Trần Kiêm Đoàn – Đôi điều với Liên Thành về “Biến động miền Trung”
03/11/2009 | 10:00 sáng | 31 Comments
Category: Chiến tranh Việt Nam, Tôn giáo
Thẻ: Ngô Đình Diệm > Phong trào Phật giáo miền Nam trước 1975 > Thích Trí Quang
Sau hơn 30 năm ra nước ngoài im hơi lặng tiếng, gần đây ông Liên Thành, cựu thiếu tá trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế, viết hồi ký nói lên những gì ông biết về tình hình chiến tranh, chính trị và xã hội tại miền Trung Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1963 đến 1975.
Được tin Liên Thành sẽ ra mắt sách tại Sacramento, thành phố thủ phủ tiểu bang California vào đầu tháng 11 năm 2009. Đang là một cư dân tại thành phố này, tôi xin gởi lời chào Liên Thành, một đồng hương xứ Huế và cũng người đồng trang lứa với tôi. Trước cùng lớn lên và đã sống hơn nửa đời trong khung trời Huế và nay trong cảnh “tha hương ngộ cố tri!”
Tập sách Biến động miền Trung (viết tắt BĐMT) và những bài viết của Liên Thành về một số nhân vật thành danh xứ Huế đã tạo nhiều dư luận xôn xao trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Xôn xao, bởi vì về mặt tâm lý, khát vọng lý giải hậu quả bi thảm của cuộc chiến Việt Nam đã trở thành một nỗi ám ảnh thường trực và chung thân đối với tập thể người Việt tỵ nạn ở nước ngoài. Sự phân định, xác quyết, chỉ danh điểm mặt hai tuyến nhân vật thiện–ác, chánh–tà trong cuộc tương tranh ba mươi năm đầy máu lệ là một nhu cầu tình cảm, tâm lý và tri thức của cả một thế hệ đang lần bước đến tuổi già, đang từng tháng, từng ngày thay phiên nhau về đất.
Trong một tiến trình truy tìm bằng chứng, phân tích, lý giải để tìm câu trả lời cho một vấn đề, nếu chỉ đứng về mặt phương pháp luận thì Đông–Tây rất khác nhau. Người phương Tây thiên về lý, phương Đông ta thiên về tình; phương Tây thường lý luận và chứng minh bằng dữ kiện khách quan độc lập, phương Đông ta thường suy diễn bằng cảm nhận và kinh nghiệm chủ quan tập thể. Xác định điều này để nói lên sự dè dặt và cẩn trọng cần thiết về tính khả tín – mức độ đáng tin cậy – khi đọc và tìm hiểu một bản tin thời sự hay một tác phẩm liên quan đến tình hình thời cuộc như Liên Thành và BĐMT.
Qua những điều Liên Thành đã viết và đã nói trên đài phát thanh, trong các buổi hội luận thì chi tiết này kia có chỗ khác nhau, nhưng nội dung và chủ đích chỉ có 3 điều nổi rõ hơn cả:
Thứ nhất, Liên Thành đã cố gắng tạo ra một bối cảnh xuất thân đầy sôi động về vai trò và quyền lực cá nhân trong vị thế trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế quá nhỏ bé và giới hạn của bản thân mình trong bối cảnh chung của toàn đất nước bằng một thế giới thiên hình vạn trạng của lĩnh vực “tình báo”. Đó là một thế giới của mê hồn trận mà trong lịch sử chiến tranh và chính trị kim cổ, cho đến nay, con người vẫn còn hoang mang trong vấn nạn nhiều hơn là giải đáp vì nó dày đặc huyền thoại nhiều hơn là dữ kiện.
Thứ hai, Liên Thành đã cố ý cột buộc và đồng hóa phong trào đấu tranh Phật giáo 1963 và các hoạt động của Phật giáo trở về sau đều là cộng sản. Theo ông, các nhà sư Phật giáo trong hàng giáo phẩm lãnh đạo phong trào là đảng viên cộng sản. Từ đó, ông suy luận và diễn giải rằng, các sinh hoạt Phật giáo có liên quan gián tiếp hay trực tiếp với một tình hình xã hội miền Nam thời chiến đầy biến động là do cộng sản Việt Nam (CSVN) điều khiển, giật dây. Tự phong cho mình vai trò phán quan của một kiểu tòa án mặt trận thời chiến pha trộn với hình thức ngôn ngữ của các cuộc đấu tố, Liên Thành cho mình quyền tự do mạ lỵ không tiếc lời các đối tượng mà ông đã “phán” là cộng sản.
