Trương Thái Du – Bài toán mẫu một nghiệm số
13/11/2009 | 8:00 sáng | 48 Comments
Category: Văn hoá – Giáo dục
Thẻ: tranh luận về nền giáo dục Việt Nam
Kính thưa giáo sư Hoàng Tụy,
Là một sản phẩm của nền giáo dục Việt Nam trong gần 20 năm (từ 1973 dưới mái trường XHCN Bắc Việt), tôi xin được tôn gọi giáo sư là Thầy, dù chưa bao giờ được hân hạnh gặp mặt giáo sư ngoài đời. Nhân Hiến chương nhà giáo 20.11.2009, tôi trân trọng gửi đến Thầy nói riêng, và tất cả các bậc giáo thụ Việt Nam nói chung, lời chúc mừng chân thành nhất. Tôi cầu mong Thầy luôn luôn khỏe mạnh và tiếp tục cống hiến nhiều thành tựu cho nền giáo dục Việt Nam hiện đại.
Thưa thầy, là người đã và có con nhỏ đang thụ hưởng nền giáo dục Việt Nam, do các Thầy đặt nền móng tiên phong, tôi không thể không suy nghĩ trước sự kiện bài viết “Giáo dục: Xin cho tôi nói thẳng” của Thầy và những vấn đề liên quan đến việc website Tia sáng bị đóng cửa. Trong gần hai tuần, tôi đã đọc đi đọc lại bài viết gốc của Thầy trên trang mạng của Gs Trần Hữu Dũng hơn mười lần. Được động viên bởi đoạn kết: “Trong giáo dục, khoa học có những vấn đề mà tranh luận cả ngày cũng không kết luận nổi, nếu vốn hiểu biết và vốn văn hóa phổ quát quá khác nhau. Cho nên cần, rất cần chờ đợi và lắng nghe nhau, song trước hết phải được thẳng thắn trao đổi ý kiến”, tôi đã mạnh dạn rút tỉa những ý chính sau đây kính gửi thầy xem qua.
1. Hiện trạng giáo dục Thầy nêu ra hoàn toàn trung thực, bất cứ ai thường xuyên theo dõi truyền thông đại chúng đều nhanh chóng thấu hiểu nỗi ưu tư của thầy, thậm chí bản thân họ cũng có thể là dẫn chứng hùng hồn. Xin liệt kê chuỗi từ xuất hiện nhiều nhất trong bài viết của Thầy từ 50 lần đến 7 lần: Giáo dục, thay đổi/đổi mới/cải cách, quản lý, đào tạo, lạc hậu/yếu kém, lãnh đạo, bất cập, học việc, chất lượng/trình độ… Nửa cuối chuỗi thống kê mà tôi chỉ ra, hoàn toàn trùng hợp với một trong hai câu thầy đã hai lần nhấn mạnh trong bài: “Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới”. Từ khuôn mặt giáo dục ấy, dẫn chiếu qua nhiều khuôn mặt khác của xã hội, tôi thấy nó đều na ná giống nhau, chẳng hạn Giao thông, Y tế, Thương mại, Truyền thông v.v… thậm chí cả Ngoại giao nữa. Thầy thấy đó, chỉ cần thay từ “Giáo dục” ở chuỗi trên bằng một khuôn mặt khác của xã hội, ta sẽ có ngay một bài toán tương đương. Nói cách khác, khó tránh khỏi việc bài viết của Thầy có thể được coi như một bài toán mẫu cho những vấn đề xã hội nổi cộm hiện nay ở Việt Nam.
2. Nhà toán học vĩ đại người Pháp René Descartes từng nói “Tôi nghi ngờ, cho nên tôi tư duy, cho nên tôi tồn tại”. Do đó, xin Thầy cho phép tôi được nghi ngờ tính đơn tuyến và cái nghiệm số duy nhất mà thầy tin tưởng trong bài viết của mình. Nói cho cùng những bài toán xã hội phức tạp thường đa nghiệm và tồn tại nhiều cách giải, nó không hề khô khan và rất khó vận hành dưới những công thức, những tiên đề thường được ngợi ca là chân lý. Ít nhất ở thời điểm này, tôi có thể chỉ ra (nhưng sẽ bình luận sau) cách giải khác của nhà sử học Trần Gia Phụng đăng trên talawas blog ngày 7.11.2007, tựa đề “Giáo dục Việt Nam và viện IDS”.
3. Trong thâm tâm mình, tôi biết Thầy không có ý định đưa ra một “Bài toán mẫu”. Éo le là “Bài toán mẫu” đó có thể chỉ ra cách giải cho các vấn đề xã hội khác ở Việt Nam, và khi qui nạp lại, nó tự trình bày vấn đề lớn hơn ở thể chế, chứ không còn khu biệt trong “lãnh đạo” tại các bài toán đơn diện. Con đường tư duy này không sai, nhưng nó sẽ trở nên cực đoan nếu dừng lại tại đó. Tôi rất tiếc là với hơn 3000 ngàn chữ trong bài viết của mình, thầy chỉ duy nhất một lần nói đến văn hóa: “Trong giáo dục, khoa học có những vấn đề mà tranh luận cả ngày cũng không kết luận nổi, nếu vốn hiểu biết và vốn văn hóa phổ quát quá khác nhau”. Thể chế có phải là con đẻ của văn hóa hay không, đến nay tôi đã không dám chắc. Song, nền văn minh nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mình tiến lên văn minh đô thị trước và sau ngưỡng cửa thế kỷ 21 là không thể phủ nhận. Mối quan hệ biện chứng giữa con người và văn hóa, thiết tưởng, lại quay trở về bài toán giáo dục. Một nhà giáo dục lớn đổ lỗi cho lãnh đạo chính trị, tôi e rằng hơi phiến diện.
