanh Phong tạm thay, cho đến khi thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Sư đoàn II Bộ binh, nhận chức tư lệnh Quân đoàn ngày 31-5-1966.

Chính phủ trung ương cử thiếu tướng Cao Văn Viên ra Vùng I Chiến thuật, chỉ huy cuộc tái kiểm soát Đà Nẵng và Huế. Khi quân Nhảy dù và TQLC xuất hiện, lực lượng ly khai yếu thế dần dần.  Ngày 23-5, nhóm ly khai tại chùa Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng (trên đường Ông Ích Khiêm) buông súng. Thị trưởng Nguyễn Văn Mẫn bị bắt. Trung đoàn 51 Bộ binh bị chận lại ở phía nam Đà Nẵng. Đại tá Đàm Quang Yêu cũng bị bắt ngày 25-5-1966.

Trong khi đó, tại Sài Gòn, chính phủ trung ương triệu tập Đại hội Quân Dân ngày 24-5-1966 tại rạp hát Thống Nhất, gồm khoảng 1,000 đại diện quân đội, hội đồng tỉnh, thị xã, đảng phái, công chức, báo chí… để trình bày về tình hình Đà Nẵng và tình hình miền Trung.

Ngày 31-5-1966, một phái đoàn gồm 6 lãnh tụ Phật giáo do thượng tọa Thích Tâm Châu dẫn đầu, hội đàm với 6 tướng lãnh trong UBLĐQG. Ủy ban LĐQG hứa sẽ tổ chức bầu cử QHLH vào ngày 11-9-1966 và mở rộng UBLĐQG thêm 10 chính khách dân sự. Đó là các ông: Trần Văn Đỗ, Phạm Hữu Chương, Phan Khoang, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Ngọc Trân, Trần Văn Ân, Văn Thành Cao, Nguyễn Lưu Viên, Quan Hữu Kim, Huỳnh Văn Nhiệm. Ngày 6-6-1966, những chính khách dân sự dự họp lần đầu với UBLĐQG.

4. Bàn thờ Phật xuống đường

Ngày 26-5-1966, tại Huế diễn ra tang lễ thiếu úy Nguyễn Trọng Thức, người mưu sát bất thành thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Đoàn biểu tình đốt Phòng Thông tin và Thư viện Hoa Kỳ tại Huế, tiêu hủy khoảng 5.000 quyển sách. Huế hoàn toàn hỗn loạn. Trung tá tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm thị trưởng thành phố Huế, phải dời văn phòng ra ngoại ô. Ngày 1-6-1966, cuộc biểu tình đập phá tiếp Tòa lãnh sự Mỹ tại Huế một lần nữa.

Trước áp lực của lực lượng chính phủ, thượng tọa Thích Trí Quang, lãnh tụ Phật giáo tranh đấu, tung ra biện pháp cuối cùng là yêu cầu đồng bào đưa bàn thờ Phật xuống đường ngày 6-6-1966 trong khắp thành phố Huế, để ngăn chặn lối đi của quân chính phủ. Nhiều thành phố miền Trung cũng hưởng ứng chiến dịch nầy: Quảng Trị, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Pleiku…  Cần chú ý là lúc đó, không phải tất cả Phật tử đồng thuận với biện pháp đưa bàn thờ Phật xuống đường.

Ngày 8-6-1966, thượng tọa Thích Trí Quang tuyệt thực trước tỉnh đường Thừa Thiên, nhưng chưa đầy 24 giờ sau, Thích Trí Quang kiệt sức, phải vào bệnh viện. Quân Nhảy dù và TQLC đến Huế từ ngày 8-6, nhưng chưa dẹp bàn thờ Phật. Ngày 10-6-1966, một tiểu đoàn Cảnh sát Dã chiến (CSDC) được đưa ra Huế tăng cường. Ngày 16-6-1966, đại tá Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc An ninh Quân đội kiêm tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia, đích thân chỉ huy quân Nhảy dù và CSDC, khiêng bàn thờ trả lại dân chúng và nhà chùa, khai thông đường đi trong thành phố Huế.

Phe ly khai rút về chùa Diệu Đế, chùa Từ Đàm và vào trong thành Nội, hoàng thành nhà Nguyễn trước đây. Lực lượng Nhảy dù, TQLC và CSDC lần lượt giải tỏa dễ dàng ba địa điểm nầy vào các ngày 18 và 19-6-1966. Thượng tọa Thích Trí Quang được đưa vào Sài Gòn ngày 21-6-1966. Tại các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, phong trào tranh đấu tan rã nhanh chóng. Biến động miền Trung xem như chấm dứt.

III. Hậu quả

Số người chết và bị thương trong biến động miền Trung lên khá cao. Riêng tại Đà Nẵng, trong cuộc đụng độ đầu tiên giữa phe tranh đấu và lực lượng Nhảy dù ngày 15-5-1966, số người chết lên đến khoảng 150 người và số người bị thương lên khoảng 700 người.[8] Trong việc chính phủ đưa quân tái kiểm soát Huế, số người chết và bị thương không được biết, số người ly khai bị bắt là 190 quân nhân, 109 công chức, 35 nhân viên cảnh sát.[9]

Đại đa số những người tham gia biến động nầy là Phật tử, nhưng GHPGVNTN chưa có một hệ thống giáo quyền chặt chẽ để kiểm soát các tăng ni và Phật giáo đồ như giáo hội Ki-tô giáo La Mã, nên những lãnh tụ Phật giáo không kiểm soát được phong trào Biến động miền Trung, và đôi khi bị cuốn hút theo phong trào.