Thứ ba, Liên Thành đã tự mình, cùng lúc, đứng ra làm thủ lãnh, chứng nhân, nạn nhân, quần chúng… của một thế giới ma để ông tha hồ gắn lên môi, lên mép, lên nhân dáng tưởng tượng của những người đã nằm im trong lòng đất những lời nói, ý tưởng, động thái, chứng tích không thể kiểm chứng và không còn ai đối chất. Từ đó, ông đã đơn giản yên trí rằng, ông đã “đả thông tư tưởng”, thuyết phục được độc giả và người nghe đứng về phía ông để cho đấy là “sử liệu sống” của thời nay.
Tìm hiểu phản ứng của một số người giới hạn có dùng internet và đọc sách báo tiếng Việt thuộc mọi thành phần xã hội, tôn giáo, có biết đến Liên Thành và BĐMT thì được biết thái độ của họ đã thể hiện trong nhiều cách thế khác nhau:
- Những người tin những điều ông nói là đúng sự thật và lên tiếng thì đứng khắp mọi phía bên này, bên kia; đằng này, đằng nọ, nên kết luận phía này lắm lúc trở thành câu hỏi của phía khác.
- Những người cho Liên Thành là dối trá thì phản ứng lạnh nhạt. Họ cho rằng đây chẳng qua là một cuộc đánh trống khua chiêng của Liên Thành tự quảng cáo mình một cách dễ dãi phù hợp với bản chất cố hữu của ông từ trước tới nay với sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhóm “Phù Ngô phục hận” đầy bản lĩnh đang đứng ở hậu trường (?!)
- Những người có quan tâm mà im lặng thường không phải là họ không biết, nhưng chỉ vì vấn đề và hoàn cảnh chẳng đáng quan tâm nên không đáng nói mà thôi.
Trong giới hạn của một bài viết ngắn dưới hình thức “đôi điều góp ý”, thay cho lời chào hỏi xã giao khách phương xa đến viếng vùng mình, người viết không có tham vọng và có lý do đứng ở một vị trí nào đó để làm công việc biện minh không cần thiết và phán xét chưa đủ căn cứ cho các nhân vật và hoàn cảnh đã được nêu lên trong BĐMT. Những nhân vật lịch sử và những ván bài thời cuộc xin trả về cho lịch sử sẽ phán xét công bằng và chung quyết. Đây chỉ là đôi lời dấy lên như một phản ứng “qua đường thấy việc bất bằng chẳng tha” mà thôi. Xin đi vào nội dung:
Điệp báo và nói láo
Đó là nhan đề cuốn sách Of Spies and Lies của John F. Sullivan viết về mặt trận tình báo trong chiến tranh Việt Nam. Nội dung cuốn sách đã trực tiếp hay gián tiếp nhắc đến nhiều trường hợp các nhân sự Việt Nam trong giới thường dân, công chức, cảnh sát, quân đội… làm cộng tác viên, điểm chỉ viên với các đơn vị tình báo của Mỹ đã bị các đơn vị đặc nhiệm phản tình báo của CSVN đánh tráo tin tức. Sự đánh lừa trong nhiều trường hợp đã tạo ra những nguồn tin sai lạc nhằm gây mâu thuẫn, phân hóa, chia rẽ, hạ bệ và bôi đen phẩm cách của những nhân vật “bị” nổi tiếng mà xét ra không có lợi cho ý đồ lâu dài trong sách lược chiếm trọn miền Nam của họ. Giới tình báo hành chánh bị lừa ngồi trong công sở và bàn giấy chỉ việc rung đùi nghe báo cáo từ các cộng tác viên, yên trí lớn là đã “nắm vững tin tức tình báo” để phản ứng. Thái độ chấp nhận vấn đề – dối trá hóa thật – mà cứ mang ảo tưởng là nắm vững và giải quyết được vấn đề đã góp phần tạo nên những tai họa cho địa phương và cả miền Nam sau này.
Đọc phần nói về vai trò tình báo bao quát trong mọi lĩnh vực, thấu suốt mọi vấn đề, nắm vững mọi hoàn cảnh, thấy được mọi ngõ ngách bao gồm luôn cả ta, địch và đồng minh của Liên Thành trong BĐMT, người đọc có cảm tưởng như đang coi truyện võ hiệp kỳ tình. Trong đó, chưởng môn Liên Thành ngồi trong trướng võ đàn mà thấy hết hoàn toàn thiên hạ sự. Vì vậy, có thể tạm gọi BĐMT là một tập “hồi ức tạp ghi”… nghĩ chi nói nấy của tác giả Liên Thành; còn rất xa mới đủ tính khả tín của chứng tích và sử liệu.