4. Tôi thông cảm rất nhiều với bài toán một nghiệm số của Thầy, nhưng lý tính cũng bảo tôi hãy thông cảm chút ít cho vị nào đã ra lệnh đóng cửa website Tia sáng. Hơn ai hết, tôi, một người thích phản biện, luôn bị “ném đá” trên thế giới mạng, dễ dàng nhìn ra cái vòng luẩn quẩn của nền văn hóa Việt Nam chưa bao giờ thân thiện với phản biện. Điều tôi ao ước lúc này là người đã ra lệnh đóng cửa website Tia sáng nên cho phép nó hoạt động trở lại, cũng như Giáo sư Hoàng Tụy sẽ bỏ ý định giấu mình trong “sự im lặng đáng sợ”.
Thưa Thầy, mở đầu phần kết của lá thư này, tôi xin trích một đoạn góp ý của Gs Neal Koblitz, từ blog DongA của Ts Trần Minh Tiến: “Một vài nhà bình luận Việt Nam mô tả tình trạng hiện nay bằng các ngôn từ của ngày tận thế, và tuyên bố rằng các vấn đề của giáo dục bậc cao đã trở nên trầm trọng đến mức cần phải có sự can thiệp từ phía bên ngoài – bởi những người nước ngoài – mới có thể dẫn đến cải cách. Một số thậm chí còn tin tưởng rằng vấn đề này chỉ có thể được giải quyết nếu như toàn bộ hệ thống kinh tế và chính trị được thay đổi – chắc với ý là bằng một mô hình nào đó theo mô hình tư bản phương tây”. Trong tiếng Anh, có một câu nói là: “Hãy coi chừng những ước muốn của mình.” Lý do (thường không nói đến) là bởi vì “anh sẽ lĩnh đủ nó.” (hết trích).
Neal Koblitz chứng tỏ mình tiếp cận vấn đề khá sâu sắc. Ông đã dẫn từ Lương Thế Vinh đến cả Thầy. Chỉ tiếc rằng ông chỉ đề cập đến phân đoạn giáo dục bậc cao. Ông nhìn nhận “Sự kính trọng đối với tri thức như là một phần trong văn hoá Việt Nam từ thời xa xưa”. Tuy ông bỏ sót yếu tố “trưởng lão” nhưng chúng ta không thể mong chờ một nhà toán học thuần túy như ông phải hiểu ngọn ngành rằng nội hàm “trưởng lão” cổ điển ở Việt Nam luôn dung chứa giá trị “trí thức”. Có lẽ Koblitz sẽ ngạc nhiên về điều đó. Năm ngoái, diễn đàn Oscar của xứ sở ông đã vinh danh bộ phim “No country for old man”, như lời tố cáo đanh thép vòng quay của những đồng đô la xanh nhuốm máu, được hoán chuyển trên nhiều bàn tay của các giai tầng trẻ khỏe trong xã hội, giữa cơn lốc vũ điệu bạo lực, chết chóc không ngừng nghỉ. Văn hóa Mỹ đã đang và sẽ cho ra rìa những người già nhưng đầy thành tựu và kinh nghiệm như nhân vật Ed Tom Bell do Tommy Lee Jones thủ diễn. Ngược lại, văn hóa truyền thống Việt Nam luôn đánh giá những người như Thầy là một trí thức bình phương.
Đó là nguyên nhân cơ bản và trực tiếp, để tôi ngồi xuống bên máy tính, mong được Thầy cho phép vấn an, nhân dịp ngày Hiến chương các nhà giáo Việt Nam.
Kính thư,
Trương Thái Du
Thạch Viên – Nhơn Trạch
11.2009
© 2009 Trương Thái Du
© 2009 talawas blog
“…tôi chỉ tin nhanh nhất là đời con tôi và chậm nhất là đời cháu tôi, văn hóa Việt Nam mới đủ khả năng làm thăng hoa nội dung nhân bản kia.” (Trích).
“Thể chế có phải là con đẻ của văn hóa hay không, đến nay tôi đã không dám chắc.” (Trích).
“Mối quan hệ biện chứng giữa con người và văn hóa, thiết tưởng, lại quay trở về bài toán giáo dục.” (Trích).
Tôi không rõ tác giả định nghĩa khái niệm văn hóa như thế nào? Cần có định nghĩa rõ ràng thì mới có thể xem xét tương quan của nó với các khái niệm khác như thể chế chính trị, trình độ giáo dục.