Từ đó, Biến động miền Trung làm chia rẽ các lãnh tụ Phật giáo và làm suy giảm tiềm lực khối Phật giáo. Nguyên khi thượng tọa Thích Trí Quang phát động đợt tranh đấu cuối cùng vào đầu tháng 6-1966, các lãnh tụ Phật giáo ôn hòa ở Sài Gòn phản đối. Thượng tọa Thích Tâm Châu, sau khi tham dự hội nghị World Fellowship of Buddhists (Hội Thân hữu Phật tử Thế giới), trở về Sài Gòn ngày 29-5, thì Việt Nam Quốc Tự, trụ sở Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống Nhất (GHPGVNTN), bị phe quá khích chiếm đóng. Bản thân Thích Tâm Châu bị đe dọa, phải bỏ Việt Nam Quốc Tự đi tỵ nạn. Thượng tọa Tâm Châu nhiều lần lên tiếng chống lại việc đưa bàn thờ Phật xuống đường.[10] Từ đó, hố chia rẽ giữa hai nhóm ôn hòa và quá khích càng ngày càng sâu rộng, làm cho khối Phật giáo yếu hẳn đi. Một lãnh tụ Phật giáo khác là thượng tọa Thích Thiện Minh bị thương nặng vì bị mưu sát ngày 1-6-1966, mà không tìm ra thủ phạm.

Chắc chắn cộng sản Việt Nam (CSVN) không bỏ qua cơ hội để lợi dụng Biến động miền Trung, xúi giục những hành vi quá khích trong đám đông, nhằm phá hoại chính quyền, gây rối loạn xã hội và nhất là làm mất uy tín tổ chức Phật giáo, gây chia rẽ giữa Phật giáo với Phật giáo, giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, với chính quyền và cả với người Mỹ.

Cần chú ý là CSVN rất lo sợ tất cả những tổ chức quy củ và có hậu thuẫn quần chúng. Ở Việt Nam, các tổ chức có hậu thuẫn quần chúng mạnh mẽ nhất chính là giáo hội các tôn giáo. Đối với tôn giáo, ngoài vấn đề triết thuyết và giáo lý, CSVN rất chú trọng đến sức mạnh quần chúng (tín đồ), thực lực của các tôn giáo. Cộng sản trên thế giới nói chung chống giáo hội Ki-tô giáo vì sợ khối lượng tín đồ đông đảo của giáo hội nầy. Ở Việt Nam, sau năm 1945, vì lo sợ ảnh hưởng của Cao Đài giáo đối với nông dân miền Đông Nam Việt và ảnh hưởng của Phật giáo Hòa Hảo đối với nông dân miền Tây Nam Việt, nên CSVN đã tìm tất cả các cách để triệt hạ hai tôn giáo nầy.

Sau khi thành lập năm 1964, GHPGVNTN là giáo hội có khối lượng tín đồ đông đảo khắp nước, được hậu thuẫn rộng rãi, nhất là trong giới lao động và dân chúng nông thôn. Vì vậy, GHPGVNTN trở thành một sức mạnh chính trị đáng ngại đối với CSVN. Không thể đánh phá GHPGVNTN như đã từng hãm hại Đức thầy Huỳnh Phú Sổ và Phật giáo Hòa Hảo sau năm 1945, CSVN kiếm cách phá hoại và gây chia rẽ để cho GHPGVNTN phân hóa và yếu đi. Có như thế, CSVN mới giành được độc quyền lãnh đạo quần chúng.

Trong những cuộc biểu tình, phe tranh đấu đưa ra những biểu ngữ chống Mỹ, lại đốt Phòng Thông tin Hoa Kỳ tại Huế, làm cho người Mỹ càng thêm ủng hộ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu.  Khối Phật giáo Việt Nam cũng mất uy tín trước dư luận thế giới. Ngày 17-6-1966, Hội Phật giáo Thế giới tuyên bố không ủng hộ khối Phật giáo Việt Nam vì tăng ni hoạt động chính trị.[11]

Một hậu quả ít ai chú ý là sau khi chính phủ tái kiểm soát miền Trung, một số người, trong đó có thanh niên, sinh viên, học sinh, sợ bị chính quyền quân sự trả thù, đã “nhảy núi” năm 1966, tức lên miền rừng núi theo du kích cộng sản. Những sinh viên thanh niên nầy sau trở về Huế quấy phá và giết hại đồng bào trong biến cố Tết Mậu Thân vào đầu năm 1968.

Hậu quả trầm trọng nhất của Biến động miền Trung là chính phủ VNCH phải dồn sức để ổn định xã hội ở thành phố, khiến nỗ lực chống cộng bị suy giảm. Quân nhân ngoài tiền tuyến, nhất là quân nhân Phật tử không an tâm chiến đấu vì hậu phương bị xáo trộn. Nhờ thế, du kích cộng sản có cơ hội tăng cường hoạt động và phát triển ở nông thôn và miền rừng núi.

Cuối cùng, Biến động miền Trung vẫn đem lại một kết quả quan trọng về phương diện dân chủ hóa là đã thúc đẩy nhà cầm quyền quân sự nhanh chóng tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến ngày 11-9-1966, nhằm soạn thảo hiến pháp. Hiến pháp được ban hành ngày 1-4-1967, làm nền tảng cho nền Đệ nhị Cộng hòa Nam Việt Nam. Có tất cả 11 liên danh ứng cử tổng thống và phó tổng thống ngày 3-9-1967, trong đó liên danh quân đội của Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đã thắng cử. Tuy các ứng cử viên đối lập cho rằng cuộc bầu cử gian lận, nhưng “đa số trong 22 quan sát viên Hoa Kỳ và 93 quan sát viên của 21 quốc gia đều nhận rằng cuộc bầu cử có nhiều dấu hiệu tự do”.[12] Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy thì nhận định: “Cuộc bầu cử tổng thống năm 1967 có thể được coi là lương thiện và tự do.”[13] Có người cho rằng nếu phe dân sự biết đoàn kết thì có thể thắng cuộc bầu cử nầy.[14]

Kết luận

Tóm lại, Biến động miền Trung không phải là một biến cố địa phương mà là một sự kiện quan trọng có tầm vóc quốc gia. Đặt vụ Biến động miền Trung năm 1966 trong hoàn cảnh lịch sử đầy xáo trộn sau năm 1963, nguyên nhân sâu xa ban đầu của biến động là những đòi hỏi dân chủ hóa đất nước, thiết lập quốc hội lập hiến, trở lại chính phủ dân sự. Việc cách chức trung tướng Nguyễn Chánh Thi chỉ là cái cớ làm bùng nổ các cuộc biểu tình.