Được biết Liên Thành lên tiếng là chỉ chấp nhận tranh luận “sự nghiệp tình báo” của ông với những người ở trong lĩnh vực tình báo mà thôi (?!). Riêng kẻ viết những dòng này chẳng thuộc nòi hổ báo, tình báo gì cả; nhưng chưa hẳn là kẻ “ngoại đạo” trong lĩnh vực này. Không biết nên chăng cần hé chút tâm sự riêng rằng, tôi đã từng dịch những hồ sơ “classified” cho Peter Downs, giám đốc cơ quan xã hội Tin lành Việt Nam (VNCS: Vietnamese Christian Social Services) suốt mấy năm liền song song với nghề dạy học. Sau này mới biết ông ta là cục phó CIA đặc trách miền Trung. Vì chỉ “dịch nhi bất tác” nên sau 1975, tôi chỉ bị đuổi dạy, lái xe lam mà khỏi đi tù. Tôi có hai người anh ruột. Ông anh cả là chỉ huy trưởng lực lượng Biệt kích Dù lần lượt ở các trại Biệt kích trọng điểm như Thượng Đức, Khâm Đức và Khe Sanh, gắn liền số phận sinh tử với các tổ nhảy toán tình báo vào đất địch. Anh đã tử trận ở Khe Sanh năm 1967 – “Biệt kích Dù vị quốc vong thân!” Ông anh thứ hai cũng ở trong lĩnh vực tình báo của quân lực Việt Nam Cộng hoà (VNCH), làm ở phòng an ninh Không đoàn 41. Thời gian làm việc với P. Downs và hoàn cảnh anh em chia sẻ, thông tin thường xuyên cho nhau đã giúp tôi học hỏi, làm quen và có được cái nhìn không ảo tưởng về một thế giới mà người khí tiết, kẻ gian tà, nhóm trung thành, phường phản bội biến hiện, quần thảo nhau như bóng với hình thường khó lòng phân biệt. Đó là thế giới tình báo hay nhân danh tình báo. Và, thêm vào đó, bản thân tôi cũng là chuyên viên điều tra tòa án (court investigator) về các hồ sơ tội phạm ngược đãi thanh thiếu niên thuộc chương trình CPS của chính phủ Hoa Kỳ trong suốt 18 năm công tác liên tục tại Sacramento.
Học hỏi và kinh ngiệm đã chỉ cho tôi biết rằng, đánh giá kết quả tình báo, điều tra là nhìn vào thành quả chứ không thể căn cứ vào hiện tượng chiến thuật và sách lược biểu hiện đầy vẻ “dung dăng, dung dẻ” biến hiện không lường trên bề mặt nổi. Kiểu cách dùng lời lẽ đại ngôn để vẽ hươu, vẽ vượn cốt làm hoa mắt thiên hạ về những điều vừa mâu thuẫn, vừa không thể nào chứng minh được là một lối diễn xuất phường tuồng, chẳng dính dáng gì đến tổ chức tình báo và tác dụng của tình báo đích thực cả.
Hoàn cảnh thực tế của Thừa Thiên Huế trong thời kỳ Liên Thành làm trưởng ty cảnh sát chỉ còn cái lõi thành phố là tương đối còn an ninh trong phập phồng lo sợ. Có thể nói đây là thời kỳ tệ hại nhất về mặt an ninh của xứ này. Chiều chiều, từng đoàn người dân quê trong độ tuổi lao động từ các vùng nông thôn phải đạp xe đạp lên thành phố ngủ trọ qua đêm. Bốn phía đều trở thành những vùng xôi đậu, ngày Quốc gia, đêm Việt cộng. Đi xe đạp rời khỏi cột cờ Phu Văn Lâu chừng 10 phút ra khỏi giới hạn An Hòa, Bao Vinh, Chợ Dinh, Dạ Lê, Thủy Xuân, Phường Đúc… sau chạng vạng tối là đã nơm nớp lo sợ du kích cộng sản bắt cóc hay bắn sẻ bất cứ lúc nào.