Nếu tôi định nghĩa văn hóa theo nghĩa hẹp là bao gồm trình độ nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của một người đối với các vấn đề xã hội (những yếu tố khác của văn hóa, chẳng hạn như khả năng cảm thụ nghệ thuật, theo tôi không liên quan nhiều đến các vấn đề chính trị và giáo dục).
Với định nghĩa hẹp như trên thì văn hóa là sản phẩm của tâm lý cá nhân, của nền giáo dục, và của các định chế xã hội.
Có một số nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý thực nghiệm chỉ ra rằng tâm lý và hành vi ứng xử của mỗi cá nhân (những yếu tố chính của văn hóa) chịu tác động mạnh mẽ của môi trường sống và những mối tương tác với các cá thể khác trong xã hội, do đó không phải là một “tham số ổn định” mà là một biến số thay đổi theo từng hoàn cảnh cụ thể. Chẳng hạn, mọi người thường hành xử một cách chính trực hơn khi có sự giám sát của người khác: khi đường vắng và không có cảnh sát giao thông, một người thường có xu hướng vượt tốc độ qui định; khi đi dạo trong rừng vắng vẻ, người đó có thể sẵn sàng tè bậy … nhưng cũng người đó sẽ tuân thủ luật pháp nghiêm túc nếu thấy bóng xe cảnh sát ở phía xa, và có thể sẽ nhịn cho đến khi về nhà chứ không dừng xe xả bậy xuống hè đường.
Văn hóa của người Việt có lẽ cũng vậy thôi, trong thời buổi mà “thượng bất chính” thì họ cũng lái xe loạn xạ và tè bậy vô tội vạ. Nhưng nếu có thể có một sự thay đổi về thể chế để thiết lập được những định chế tương đối tốt, thì có lẽ người dân sẽ hành xử khác ngay.
Như vậy, vấn đề không phải là chờ đợi “đến đời cháu” để cho văn hóa phát triển cao rồi mới thay đổi những thứ khác, vì nếu các định chế xã hội không thay đổi, thì có khi đến đời chút chít thì văn hóa cũng vẫn vậy thôi.
Tóm lại, chính vì những định chế xã hội và chính trị tồi dở mà biểu hiện văn hóa của người Việt thấp kém. Mà để thay đổi các định chế xã hội-chính trị thì yếu tố quan trọng nhất vẫn là thay đổi phẩm chất lãnh đạo và năng lực quản lý trước.
Ông TTDu,
Đành rằng việc cảm thụ nghệ thuật tuỳ theo mỗi người mà có sự trái ngược, khác nhau. Nhưng sự cảm thụ trái ngược và không đúng đó lại được dùng để truyền đạt, dạy dỗ thì sẽ tạo nên những “sản phẩm của nền giáo dục Việt Nam trong gần 20 năm (từ 1973 dưới mái trường XHCN Bắc Việt)”, mà chính ông đã nhận mình là một sản phẩm như vậy thì thật nguy hiểm.
Những sản phẩm đó mọc lên như nấm, nhan nhản khắp nơi trong mọi lĩnh vực xã hội và đang tồn tại đầy rẫy trong thể chế chính quyền hiện tại.
Những sản phẩm(được dạy dỗ từ cảm thụ sai) đó đang làm cho xã hội mục ruỗng, đất nước lạc hậu, tạo nên “những cơn lốc vũ điệu bạo lực chết chóc không ngừng nghỉ” như ông nói đó ông Du!
Vì vậy, những trí thức già như GS. Hoàng Tụy muốn ngăn chặn cái nhà máy giáo dục đang sản xuất những sản phẩm nấm độc đó. Ông đã nhìn thấy nguyên nhân của mọi nguyên nhân.
Cá nhân tôi không thích những bài viết của Trương Thái Du, vì thấy cách trình bày rối rắm, ngôn từ sử dụng dường như quá uyên bác, vượt khỏi vốn liếng tiếng Việt của tôi.
Tuy nhiên tôi nghĩ đó là quyền tự do ngôn luận của tác giác khi chọn cách trình bày ý tưởng của mình. Nếu ai không thích thì không nên đọc, vì trên thế giới Internet thiếu gì những bài viết “hợp khẩu vị” hơn? Một số người dường như không phản bác những điểm chính trong bài viết của Trương Thái Du mà chỉ tìm cách vặn vẹo những điều nhỏ nhặt để tỏ ra mình thông thái hơn, hiểu sâu sắc hơn về triết học, về vốn từ Hán Việt, v.v. Quá đáng hơn là có người chụp cho Trương Thái Du cái nhãn Hán gian. Tôi không tin những người thích chụp mũ người khác, không chấp nhận quyền tự do ngôn luận của người khác, lại có thể là người thật sự có tinh thần dân chủ và tự do.
Trong phe đối lập dân chủ chắc chắn có không ít những con sói đội lốt cừu: bên ngoài thì tỏ ra là yêu chuộng dân chủ tự do, nhưng bên trong thì thực ra là độc tài từ sâu trong tâm tưởng.
Hi vọng là, ngược lại, trong phe độc tài đang nắm quyền có vài con cừu đội lốt sói: đang nằm trong hệ thống quyền lực nhưng vẫn có tư tưởng dân chủ tự do, chờ có cơ hội sẽ có những đóng góp quyết định sự thay đổi thể chế. Biết đâu đấy.