Biến động miền Trung tuy đã thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa VNCH, nhưng ngược lại Biến động miền Trung đã làm suy yếu GHPGVNTN và nhất là làm suy yếu tiềm lực của chiến đấu của Quân lực VNCH. Trách nhiệm sâu xa nhất về biến động nầy là những người muốn mưu cầu quyền lực bằng con đường không thông qua thể chế dân chủ. Trong khi đó kẻ có lợi nhất trong Biến động miền Trung không ai khác hơn chính là CSVN.

Nguồn: Trích Trần Gia Phụng, Việt sử đại cương tập 6

© 2009 Trần Gia Phụng

© 2009 talawas blog


[1] Trước tháng 11-1963, thiếu tướng Trí làm tư lệnh quân đoàn I, thiếu tướng Khánh làm tư lệnh quân đoàn II. Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, hai ông đều được thăng trung tướng và theo lệnh chính phủ mới, hai ông đổi chỗ nhau từ tháng 1-1964.

[2] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam, một trời tâm sự. California: Nxb. Anh Thư, 1987, tt. 319-32.

[3] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam, một trời tâm sự. California: Nxb. Anh Thư, 1987, tr. 344.

[4] Chính Đạo, Tôn giáo và chính trị, Phật giáo 1963-1967, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 210.

[5] Stanley Karnow, Vietnam a History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 446.

[6] Chính Đạo, sđd. tr. 215.

[7] Chính Đạo, sđd. tr. 221.

[8] Chính Đạo, sđd tr. 220.

[9] Đoàn Thêm, 1966 Việc từng ngày, California: Nxb. Xuân Thu tái bản, 1989, tr. 119.

[10] Đoàn Thêm, sđd. tr. 115.

[11] Đoàn Thêm, sđd. tr. 116.

[12] Đoàn Thêm, 1967 Việc từng ngày, California: Nxb. Xuân Thu tái bản, 1989, tr. 197.

[13] Hoàng Cơ Thụy trích dẫn, Việt sử khảo luận cuốn 6, Paris: Nam Á 2002, tr. 3339.

[14] Hoàng Cơ Thụy, sđd. tr. 3339.

Bình luận

23 Comments (bài “Trần Gia Phụng – Diễn tiến biến động miền Trung”)

  1. Trần Ngọc Cư viết:

    Trân trọng giới thiệu bản dịch của “Thich Tri Quang and the Vietnam War” đăng trên Diễn Đàn Forum:
    http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/mot-nghien-cuu-ve-lap-truong-cua-ht-thich-tri-quang/

  2. Trần Lâm viết:

    Xin giới thiệu đến sử gia Trần Gia Phụng cùng bạn đọc bốn phương bài nghiên cứu dựa trên tài liệu văn khố Hoa Kỳ về TT Thích Trí Quang. Bài này do sử gia James McAllister chấp bút và được đăng trên tạp chí chuyên môn Modern Asian Studies năm 2008. Tôi đã đưa bài đó lên mạng, ai muốn đọc thì vào link này:

    http://www.scribd.com/doc/17713570/ThichTriQuang

  3. Hoà Nguyễn viết:

    Trả lời Truong Nu Hoang’
    1/ Ông Trần Gia Phụng trình bày tướng Thi (trong đoạn hơi dài) là chống Cộng quyết liệt cho nên tôi nêu ra nếu như thế rất khó kết hợp với phong trào phản chiến, chống Mỹ can thiệp ở Huế. Tôi ngờ ông Phụng dựa vào hồi ký của tướng Thi (Việt Nam: Một trời tâm sự), nhưng trong đó tôi nhận thấy có nhiều điều đáng ngờ về tướng Thi, ngay những điều ông ấy viết về mình. Chỉ có thể tướng Thi bị phong trào tranh đấu ở Huế lôi cuốn theo và có thể ông tổ chức chống lại Sài Gòn thật sự, cho nên sau khi ông Thi ra đi nhiều sĩ quan ở quân khu 1 tiếp tục chống ông Kỳ (như đại tá Đàm Quang Yêu).

    2/ Trần Văn Đôn viết ngắn nhưng rõ ý: Tướng Thi được đề cử làm thủ tướng trước tướng Kỳ, nhưng có thể do tính toán lợi hại, vào lúc tình hình còn phức tạp, không ổn định, nên không dám nhận. Không dám không phải là không muốn. Mấy tháng sau, khi thấy ông Kỳ củng cố được chính quyền, được cả danh lẫn lợi, nên tiếc (và biết đâu, tôi suy đoán thôi, ông Thi nghĩ mình xứng đáng với chức vụ đó hơn ông Kỳ). Thật ra, khi ông Thi là đại tá, ông Kỳ còn là trung tá, là cấp dưới hay đàn em, và trong quân đội thời đó ông Thi dễ có cảm tưởng mình hơn ông Kỳ. Điều oái oăm là lúc đầu hai ông Kỳ và Thi đi với nhau như cặp bài trùng trong việc loại bỏ ông Khánh (và các tướng khác như Nguyễn Hữu Có). Có báo viết nịnh lạ lùng khiến tôi còn nhớ là hai ông để râu giống nhau, binh chủng gần nhau, cả tên cũng gần nhau: Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Cao Kỳ.