Trong cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968 của CSVN trên toàn miền Nam thì Huế bị rơi vào tình trạng thê thảm nhất. Trên 5000 người dân vô tội bị thảm sát. Theo các nguồn thông tin đáng tin cậy thì thủ phạm điểm chỉ bắt người và giết người là những giao liên du kích cộng sản nội thành mà phần đông trước đó, đã quen đường thuộc lối, lên núi và về đồng bằng; vào thành phố Huế dễ dàng như đi chợ. Nếu Liên Thành có một mạng lưới tình báo “cái gì cũng biết” như ông nói thì thực tế đau thương của Huế tự nó đã phản bác nghiêm khắc lời tự phong vu vơ, hoàn toàn thiếu căn cứ của ông. Theo tác giả chuyên nghiệp tình báo về cuộc chiến Việt Nam, James J. Wirtz, viết trong sách Tổng công kích Tết: Sự thất bại của tình báo trong chiến tranh (The Tet Offensive: Intelligence Failure in War) thì tình báo Mỹ đã biết trước cuộc tổng công kích này từ tháng 11 năm 1967, nhưng chưa xác định được ngày giờ đích xác. Sự thất bại của tình báo Mỹ bắt nguồn từ sự thất bại của tình báo Việt Nam, mặc dầu đã biết trước sự cố từ hơn 3 tháng trước.
Sự đại ngôn thái quá của Liên Thành trong lĩnh vực tình báo đã gây tác dụng ngược cho các chi tiết về những nhân vật và hoàn cảnh mà ông đã đưa ra với dụng ý chứng minh, phân loại và phê phán theo quan điểm tố cộng cực đoan và bất nhất riêng của mình. Mức độ đáng tin cậy về tính chất thiện, ác; chánh, tà của người và việc trong BĐMT cũng theo sự thổi phồng sai sự thật đó mà rơi xuống mức độ thấp nhất, hay trong nhiều trường hợp đã bị hiểu ngược lại. Chào mừng Liên Thành đến Sacramento, tôi chỉ muốn nhắc với người anh em đồng hương, đồng tuổi, thuộc dòng dõi quý tộc triều Nguyễn rằng, bản chất của tình báo là sự thông minh (intelligence) chứ chẳng phải là ngược lại.
Trả lời và câu hỏi
Như đã xác định theo tiêu đề của bài viết, đây chỉ là đôi điều góp ý ngắn gọn. Muốn phân tích và chia sẻ cho thấu tình đạt lý về vấn đề BĐMT với Liên Thành thì ít nhất cũng cần vài ba trăm trang như có người đã viết, vì nó liên quan đến quá nhiều nhân vật, nhiều sự cố đã thành cố sự. Do đó, tôi chỉ đi thẳng vào trọng tâm của vài ba vấn đề tiêu biểu.
Trước hết là vấn đề Phật giáo với cộng sản. Phật giáo Việt Nam (PGVN) – nói chung chứ không phải là Giáo hội PGVN thân chính quyền đang hiện diện trong nước – cơ bản theo tinh thần Đại Thừa. Đạo Phật đi vào cuộc đời hiện thực nên có sự tương tác tùy duyên giữa đạo và đời; đời và đạo. Tinh thần nhập thế của đạo Phật Việt Nam đã được thể hiện hài hòa từ thời Lý Trần. Vua Trần Nhân Tông là một thiền sư. Nhưng khi cần, vua cũng cầm quân ra trận đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Khi thanh bình trở lại, vua treo kiếm, coi chuyện công danh như đôi dép bỏ, lên Trúc Lâm Yên Tử tu hành giác ngộ. Đạo Phật Việt Nam uyển chuyển như một dòng sông; đi song song với dòng lịch sử dân tộc nên phải chảy qua những chặng đường quanh co, khúc khuỷu theo vận nước thăng trầm. Nhìn đạo Phật mà chỉ nhìn vào một giai đoạn, một bộ phái, một tổ chức hay một phong trào riêng lẻ nằm trong toàn thể sinh hoạt Phật giáo, rồi vội vàng kết luận đạo Phật như thế này, như thế kia… là nhìn biển qua sóng, nhìn sông qua bèo; nên có nhìn mà không thấy!