Trở lại với bài viết của TTD, có vẻ TTD là người theo trường phái “cultural determinism” tức là luôn cho rằng văn hóa là nguyên nhân cơ bản của hầu hết các vấn đề xã hội: kinh tế, chính trị, giáo dục.
Nếu theo cách nói của TTD thì văn hóa là một tham số quan trọng trong bài toán giáo dục, thậm chí quan trọng hơn cả tham số “phẩm chất lãnh đạo và năng lực quản lý”. Trương cho rằng Giáo sư Hoàng Tụy chỉ chú trọng đến một tham số mà bỏ qua tham số kia, thì bài toán trở nên giản đơn quá mức, trở thành bài toán mẫu một nghiệm số. Ở đây có vấn đề về cách hiểu bài toán: trong trường hợp này thì, theo ý kiến chủ quan của tôi, nhà toán học Hoàng Tụy có lý hơn Trương nhiều:
Bài toán giáo dục không phải là một phương trình đại số như Trương hình dung, mà là bài toán tối ưu hóa: tìm cực đại của một hàm số là chất lượng giáo dục.
Đó là một bài toán phức tạp. Rất khó có thể cùng một lúc tìm được các giá trị tối ưu của mọi biến số, mọi tham số. Thế nên giáo sư Hoàng Tụy đơn giản hóa vấn đề bằng cách chỉ ra biến số nào là thực sự quan trọng, cần phải tối ưu trước: đó là phẩm chất lãnh đạo và năng lực quản lý.
Không phải là GS Hoàng Tụy phiến diện như Trương tưởng, mà vì giáo sư là một nhà toán học nên ông biết cách tối giản hóa bài toán để có thể tìm được nghiệm xấp xỉ. Còn nếu xem xét tất cả mọi biến số và tham số cùng một lúc vì vấn đề quá phức tạp, trở nên vô ích vì không sao tìm được nghiệm gần đúng chứ đừng nói là tìm được nghiệm chính xác.
Thế nên khi đối mặt với các vấn đề cụ thể trong đời sống xã hội thì sự “uyên bác” quá có khi lại trở nên vô tích sự.
Đọc phản hồi của ông Trương Thái Du, càng thấy ông là một kẻ ngụy biện đến cùng, dù sai đến mấy cũng không chịu thừa nhận, đúng là “trơ như đá, vững như đồng”. Đã sai bét bè le ra rồi còn lên giọng quảng đại: “Tôi sẽ rất thích thú tham khảo nhãn quan của bạn để xem lại bộ phim ấy, khi rảnh rỗi. Tuy vậy, tôi vẫn tin rằng sự nhìn nhận trái ngược giữa những người cùng thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật giá trị là rất bình thường”. Không bình thường đâu ông Du ạ, nếu như phân tích của cafedanda là đúng, thì tư duy, nhận thức của ông “có vấn đề” thực sự đấy. Tôi thì ngờ rằng ông chưa xem bộ phim này, hoặc xem rồi nhưng không hiểu nội dung phim.
Không biết ông Du có thích khi nghe ý kiến của cafedenda hay không, nhưng có lẽ ông thích hơn nếu cafedenda không “vặn vẹo” ông. Ông Du chỉ thích vặn vẹo, bắt bẻ người khác thôi.
-“Tôi không bịa ra câu trích dẫn đó, thế là đủ”. Đủ sao được, thưa ông Trương Thái Du. Ví dụ: Ông là bác sỹ, ông bốc thuốc, kê toa ẩu (do trình độ kém) làm chết người, rồi ông phủi tay: “Tôi không làm ra thuốc ấy, thế là đủ”. Đủ với ông, nhưng quan tòa họ không chịu đâu.
Tôi cũng khá ngạc nhiên khi ông vẫn có bạn cơ đấy, ai vậy ông, để tôi biết mà tìm họ để học về lòng dũng cảm và đức quảng đại. Ông có nghiên cứu về liên văn bản hay liên gì đó thì nhớ đọc cho kĩ nhé, đừng viết ẩu kiểu “nghe hơi nồi chõ” rồi thiên hạ họ cười cho.
@Cafedenda: Cảm ơn bạn đã nêu ra cách hiểu khác tôi, khi xem tuyệt phẩm nghệ thuật “No country for old man”. Tôi sẽ rất thích thú tham khảo nhãn quan của bạn để xem lại bộ phim ấy, khi rãnh rỗi. Tuy vậy, tôi vẫn tin rằng sự nhìn nhận trái ngược giữa những người cùng thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật giá trị là rất bình thường.
@Nguyễn Đình Đăng: Tôi viết tản văn chứ không đi sâu và cũng chẳng có khả năng đi sâu vào triết học. Tôi không bịa ra câu trích dẫn đó, thế là đủ. Những điều vặn vẹo của ông, cũng như một vài comment khác, muốn bác lại thì phải dùng lý thuyết liên văn bản, một người bạn của tôi khuyên như thế. Xin hẹn một dịp khác, tôi cần tìm hiểu thêm về liên văn bản.