  4. Hoà Nguyễn viết:

    Trong bài “Diễn tiến biến động miền Trung” ông Trần Gia Phụng bắt đầu từ vai trò của tướng Nguyễn Chánh Thi ở Huế, kể lại nhiều sự kiện lịch sử với cả những chi tiết rất nhỏ cũng được chú ý ghi nhận (như TT Trí Quang tuyệt thực ở Huế chưa đầy 24 giờ thì kiệt sức), nhưng phần kết luận ở cuối bài viết đến rất bất ngờ, như không dự bị và có vẻ không liên quan gì với phần viết ở trên: “Nguyên nhân sâu xa ban đầu của biến động là những đòi hỏi dân chủ hóa đất nước, thiết lập quốc hội lập hiến, trở lại chính phủ dân sự”. Tuy nhiên, ông Trần Gia Phụng làm nhẹ cái thành quả đó bằng câu viết tiếp theo: “Biến động miền Trung tuy đã thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa VNCH, nhưng ngược lại Biến động miền Trung đã làm suy yếu GHPGVNTN và nhất là làm suy yếu tiềm lực chiến đấu của Quân lực VNCH”.

    Sự thật, ở các nước độc tài do tướng tá đảo chính dựng lên không thể có cái ngày đẹp trời nào đó các ông tướng tư nhiên vui tính đem chính quyền trả lại cho dân sự, mà thường phải cần có những đấu tranh quyết liệt, và bắt đầu thường là từ sinh viên, có khi đẫn tới những đổ máu còn hơn thế nhiều, như đã thấy ở Nam Hàn. Người ta gọi đó là chứng sốt vỡ da, phải trải nghiệm qua, để nền dân chủ có thể trưởng thành. Sau đảo chính 1-11-63, tướng Dương Văn Minh giao cho ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Thủ tướng nhưng thực ra chỉ để giải quyết công việc hành chính mà quân đội không làm được. Sau đó, các tướng Khánh, Khiêm, Viên loại các tướng đảo chính ông Diệm, để rồi Khánh loại Khiêm, Minh, sau cùng Thi và Kỳ loại Khánh nhân uy tín Khánh bị mất vì những “biểu dương lực lượng” hay đảo chính hụt của Dưong Văn Đức, Phát, Thảo. Những tranh chấp nôi bộ đó thực sự mới làm “suy yếu tiềm lực chiến đấu của Quân lực VNCH” theo như lời ông Trần Gia Phụng viết ở trên, và quân đội miền Nam không còn được sử dụng để chiến đấu mà chỉ để đảo chính, và phòng vệ chống đảo chính. Nên để cứu miền Nam, Mỹ phải đổ quân vào thật nhiều, thay vào chỗ trống bỏ lại ở đồng quê, rừng núi sau khi quân miền Nam rút về thành phố kình chống nhau.

    Dù cũng có nhiều hệ quả không hay khác, như những hình thức phản chiến và chống Mỹ làm phân tán nhân tâm, biến động miền Trung đã giúp đưa tới việc dân chủ hóa chính quyền quân sự và lập nên đệ Nhị cộng hoà ở miền Nam. Đây là thành quả rất hiển nhiên, và tích cực mà nhiều người không nhận thấy, hay không nêu rõ ra khi nhìn lại giai đoạn lịch sử này, nhưng họ chỉ thấy hay chỉ nhấn mạnh đến những mặt tiêu cực khác (như số người chết vì biến động, số lính đào ngũ, sinh viên “nhảy núí” sau đó). Ông Trần Văn Đôn trong “Việt Nam Nhân chứng” viết: “Kết quả vụ biến động miền Trung là Thiệu, Kỳ đồng ý lập quốc hội lập hiến”, và qua năm 1967 miền Nam bầu cử hai viện quốc hội, tổng thống. Dù cho sau đó ông Thiệu đắc cử tổng thống, nhưng đây cũng là chính phủ dân sự (trên thế giới nhiều tướng được bầu làm TT, như thấy ở Nam Hàn, Pháp, Mỹ). Dù sao, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không thể bị tố cáo là quân phiệt hay độc tài (dù cũng tham nhũng).

    Nếu đây là thành quả tích cực trong biến cố miền Trung, thì nhiều nhà trí thức ở Huế có liên hệ hay tham dự như các ông Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên (hình như ở Mỹ), Cao Huy Thuần (ở Pháp)… có thể thanh danh được rửa sạch . Dù cho họ có hành động quá khích, không thực tế hay cực đoan về quan điểm, trong sinh hoạt chính trị, nên gây ra nhiều xáo trộn, bất ổn, bất lợi, nhưng họ có lý tưởng dân chủ rất đáng nể: chống lại chế độ độc tài quân phiệt của nhóm tướng tá chuyên lừa lọc, loại trừ nhau vì chức vụ, quyền lợi riêng (không thấy vì mục đích nào khác), dám đòi hỏi một chính quyền dân sự trong tình hình gay go như thế, và sau cùng khi phong trào họ chủ trương bị đập tan, những điếu họ đòi hỏi vẫn được chính đối phương họ (quân đội, Mỹ) thực hiện để miền Nam ổn định hơn, dân chủ hơn. Dù cho có cán bộ CS xân nhập vào tổ chức, phong trào của họ, như cái tên “Hội Đồng Nhân dân cứu quốc” rất đáng ngờ, nhưng đó không phải là lỗi ở họ, khi chính trong hàng ngũ quân đội cũng bị cán bộ CS xâm nhập. Điều không thể phủ nhận là họ, gồm TT Trí Quang, rất ít kinh nghiện về tổ chức, không kiểm soát được phong trào gồm nhiều thành phần phức tạp (hay ô hợp), và những ngưởi lãnh đạo còn bị phong trào tranh đấu cuốn đi rất xa (nhiều tác giả cho TT Trí Quang rất buồn giận khi biết sinh viên Huế đốt phòng thông tin và lãnh sự quán Mỹ).