Khi Việt Minh (tiền thân CSVN) dấy lên phong trào toàn quốc chống Pháp vào mùa Thu năm 1945, những người Việt Nam yêu nước không phân biệt khuynh hướng, thành phần, giai cấp xã hội đều lên đường tham gia kháng chiến. Lịch sử còn ghi lại những hình ảnh cảm động của xóm đạo Tha La. Tuy đạo Thiên Chúa chịu nhiền ân nghĩa với Pháp, nhưng năm 1946, thanh niên xứ đạo Tha La bỏ ruộng vườn, xóm đạo lại đằng sau; Linh mục Nguyễn Bá Kính cũng cởi áo lên đường cứu nước. PGVN với lịch sử gắn liền với vận nước nên nhiều nhà sư từ Bắc chí Nam cũng đã tham gia những phong trào cứu quốc nên đã bị Pháp gọi là “Giặc Thầy Chùa”.
Sau thời kỳ Việt Minh trở thành CSVN thì sự hệ lụy giữa tôn giáo và chính trị kéo dài khi nổi, khi chìm; nhưng chưa bao giờ đạo Phật quay lưng với đất nước và dân tộc.
Trong BĐMT, Liên Thành đã nhìn thấy cộng sản khắp nơi. Điều này đúng. Khắp miền Nam, từ phủ tổng thống đến các nha, sở, bộ; trường học, chùa chiền, tu viện; thậm chí tư thất, tư dinh đều có cộng sản len lỏi vào. Liên Thành chọn bối cảnh cho “biến động miền Trung” bằng cách cắt một mảnh cuối cùng trong cuộc chiến Việt Nam từ 1963 đến 1975. Nghĩa là từ khi có phong trào tranh đấu Phật giáo và Ngô triều bị sụp đổ cho đến khi CSVN chiếm hết miền Nam.
Nội dung và chủ đích chính của Liên Thành và cái “Think Tank” (bồn trí tuệ) sau lưng ông là trang hoàng, sơn phết, làm đầy cho một cái khung định kiến đã đúc sẵn. Cái khung khép lại chỉ đơn giản như thế này:
Phật giáo + Cộng sản = Đảo chánh nhà Ngô + Mất miền Nam
Đó là… cứu cánh của cách đặt vấn đề trong BĐMT. Mọi phương tiện dầu đúng, dầu sai, dầu hay, dầu dở đều là phương kế khả thi nếu nó phục vụ cho cứu cánh đã đặt định. Điều khó hiểu nhất đối với một người đọc trung bình là có chăng trăm nghìn sự kiện mâu thuẫn và cách hành xử nghịch lý như những điều Liên Thành đã diễn tả trong BĐMT đã thực sự diễn ra tại miền Nam? Những thắc mắc chính đáng của độc giả đã thể hiện qua những câu hỏi cụ thể, đại khái như: Tại sao một trưởng ty cảnh sát nhỏ bé như Liên Thành lại có quyền lực khắp nơi, khắp chốn như vậy? Tại sao một nhân viên cấp tỉnh như Liên Thành lại có uy quyền trên cả hàng tổng, bộ trưởng? Tại sao một hệ thống quân giai có kỷ cương như quân lực VNCH lại để cho một viên thiếu tá địa phương như Liên Thành có quyền hành xử tùy tiện và bất chấp như thế? Chỉ có một trong hai bên đúng: Hoặc là giới lãnh đạo quân đội và dân sự miền Nam hoàn toàn vắng bóng; hoặc là Liên Thành nói sai sự thật. Nói cường điệu quá đà toàn những chuyện không thật thì người Huế gọi đó là nói “phách tấu”. Mà lẽ nào người Hoàng phái như Liên Thành lại đi nói điều phách tấu?
Có thể nói những tiết mục hấp dẫn nhất trong BĐMT là những màn “tình báo nổi”. Trong kỹ thuật tình báo kinh điển có nói đến phần nhận diện nhân dáng và quan sát tang vật hiện trường như một nghệ thuật “warm up” (hâm nóng) ban đầu để đo lường phản ứng của nhân vật; chuẩn bị tinh thần cho một tiến trình tra vấn tiếp theo. Nhưng không biết Liên Thành đã tốt nghiệp ở trường tình báo nào mà thường khi lẫn lộn giữa kỹ thuật nhận diện với tiểu xảo coi tướng của các ông thầy bói xem giò gà xứ Huế theo kiểu xếp bộ “mắt trắng môi thâm”, “tai dơi mặt chuột”… để sơ kết bản chất của những nhân vật mà ông sắp sửa kết án (nhưng chưa chắc đã thấy bao giờ). Cũng theo nguyên tắc tình báo quốc tế thì sự lẫn lộn giữa định kiến, cảm tính và lý tính sẽ “nullification” (vô hiệu) kết quả điều tra.