Càng đọc, càng buồn cười về sự uyên bác rởm của ông Trương Thái Du. Ông sính dùng từ Hán Việt cho có vẻ cao siêu, bí hiểm nhưng lại hóa ra hũ nút.
– “Giáo thụ”: chức quan trông coi việc học ngày xưa ở một phủ, nay không dùng. Trong tiếng Trung Quốc, giáo thụ nghĩa như từ giáo sư ở Việt Nam (học hàm).
Hay là ông chỉ chúc mừng các giáo sư thôi, còn các giáo viên quèn khác không có học hàm không thuộc đối tượng chúc tụng của ông?
– “tựa đề”: vô nghĩa; chỉ có “đề tựa”, hay “tựa”, với ý nghĩa hoàn toàn khác với ý ông Du muốn nói; chắc ông Du muốn dùng “nhan đề”, nhưng có lẽ ông nghĩ viết như thế là thường quá, cần phải dùng “độc chiêu”.
Hay là ông không hiểu từ Hán Việt? Xin hiến cho ông câu chuyện vui sau: Có nhà giáo nọ viết lên bảng một công thức, học trò xin phát biểu rằng thầy viết sai. Thầy giật mình, rồi cười: “Em rất giỏi, thầy cố tình viết sai xem thử có ai phát hiện ra không. Thầy thử các em thôi, em thử sửa lại cho cả lớp xem nào”.
Ông dẫn câu của triết gia René Descartes, nhưng lại dẫn trật lất, do ông chưa đọc nguyên tác, chỉ dẫn theo wikipedia, là một nguồn có độ tin cậy thấp. Thực ra nếu ông chỉ dẫn lại câu mà mọi người đều biết, thì không có vấn đề gì. Nhưng để tỏ ra uyên bác, và lại phù hợp với cái ý “nghi ngờ” của ông, nên nết quả là ông bị bắt bài. Đã bị bắt bài rồi còn vụng về chữa cháy, thật không biết ngượng. Tôi đã nói với ông rồi, không nên chơi trò giả dối trên mạng, sẽ bị lật tẩy ngay.
Ông dẫn René Descartes, tưởng rằng là phù hợp với quan điểm “duy lý” hay “lý tính” của ông, ai ngờ bị ông Hòa Nguyễn bắt bài, chỉ ra rằng câu nói của René Descartes là duy tâm! Khổ cho ông Du quá, kiến thức nó cứ rắc rối lắt léo, biến ảo vô thường, làm ông bị hố to lần nữa. Giống như các vị cộng sản gộc của ta, sang Tây rồi ngớ cả người, vì cứ nghĩ rằng bọn tư bản phải thối nát lắm chứ, ai ngờ nó còn văn minh hơn cả “phe Ta”. Không biết rồi ông sẽ chống chế với ông Hòa Nguyễn ra sao. Theo tôi, ông nên tìm hiểu về ông Hòa Nguyễn, rồi gửi email xin lỗi, chứ đừng chống chế giữa bàn dân thiên hạ, ngượng lắm.
Mà ông có biết ngượng không nhỉ?
Hình như cụ Khổng có câu: “Tri chi, vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã”. Kính tặng ông để ông treo lên chỗ gõ vi tính.
Trương Thái Du thích trích dẫn Wiki (tiếng Việt) hơn nguyên tác, song lại bỏ sót một trích dẫn quan trọng dưới đây, cũng từ Wiki (nhưng bằng tiếng Anh) về câu khẳng định của Descartes.
http://en.wikipedia.org/wiki/Cogito_ergo_sum
viết:
“Cogito, ergo sum” (Usually translated in English as: “I think, therefore I am”, but can be less ambiguously translated as “I am thinking, therefore I exist” or “I am thinking, on the account of being”), sometimes misquoted as Dubito, ergo cogito, ergo sum (English: “I doubt, therefore I think, therefore I am”),[1] is a philosophical statement in Latin used by René Descartes, which became a foundational element of Western philosophy. (hết trích)
Còn chú thích [1] tại đó viết:
The extension “Dubito, ergo… ” was never used by Descartes himself. It appears in an anonymous introduction from 1765, signed by “Thomas”, which was included in the Descartes edition by Victor Cousin and is accessible together with Descartes works at the Gutenberg Project. It is misleading as if Descartes argument would be based on doubt, whereas it is inherent in any mental activity whatsoever.
(hết trích)
Dịch ra tiếng Việt:
———————————–
“Cognito, ergo sum” [thường được dịch là: “Tôi tư duy, vì vậy tôi hiện hữu”, nhưng có thể dịch rõ nghĩa hơn thành: “Tôi đang suy nghĩ, cho nên tôi tồn tại” hay là “Tôi đang suy nghĩ trên cơ sở của sự tồn tại của tôi”], đôi khi bị trích dẫn sai lệch thành “Dubito, ergo cogito, ergo sum” (Tôi nghi ngờ, vậy nên tôi tư duy, vậy nên tôi hiện hữu)],[1] là một khẳng định triết học bằng tiếng Latin do René Descartes dùng (nói , viết ra) – khẳng định đã trở thành nền tảng của triết học Tây phương.