  5. Trung Nu Hoang viết:

    Có ai giải thích giùm tôi:
    1) Nhà sư Thích Trí Quang bị gán cho là… cộng sản; trong khi đó, Tướng Thi (nguyên là Tư Lệnh Nhảy Dù, sau 1963 là Tư Lệnh Quân đoàn I – gần vĩ tuyến 17) thuộc thành phần chống Cộng quá khích. (trích: “Nguyên vào ngày 1-12-1965, trung tướng Thi gởi thư lên chủ tịch UBLĐQG Nguyễn Văn Thiệu, chính thức đề nghị là Quân lực VNCH phải Bắc tiến…”)

    Hai nhân vật với lập trường khác biệt nhau như Nuớc với Lửa, lại bị gán cho là “đồng minh” trong việc gây nên biến động Miền Trung? Có người lại cho rằng tướng Thi là con bài chủ của thầy TTQ vì cùng một tôn giáo: Phật giáo.

    Một số người viết hay độc giả các mạng, cho rằng người dân Huế mà đa số là Phật tử rất kính trọng các thầy như Trí Quang, Đôn Hậu… nên có nhiều người ngả theo phe Cộng – một số rất quá khích – mà lạ thay lại… ủng hộ tướng Thi!!! Những mâu thuẫn trong lập luận như thế này đã được nhắc đến trong nhiều năm qua. Sự thật như thế nào?

    2) Ông Hoà Nguyễn cho rằng tướng Thi “ấm ức về vụ mất chức thủ tướng vào tay ông Kỳ.”
    Điều này có mâu thuẫn với việc tướng Thi đã từ chối chức vụ này khi được HĐQN đề cử, do đó, tướng Kỳ mới được HĐQN ủy nhiệm làm Chủ tịch UBHPTƯ (tức Thủ Tướng)? Đã từ chối, sao lại “ấm ức” nhỉ?

  6. Chính Trực viết:

    Cho đến nay, khá nhiêu tài liệu, hồi ký (Việt, Mỹ) nói đến vai trò của Phật Giáo (nhóm Ấn Quang, lãnh đạo bởi TT Thích Trí Quang), vai trò của cộng sản… trải dài trong những biến động này.

    Không hiểu tại sao Trần Gia Phụng lại có vẻ tránh né, hoặc cố tình bỏ sót một mảng khá lớn, nếu không muốn nói là quan trọng trong việc nhìn lại một giai đoạn lịch sử đã qua – nhất là giúp cho những thế hệ kê tiếp thấy đươc những sự thật bị che giấu bởi những phe nhóm khác nhau.

  7. P viết:

    Trích từ “Hoa sen trong biển lửa” của thầy Nhất Hạnh:

    “Người Hoa Kỳ không thấy được rằng nếu hiện giờ người Hoa Kỳ không theo Măt trận hết là tại nhờ có các tôn giáo, trong đó Phật giáo là một tôn giáo có nhiều tín đồ hơn cả. Nếu các nhà lãnh đạo Phật giáo không thể chỉ cho tín đồ của họ một con đường yêu nước khác hơn là con đường Mặt trận mà họ nghĩ có thể dẫn tới Cộng sản, thì không lâu tín đồ của họ cũng sẽ bỏ họ. Tín đồ của họ sẽ lên án là họ không yêu nước, là chạy theo chính quyền bù nhìn, là chạy theo Mỹ, là ăn nhờ trên chiến tranh, trên xương máu của đồng bào. Sở dĩ tín đồ các tôn giáo còn chịu nghe các lãnh tụ họ là vì các vị này đã cẩn thận (trừ một vài kẻ không quan trọng) không chịu liên minh với chính sách chiến tranh, và đã cất lên tiếng nói của lương tâm tôn giáo về cuộc chiến tranh. Các vị lãnh tụ tôn giáo chính vì thao thức tìm cho tín đồ họ một con đường yêu nước không Cộng sản mà phải đứng dậy để tranh đấu. Họ đòi Quốc Hội Lập Hiến, họ đòi chính phủ dân cử là để mà thực hiện điều đó. Nhưng những cố gắng của họ đang bị người tự xưng là chống Cộng ngăn cản và đàn áp. Chính người Hoa Kỳ cũng ngăn cản và đàn áp họ, và chính người Hoa kỳ đã ủng hộ cho thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ đàn áp họ. Người Hoa Kỳ chỉ muốn các lực lượng tôn giáo nằm im đừng động tới chương trình chiến tranh của họ để tạo thêm khó khăn và cản trở cho những nổ lực chiến tranh của họ thế thôi.”

    http://thuvien-thichnhathanh.org/index.php/tac-phm/120-hoa-sen-trong-bin-la/551-hstbl-chng-04-i-din-iii?showall=1

  8. Hoà Nguyễn viết:

    Ông Trần Gia Phụng nhận xét về tướng Nguyễn Chánh Thi: ” Vốn là người ngay thẳng, trung tướng Thi công khai chỉ trích những việc mà ông cho là bất công, tham nhũng, nhất là ông nhắm vào hai tướng Nguyễn Văn Thiệu (Quốc trưởng) và Nguyễn Cao Kỳ .”

    Tôi nghi ngờ nhận định như thế về cá nhân có liên quan, nếu không là một nguyên nhân, của biến cố lịch sử lớn ở miền Nam, sau khi Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng chừng 1 năm. Nếu nêu ý nghĩ chủ quan về ông Thi, tôi sẽ viết: ông ấy bộc trực, nhưng nông nổi, có phần “hữu dõng vô mưu”, và trong hồi ký không có gì đặc sắc, ông tự đề cao mình hơi nhiều, ngoài những nhận xét khó kiểm chứng. Ông Thi từng tố cáo tướng Dương Văn Minh, khi ông Minh đã bị loại, là mờ ám về chiến lợi phẫm tịch thu của Bình Xuyên năm 1955. Tướng Kỳ lúc mới lên làm thủ tướng (chủ tịch Ủy Ban Hành pháp) được nhiều người, kể cả người Mỹ, cho là trong sạch (tai tiếng vào thời ông Diệm về vụ chở hàng lậu thuế, thật ra không đáng kể), còn ông Thiệu lúc đó ở vai trò quốc trưởng thật sự không có quyền, không có quân và không có cách gì để tham nhũng. Sự chống đối của những Phật tử ở Huế, cả những người tự nhận là Phật tử, đối với chính quyền trung ương (Sài Gòn) vì họ nghi ngờ chề độ gọi là “Cần lao” của gia đình họ Ngô được phục hồi với nhiều tướng tá đang nắm binh quyền, như Thiệu, Khiêm, Viên. Tướng Kỳ không Cần lao, không tham nhũng, nhưng hăng hái nhất trong việc chống Cộng bằng lời nói bốc đồng và bằng hành động liều lĩnh (lái máy bay cánh quạt Skyraider ra ném bom Bắc vĩ tuyến 17). Những người phản chiến, chống việc Mỹ mở rộng chiến tranh, như Nguyễn Đắc Xuân, Nhất Hạnh, các giáo sư, sinh viên ở Huế chống lại “nội các chiến tranh” mà ông ông Kỳ hãnh diện đặt tên, ít ra thấy qua văn thơ được phổ biến rộng rãi trên báo, trong giới trẻ. Ông Trần Gia Phụng cho rằng tướng Thi bị Mỹ và Sài Gòn loại vì chống Cộng quyết liệt, đòi cả Bắc tiến là thiếu chứng cớ, không đúng sự thật, hay (vô tình) làm sai lạc sự thật, qua một đoạn sử viết khá dài. Nếu ông Thi thật sự chống Cộng quyết liệt như vậy, chính những người dân Huế phản chiến, chống Mỹ lúc đó đã không ủng hộ ông, và tìm chỗ dựa khác. Khi đứng vào, hay nghiêng về, hàng ngũ những người tranh đấu ở Huế lúc đó, ít ra ông Thi phải hiều rõ họ có những quan điểm, lập trường như thế nào về chiến tranh, về Mỹ, chứ không phải chỉ vì cùng là người Huế hay cùng là Phật giáo. Nguyễn Chánh Thi đã theo tướng Khánh từ Huế về Sài Gòn làm chỉnh lý ngày 30-1-63, bắt các tướng Đôn, Kim, Đính là những tướng lật đổ ông Diệm. Trong “Việt Nam nhân chúng” (trang 282) Trần Văn Đôn kể lại mẩu đối thoại trong đêm bị bắt, xin trích để thấy ông Thi “ngay thẳng” hay bộc trực thế nào. Tướng Thi hỏi, giọng hằn học:” Ông biết khi tôi ở Nam Vang về người ta cướp mất vợ của tôi tại sao ông còn đày tôi đi xa nữa (ý nói cho ra quân đoàn 1 ở Huế)? Tướng Đôn đáp: “Tôi không lấy vợ anh, chuyện vợ con anh là chuyên riêng của anh, sao tôi biết được. Tôi không đày anh đi đâu hết…, tôi cho các anh đi các nơi dể thấu hiểu tình hình trong nước.” Sau đảo chính 1-11-63, tướng Đôn phụ trách bổ nhiệm các tướng chỉ huy đơn vị, vùng. Tướng Thi lưu vong ở Nam Vang từ sau đảo chính 11-11-60 khi về nước bị đưa ra Huế đã là nỗi oán tức đối với những người làm đảo chính phục hồi chức vụ cho mình. Có phải như thế là nhỏ nhen và không phải (với người ân)?

    Theo Trần Gia Phụng,”thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo lại đảo chánh ngày 19-2-1965. Nguyễn Chánh Thi về Sài Gòn giúp chính phủ Phan Huy Quát, ổn định tình thế”. Ông Trần Văn Đôn cho biết cuộc đảo chính này do Lâm Văn Phát (Công giáo), Phạm Ngọc Thảo (Công giáo, và có thể CS), Nguyễn Bảo Kiếm là cán bộ CS cao cấp, lộ diện sau 30-4-1975. Ngày 25-2-1966, tuy đảo chính bị dẹp tan, nhưng Nguyễn Khánh bị ép phải ra đi. Tiếp theo, phía Thiên Chúa giáo phản đối chính phủ yếu kém, khiến thủ tướng Phạn Huy Quát cảm thấy bất lực nên từ chức. Quân đội họp lại bầu Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia (quốc trưởng), và Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương (Thủ tướng). Trước ông Kỳ, Nguyễn Chánh Thi đã được đề cử làm thủ tướng, nhưng không nhận vì thấy tình hình chưa được ổn định (theo sách Trần Văn Đôn đã dẫn, trang 369). Vào thời kỳ này Mỹ bắt đầu đổ quân vào VN.

    Biến động miền Trung có thể do ba nguyên nhân xa gần từ các sự kiện:

    1/ Chính phủ Phan Huy Quát coi như thân Phật giáo bị đổ, đây là chính phủ duy nhất có người của Phật giáo là GS Trần Quang Thuận làm bộ trưởng, nên nhóm Phật tử ở Huế bất mãn.

    2/ Chuyện Mỹ trực tiếp tham chiến quy mô ở VN làm tăng tinh thần phản chiến và chống Mỹ, đặc biệt cũng ở Huế. Chống lại việc Mỹ đòi vào tham chiến ở VN đã thấy ở ông Diệm, nhất là ở ông Nhu (chịu nhiều ảnh hưởng văn hoá Pháp), theo sử gia Eileen Hammer, rất thiện cảm với chế độ ông Diệm, tác giả quyển “Death in November: America in Vietnam, 1963”. Quyền sách này được dịch ra tiếng Việt “Bàn Tay Hoa Kỳ – Cái chết ông Diệm”, in ở Mỹ năm 1992.