Chú thích[1]:
Câu mở rộng “Tôi nghi ngờ, vậy…” chưa bao giờ được bản thân Descrates nói (viết) ra. Câu này xuất hiện trong một lời mở đầu nặc danh vào năm 1765, được ký tên “Thomas”, trong ấn bản Descartes của Victor Cousin [triết gia Pháp (1792 – 1867)] và có thể tải xuống từ Dự án Guttenberg. Câu mở rộng này là nhầm lẫn bởi nó làm như lý lẽ của Descartes là dựa trên sự nghi ngờ, trong khi lý lẽ đó là thuộc tính của mọi hoạt động tinh thần.
Ở đây, tôi thấy khá nhiều người thích máy móc sao chép về Việt Nam lời thoại trong phim JFK (1991) của Oliver Stone, nó được thốt ra bởi luật sư Jim Garryson: “An American Naturalist wrote: “A patriot must always be ready to defend his country against his government”.
Tôi cũng rất xúc động khi nghe điều ấy, nhưng tôi chỉ tin nhanh nhất là đời con tôi và chậm nhất là đời cháu tôi, văn hóa Việt Nam mới đủ khả năng làm thăng hoa nội dung nhân bản kia.
Đó là điểm khác biệt giữa nhiều quí vị đã comment và tôi. Xin các vị cho tôi hỏi, tại sao ngay cả những người thân thiết với diễn đàn này, muốn động viên tôi, đã phải email và trao đổi một cách riêng tư?
Ông Trương Thái Du,
Tôi thì không bàn về cái phần giáo dục – cơ chế mà ông đã đề cập nhiều trong bài phản hồi với GS. Hoàng Tụy. Ông biết là sẽ bị nhiều người ném đá, thì thôi, viên đá (phần giáo dục) của tôi cũng chẳng bõ bèn gì với ông.
Tuy nhiên, tôi chỉ muốn có đôi lời về cái phần kết luận trong bài viết của ông, khi lấy ví dụ bộ phim đã đoạt giải Oscar 2007 – “No country for old men”, để minh họa cho cái chính sách “bình phương” của nhà nước Việt Nam hiện nay đối với những trí thức có tâm huyết như GS. Hoàng Tụy.
Bộ phim đó, theo tôi nghĩ, hoàn toàn không mang thông điệp xã hội, văn hóa Mỹ đang loại bỏ những “người già nhưng đầy thành tựu và kinh nghiệm” như ông Trương Thái Du suy diễn. Mà ngược lại, thế hệ người già trong bối cảnh xã hội của bộ phim đó, đang cảm thấy mệt mỏi trước “cơn lốc vũ điệu bạo lực, chết chóc không ngừng nghỉ”, trước “vòng quay của những đồng la xanh nhuốm máu được hoán chuyển trên bàn tay của các giai tầng trẻ khỏe” mà phải dấn thân.
Ông TTDu đã xem phim và hiểu sai thông điệp của phim qua hình ảnh ông cảnh sát già mệt mỏi Ed Tom Bell (Tommy Lee Jones đóng). Thế hệ người già cần có một môi trường sống yên bình, một xã hội không bạo lực… để an hưởng những năm tháng còn lại của đời mình, khi đã vất vả cống hiến tuổi thanh xuân. Ông nhân viên cảnh sát già Ed Tom Bell muốn về hưu, nhưng ý thức và trăn trở trước cái xã hội đầy rẫy tội ác, bạo lực, Ed Tom Bell phải vào cuộc để hầu ngăn chặn cái ác với tâm thế chậm chạp, và nhu nhược.
Rất nhiều điều đáng nói về phim này, nhưng đây không phải là Tạp chí Điện ảnh Online, nên tôi không đi vào tranh luận chi tiết về phim này với tác giả TTDu. Tiếc rằng ông TTDu đã hiểu sai nên đã chọn một ví dụ minh họa không đúng cho bài viết của mình.
Những bậc trí thức cao tuổi như GS. Hoàng Tụy hoặc nhiều khác nữa, cũng mang tâm trạng chán chường, đôi khi muốn nhắm mắt làm ngơ giống như ông cảnh sát già kinh nghiệm Ed Tom Bell. Nhưng không, họ không phải là những người đơn giản, trí thức thì họ cất lên tiếng nói kêu gọi sự đúng đắn còn người thực thi công lý thì cố gắng tìm cách ngăn chặn tội ác cho dù sức kiệt tàn hơi.
Một xã hội mà sự nhiễu nhương, bất công, cái ác được hình thành một cách tự nhiên, khiến cái nhu nhược, sự mệt mỏi, cái lỗi thời cũng phải lên tiếng, nhập cuộc… thì cái xã hội đó đáng lên án, cái cơ chế đó không nên tồn tại. Đừng hiểu sai và vội loại bỏ, hoặc chê trách những công dân đầy trăn trở, đầy trách nhiệm, những “old men” có nhiều tâm huyết như vậy phải không ông Trương Thái Du?
Vài lời bàn phiếm góp ý thêm về triết lý của Descartes .
Khi Descartes nói “Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu”, thì ông ấy là nhà triết học duy tâm (idealism).