    3/Tướng Thi có thể ấm ức về vụ mất chức thủ tướng vào tay ông Kỳ.

  9. Hoàng Trường Sa viết:

    Bạn Phùng Tường Vân,

    Tôi nhớ rất rõ là vào thời đó người dân Sài Gòn (dư luận và báo chí) thường gọi Tướng Nguyễn Khánh là Tướng RÂU DÊ (vì cái bộ râu khá hài hước của Ông). Nếu tôi nhớ không lầm thì trên báo chí thời đó có bài viết nói tướng Nguyễn Khánh là con nuôi của nữ nghệ sĩ cải lương Phùng Há.

  10. nguoiyeunuoc viết:

    Tôi cũng là người dân miền Trung trong giai đoạn đó, đã chứng kiến những gì xảy ra. Nay qua những gì đã đọc, đã đối chiếu, đã suy luận, tôi hoàn toàn thấy ông Liên Thành và ông Trần Gia Phụng viết là tương đối chính xác với sự thật.

    Không tham vọng hơn thua với ai và điều gì cả. Chỉ làm tròn nghĩa vụ của một công dân với lịch sử mà thôi. Tôi nghĩ ông Liên Thành và ông Trần Gia Phụng cũng có cùng mục đích như tôi.

  11. Trần Văn Tích viết:

    Theo tác giả Liên Thành trong sách “Biến động miền Trung” thì Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao bị mưu sát tại sân bay Tây Lộc ở Thành Nội chứ không phải tại phi trường Phú Bài như sử gia Trần Gia Phụng ghi nhận.

    Xin ghi lại nguyên văn đoạn sách liên hệ, tác giả tự tái bản lần thứ tư tại Âu châu tháng 7.2009, có hiệu đính, trang 48-49:

    “Từ Đà Nẵng đến Huế cùng với viên Đại Tá cố vấn phó Quân Đoàn là Arch Hamblen, Thiếu tướng Cao đã bị các Lực Lượng Tranh Đấu do đám sinh viên học sinh Quyết Tử cầm đầu, biểu tình phản đối. Bị đoàn biểu tình hàng ngàn người bao vây, Tướng Cao và đoàn cận vệ khó khăn lắm mới chạy thoát vào sân bay Tây Lộc ở Thành Nội. Tại đây, một phi cơ trực thăng của quân đội Hoa Kỳ đợi sẵn để đưa ông vào Đà Nẵng. Đoàn biểu tình rượt theo Tướng Cao và Đại Tá Arch Hamblen vào tận sân cờ Bộ Tư Lệnh SĐI. Trực thăng chở Tướng Cao và Đại Tá Arch Hamblen vừa rời khỏi mặt đất vài chục mét thì trong đoàn biểu tình, viên sĩ quan của sư đoàn IBB, Trung úy Nguyễn Đại Thức, rút súng lục bắn Tướng Cao; may mắn ông không bị trúng đạn. Lập tức, viên hạ sĩ quan Hoa Kỳ, xạ thủ đại liên của trực thăng, nổ súng bắn trả. Nguyễn Đại Thức chết gục ngay tại sân cờ BTL trước sự chứng kiến của Thiếu Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tỉnh Trưởng Nội An Thừa Thiên-Huế. Những ngày sau, Thích Trí Quang thành lập Chiến Đoàn Quân Nhân Phật Tử của Sư Đoàn IBB, lấy tên viên sĩ quan này đặt cho chiến đoàn, gọi là “Chiến Đoàn Quân Nhân Phật Tử Nguyễn Đại Thức.” (Câu văn cuối này, từ ba chữ Thích Trí Quang trở đi, sách in nghiêng và in đậm).

    Theo sự hiểu biết cá nhân thì địa điểm sân bay Tây Lộc trong Thành Nội có vẻ hợp lý hơn địa điẻm phi trường Phú Bài. Vì dường như trong biến động miền Trung và ngay cả trong vụ Tết Mậu Thân 1968, phi trường Phú Bài không bị các lực lượng quá khích hay cộng sản chiếm đóng. Tại đó có doanh trại của Sư đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ.

  12. Phùng Tường Vân viết:

    “Sau đó đọc báo [hay nghe kể lại (lâu ngày tôi quên chi tiết cụ thể)] thì được biết là Nguyễn Khánh cùng sinh viên hô to “Đả đảo Nguyễn Khánh”, “Đả đảo Hiến chương Vũng Tàu”. Vì nhưng lời tự đả đảo này nên từ đó về sau, Nguyễn Khánh được công luận tặng cho một mỹ danh liên quan đến nghệ thuật sân khấu cải lương, nhất là vì ông ta có bà con quen thuộc thế nào đó với một nữ diễn viên cải lương nổi tiếng” (TVT)

    Trên sân khấu chính trị vai trò của Nguyễn Khánh tuy ngắn ngủi nhưng đầy kịch tính, đôi khi có tính chất “cải lương” rất rõ rệt, từ ngoại hình khi ông ta để bộ râu như rễ củ hành ở dưới cằm cho đến những hành vi như lúc dời phi trường TSN khi thất thế… thậm chí cho cả đến những ngày sống như một lưu dân ở xứ người, người ta vẫn nhận ra một NK như vậy, còn chuyện ông ta có liên hệ xa gần như thế nào đó với diễn viên sân khấu cải lương PH là chuyện đã được báo giới, dư luận nói đến từ lâu.

  13. Trần Lâm viết:

    Bài viết của sử gia Trần Gia Phụng về Biến động Miền Trung 1966 khiến tôi hiếu kỳ muốn biết ông đã viết gì về Biến cố Phật giáo 1963. (Việt sử đại cương, tập 6 hình như chưa được xuất bản, nên không thấy có bán trên trang nhà của tiệm sách Tự Lực). Nếu Biến cố 63 và Biến động 66 được đối chiếu và phân tích song song với nhau một cách tường tận, thì có thể chúng ta sẽ có thể hiểu biết thêm rất nhiều về một giai đoạn quan trọng trong lịch sử miền Nam VN.

  14. Trần Văn Tích viết:

    Tôi cũng có mặt tại cuộc biểu tình ngày 25.08.64 ở Sài Gòn, tất nhiên không phải với tư cách biểu tình viên. Tôi và một đàn anh trong ngành dược đến đại lộ Thống Nhất “xem biểu tình”. Lúc chúng tôi tới nơi thì đám đông đang biểu tình ngồi. Sau đó đọc báo [hay nghe kể lại (lâu ngày tôi quên chi tiết cụ thể)] thì được biết là Nguyễn Khánh cùng sinh viên hô to “Đả đảo Nguyễn Khánh”, “Đả đảo Hiến chương Vũng Tàu”. Vì nhưng lời tự đả đảo này nên từ đó về sau, Nguyễn Khánh được công luận tặng cho một mỹ danh liên quan đến nghệ thuật sân khấu cải lương, nhất là vì ông ta có bà con quen thuộc thế nào đó với một nữ diễn viên cải lương nổi tiếng.

    “Biến động miền Trung” chấm dứt vào tháng Sáu năm 1966 nhưng chùa Ấn Quang Sài Gòn tiếp tục là cái nôi chứa chấp, dung dưỡng những hoạt động của tay sai Việt cộng, cho mãi đến ngày mất miền Nam. Trong vô số những hoạt động được biết đến, có các vụ chống quân sự học đuờng, chống chiến tranh Việt Nam. Chẳng hạn, ngày 10.07.1970, một số sinh viên tụ họp tại chùa Ấn Quang nhằm bàn tính triệu tập “Đại hội Sinh viên Thế giới Kỳ I” dự tính tổ chức tại Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (Nông Lâm Súc), sẽ khai diễn vào ngày 11.07.1970 trong số có Huỳnh Tấn Mẫm (quyền chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn), Lê Văn Nuôi (Chủ tịch Tổng đoàn Học sinh Sài Gòn). Cùng tham gia “tiền đại hội” có cả sinh viên phản chiến ngoại quốc (Mỹ, Âu, Úc) “du lịch” Việt Nam, như Charles Palmer, sinh viên Hoa Kỳ.

    Trước đó, ngày 01.07.1970, một “Đại hội Sinh viên miền Nam” được triệu tập tại Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp, với cùng mục đích chống đối như vừa trình bày. Chủ tịch đoàn, ngoài Huỳnh Tấn Mẫm, còn có Đoàn Văn Toại, Nguyễn Hoàng Trúc (Tổng hội Sinh viên Sài Gòn), Phạm Văn Xinh (Tổng hội Sinh viên Cần Thơ), Đại đức Thích Quảng Trí (Uỷ ban Sinh viên Tranh đấu chống Quân sự Học đường, Đại học Vạn Hạnh), Lê Văn Nuôi, Trần Hoài (Hội đồng Đại diện Sinh viên Huế). Trần Hoài được tác giả Liên Thành nêu tên nhiều lần trong sách Biến động miền Trung (chẳng hạn trang 320, trang 463; ấn bản Âu châu 2009).

    Trở lại với “tiền đại hội”. Huỳnh Tấn Mẫm đọc diễn văn khai mạc chống leo thang chiến tranh, đòi Mỹ rút quân, đòi Nixon thôi ủng hộ Thiệu, đòi hoà hợp hoà giải dân tộc. Sau đó kéo nhau đi biểu tình, Huỳnh Tấn Mẫm và Charles Palmer dẫn đầu, cùng giơ cao con chim bồ câu trắng. Theo sau là hai sinh viên nước ngoài khiêng một cỗ quan tài đỏ ghi hai câu thơ của Tố Hữu: “Căm thù lại giục căm thù, Máu kêu trả máu, đầu kêu trả đầu”. Biểu ngữ có “Stop war”, “Peace now” v.v…

    Thành ra, cộng sản không chỉ lợi dụng biến động miền Trung, cộng sản còn đứng ra giật dây, nếu không là tổ chức những vụ chống đối – nhất là ở Sài Gòn – sau biến động miền Trung.

  15. Phùng Tường Vân viết:

    “Cuối cùng, trong cuộc biểu tình lớn lao ngày 25-8-1964 tại Sài Gòn, Trung tướng Nguyễn Khánh xuất hiện và hô to khẩu hiệu: “Đả đảo Hiến chương Vũng Tàu”. Thế là HCVT bị dẹp bỏ.
    (Trần Gia Phụng)

    Tôi xin góp với tác giả một chi tiết vui vui cho nhẹ bớt “nỗi đời” lịch sử: Tôi có mặt ngay giữa cuộc biểu tình ngày hôm đó, lúc không khí căng nhất thì ở bên trong Phủ Thủ Tướng ông Nghiêm Xuân Hồng (Bộ Trưởng tại PTT) bước ra, ông nói với lãnh tụ sinh viên tranh đấu Lê Hữu Bôi là ông Khánh sẽ đến trong giây lát, một chốc Nguyễn Khánh tới, xuống xe đi lẫn chung với các sinh viên biểu tình và nghe họ hô “Đả đảo độc tài”, ông giơ tay lên cao nói “tôi đồng ý với các anh, đả đảo độc tài, nhưng tôi yêu cầu các anh cũng phải hô và hô to hơn đả đảo cộng sản nữa”, đây là một cảnh thật sống động, một cô bạn người Mỹ đứng bên cạnh tôi nói: “Ông ấy can đảm đấy chứ phải không anh?”

    Chắc chắn là không có vụ Nguyễn Khánh “… hô to khẩu hiệu Đả đảo Hiến Chương Vũng Tàu”

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>