Descartes có thể nghi ngờ sự hiện hữu của bàn tay ông đưa ra trước mặt, vì không chắc thề giới bên ngoài như bàn tay là hiện hữu (có thật) hay không, hoặc sự cảm nhận của thị giác khi trông thấy bàn tay là có đáng tin không, nhưng ông cho chính sự nghi ngờ khi xảy ra như thế chứng tỏ ông đang tư duy, và do đó ông có thật (hiện hữu).
Từ điểm xác quyết “tôi hiện hữu”, Descartes đi tới những hệ luận như thế giới bên ngoài cũng hiện hữu, và cũng hiện hữu (một) Thượng Đế theo hai lập luận:1/ nếu ông hiện hữu, sự hiện hữu đó phải có nguyên nhân, không thể đến từ cái không có gí, nó phải được tạo ra từ đâu (hiểu là từ Thượng Đế), và 2/ theo ông, ý tưởng về Thượng Đế tồn tại như một thực thể khách quan vô hạn bên trong ông như do bẩm sinh, và khi đã có ý tưởng sáng tỏ về Thượng Đế như thế thì Thượng đế phải hiện hữu (để là nguồn gốc cho ý tưởng về Thượng Đế) .
Descartes cho khi ông tư duy, ông biết về điều tư duy và biết cái gí đó đang tư duy. Nhân đây, cái biết đó trong đạo Phật gọi là Giác, nhưng đối với đạo Phật là cái giác này chưa chắc tự giác (biết) được chính mình (như con mắt không thể tự thấy ). Theo đạo Phật khi còn trong vô minh, không thể biết được cái Giác đó, mặc dù cái Giác có thể thể hiện qua những tri giác, những kiến giải (thường sai lầm), chỉ cho thấy biết được bóng dáng của thực tại, và tạo ra những vọng tưởng. Cho nên có thể theo lý giải của đạo Phật, khi Descartes tin biết mình hiện hữu, thì không chắc đó là sự hiện hữu thật sự, mà có thể chỉ là ảo giác về hiện hữu của tự thân. Ngay câu nói “tôi hiện hữu”, với nghĩa “tôi thật có”, lại còn như phân biệt “tôi” với thế giới khách quan có thể hay không hiện hữu, là khác với quan điểm vô ngã của đạo Phật (dựa trên nền tảng không phải duy tâm).
Chủ nghĩa duy vật chắc chắn không chấp nhận những “suy tư” duy tâm của Descartes, nhưng không biết lập luận thế nào.
Mỗi khi họ Trương xuất hiện, mạng anh tẹc nét lại có bao chuyện vui, rộn ràng hẳn lên. Nếu bỏ qua chụp mũ, chì chiết, thì hay quá các bạn à. Thế giới phẳng tạo bình đẳng cho mọi người, hãy tôn trọng sự bình đẳng và tận dụng nó.
Thằng cháu nội 17 tuổi của tui đọc ké, nó hỏi ba mẩu truyện cười có nghĩa gì. Tui nói chắc là hòn đá ném đi RỖNG ÓC, hòn chì ném lại ĐẦU BÒ. Hơ hơ, trí thức trẻ nước Nam chửi nhau kín đáo để. Bọn già tụi tui bái phục bái phục.
Học tập Trương Thái Du.
Đó là cái thái độ, cái tính chất “nhất quán” trong mọi viết lách, phát biểu của ông ta: dứt khoát là đi nghiêm chỉnh như một anh Nghiêm Văn Túc thuở nào bên lề phải, bảo vệ và binh vực triệt để lãnh đạo, dùng đủ mọi thủ thuật, dụng ngữ một cách mầu mè đôi khi đi đến chỗ “cao siêu” (NVT) vô nghĩa…thái độ kiên trì nhẫn nhục và nhất là “nhất khí quán hạ”, “một tấc không di một ly không dời” của ông ta, rất nên học hỏi.
Nếu đã trích dẫn thì yêu cầu đầu tiên là phải trích dẫn chính xác từ nguyên tác. Không biết Trương Thái Du đã đọc “Discours de la méthode” (Luận về phương pháp) (1637) của René Descartes, chưa? Nếu chưa thì có thể đọc nguyên tác bằng tiếng Pháp tại http://www.gutenberg.org/etext/13846
Bản dịch tiếng Anh có thể đọc tại: http://www.gutenberg.org/files/59/59-h/59-h.htm
Câu “Je pense, donc je suis” (Tôi tư duy, vậy thì tôi hiện hữu) xuất hiện trong Phần IV (Quatrième Partie), khổ thứ ba. Descartes viết: “… Et ayant remarqué qu’il n’y a rien du tout en ceci, je pense, donc je suis, qui m’assure que je dis la vérité, sinon que je vois très clairement que pour penser il faut être, je jugeai que je pouvois prendre pour règle générale que les choses que nous concevons fort clairement et fort distinctement sont toutes vraies, mais qu’il y a seulement quelque difficulté à bien remarquer quelles sont celles que nous concevons distinctement.”
Tạm dịch:
“… Tôi tư duy, vậy thì tôi hiện hữu, rằng chẳng có gì đảm bảo là tôi nói ra chân lý ngoài việc tôi thấy rất rõ ràng rằng để tư duy thì cần phải hiện hữu, tôi cho rằng tôi có thể coi như một quy luật tổng quát là những gì mà chúng ta có thể nhận thức cực kỳ rõ ràng đều có thực, duy chỉ có một một khó khăn trong việc xác định những gì mà chúng ta nhận thức được một cách rõ ràng mà thôi.”
Những versions khác, nếu có, đều là biến tướng sai lệch của nguyên tác câu: “Je pense, donc je suis” (Tôi tư duy, vậy thì tôi hiện hữu) của Descartes.
Trường hợp Trương Thái Du có lẽ là một “bài toán mẫu”, và “dốt hay nói chữ” có lẽ là “nghiệm” (không có số) của bài toán mẫu này.
Kẻ hay rêu rao “lý tính”:
http://www.google.com.vn/#hl=vi&source=hp&q=%22tr%C6%B0%C6%A1ng+th%C3%A1i+du%22%2B%22l%C3%BD+t%C3%ADnh%22&btnG=T%C3%ACm+v%E1%BB%9Bi+Google&meta=&aq=f&oq=%22tr%C6%B0%C6%A1ng+th%C3%A1i+du%22%2B%22l%C3%BD+t%C3%ADnh%22&fp=1190927c2498a1c
nhưng lại dẫn hàng xóm người New Zealand và Wikipedia để bào chữa cho chuyện gán cho Descartes câu nói “Tôi nghi ngờ, cho nên tôi tư duy, cho nên tôi tồn tại” thay vì dẫn “Discours de la méthode”. Đúng là “bó tay chấm cơm, chấm canh” luôn!
Trương Thái Du cũng không phân biệt nổi giữa “số 1″ và “một đàn bò” mà lại đi rao giảng về số má. Thật hết chỗ nói.
Chắc chắn các vị phát biểu và góp ý thảo luận hoặc tranh luận trên diễn đàn này đều là trí thức hay học giả nên các vị dùng nhiều khái niệm và từ ngữ “bác học” để nêu và giải thích vấn đề.
Tôi là một người dân đen ít học, xin mạo muội góp vài ý kiến mà mình thấy, biết và trải qua từ thực tế (mà chắc chắn rằng giá trị của bất kỳ lý luận hoặc lý thuyết đều được kiểm chứng qua thực tế), như thế này:
Mục đích nền giáo dục của một quốc gia là làm cho con người trong quốc gia ấy dần dần có được phẩm chất, năng lực, trí tuệ,… như yêu cầu mà các nhà lãnh đạo quốc gia ấy đề ra. Như vậy, các nhà “lãnh đạo”, “lãnh đạo chính trị” hay “nhà quản lý giáo dục”,hay tất cả, vân vân và vân vân,… đang lãnh đạo, quản lý và điều hành quốc gia Việt Nam hiện nay (đang ở độ tuổi từ 30 đến 70), gần như tuyệt đại đa số đều là sản phầm của nền giáo dục XHCN. Nền giáo dục XHCN ấy chọn người để “giáo dục và đào tạo” từ cấp 3 và đặc biệt là cấp đại học theo “lý lịch chính trị gia đình”- ít nhất tồn tại ở miền nam VN cho đến khoảng những năm 1988, 1989. Cụ thể: Người được đi học đại học có “lý lịch chính trị gia đình tốt” chỉ cần thi tuyển đạt 3 điểm trong khi đó người có “lý lịch chính trị gia đình chưa tốt”(có thân nhân là “ngụy quân, ngụy quyền”,…) tùy theo cấp bậc phải đạt từ 16, 17 điểm trở lên, còn nếu người có “lý lịch chính trị gia đình xấu” (con em “ngụy quân, ngụy quyền” cao cấp hoặc người vượt biên)thì sẽ không bao giờ được Đảng và Nhà nước nhận để “giáo dục và đào tạo”. Với tiêu chuẩn như vậy thì sự lãnh đạo và quản lý quốc gia (trong đó có ngành giáo dục) hiện nay mà không có “vấn đề” mới là sự lạ!
Nói thêm 1 việc nữa. Trong ngành giáo dục, hiện nay có khẩu hiệu: “Tiên học lễ hậu học văn” (Xuất hiện chừng 10 năm trở lại đây, trường Trung, Tiểu học nào cũng đều có). Nhưng như thế nào là “lễ”? Các thầy, cô giáo của các em đang được dạy “lễ” hiện nay thì có thể từ bé (nếu ở miền Bắc XHCN) hoặc ít ra cho đến khi học làm thầy (ở các trương sư phạm) đều không được học “lễ” ở nhà trường XHCN, bây giờ đùng một cái bảo họ phải dạy “lễ” thì dạy làm sao! (Trong chế độ XHCN chỉ có khái niệm “đạo đức XHCN”, giáo dục XHCN, tâm lý XHCN,…không có khái niệm “lễ giáo XHCN”, chỉ có khái niệm “lễ giáo phong kiến”, mà “lễ giáo phong kiến” thì cần phải đả phá!)
Tìm hiểu về nguyên nhân thì có lẽ đó là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân” phát sinh nhiều “bất cập” ở nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực giáo dục vậy!
“Lời quê” tham góp vài điều. Có gì thất thố mong quý thức giả bỏ quá cho!