Trong số nhiều khuôn mặt được ông đưa ra tố cộng trong BĐMT, có hai nhân vật Phật giáo được ông chiếu cố tận tình nhất là thầy Trí Quang và thầy Đôn Hậu.
Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng nhân vật Thích Trí Quang vẫn còn là một đối tượng tham khảo và phân tích của các học viện chính trị, nhân chủng và xã hội quốc tế, nhất là ở Mỹ. Mọi sự suy diễn đơn giản và phiến diện về nhân vật này là một trường hợp “nullification” dữ kiện đáng tiếc mà tôi đã có dịp nói ở trên.
Gần 30 năm trước, lúc mới chân ướt chân ráo đến Mỹ thì tôi đã đọc một bài viết xuất phát từ vùng Tiểu Sài Gòn nói rằng, thầy Trí Quang là trung tá Việt cộng. Ngày CSVN chiếm Sài Gòn, thầy mang lon đội mũ trung tá cầm cờ chạy rông ngoài đường phố hoan hô quân miền Bắc. Tin tức kiểu tiếu lâm AVT đó, nay mới nghe lại Liên Thành lặp lại trong BĐMT! Không có gì thú vị và “xả hơi” hơn khi đọc về nhân vật Thích Trí Quang qua màn tình báo Liên Thành. Nguồn tin tình báo Liên Thành cho rằng, thầy Trí Quang là đảng viên cộng sản. Rằng, thầy là cộng sản gộc, nhận chỉ thị Trung ương Đảng đứng ra sách động phong trào đấu tranh Phật giáo. Đi xa hơn nữa, Liên Thành còn viết là thầy Trí Quang có người yêu già nhân ngãi non vợ chồng là một cô bé làm thị giả 13 tuổi. Có lý nào Liên Thành là cháu của danh tăng Thích Tịnh Khiết lại hiểu tổ chức Phật giáo Huế có tiếng về giới luật khắt khe, nghiêm ngặt một cách quá nông nổi và sai lạc đến như thế. Trong tổ chức Phật giáo làm sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng “thị giả” nữ 13 tuổi bên cạnh một thượng tọa là thế nào? Chưa hết, Liên Thành còn kể là ông đã cãi lệnh tướng tư lệnh cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan, vào lục soát phòng riêng của thầy Trí Quang và tìm thấy một bằng chứng hùng hồn cho sự nghiệp tình báo của ông là một cái xì líp đàn bà. Tưởng tượng vượt quá giới hạn đạo lý sẽ trở thành vô luân.
Thầy Trí Quang là một tu sĩ nổi bật trong cuộc đấu tranh Phật giáo 1963. Thầy được (hay bị?) báo chí Âu Mỹ và Việt Nam khai thác triệt để; hình thầy xuất hiện trên trang đầu của những tờ báo lớn như Time, FP với những lời bình luận nóng hổi. Đa số những bài viết đều có một điểm chung khá tương tự về khuynh hướng dân tộc của thấy Trí Quang: Không lệch theo con đường duy vật vô thần của khối cộng sản; mà cũng chẳng nghiêng về con đường duy linh nhất thần của khối tư bản. Thầy đứng giữa “hai lằn đạn”. Bên tả cho thầy là CIA, bên hữu cho thầy là cộng sản.
Biến động 1966 phát xuất từ nguồn gốc là người Mỹ đã chuyển hướng biến miền Nam thành kho súng đạn sau khi xoa tay bức tử triều đại Ngô Đình. Mỹ không muốn mất thời gian tái tổ chức một xã hội miền Nam theo mẫu mã dân sự ổn định như Hoa Kỳ mà nóng lòng muốn dứt điểm cuộc chiến Việt Nam để ôm Trung Quốc bằng cách quân đội hóa toàn miền Nam. Mỹ là chuyên viên dựng lên những chính quyền quân sự ở các nước chậm tiến và bất ổn như một sự dằn mặt giới lãnh đạo đương quyền do Mỹ hỗ trợ rằng, hãy khôn hồn, đảo chánh và lật đổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tại sao một miền Nam đang đối đầu với một đối thủ có bộ máy chính trị quá chặt chẽ như miền Bắc mà đồng minh Hoa Kỳ lại áp dụng một sách lược “ăn xổi ở thì” như vậy? Những chính khách miền Nam chống cộng không nằm trong guồng máy hành chánh quân sự đều có chung mối quan ngại như thế.
Thầy Trí Quang và một số các nhà sư Phật giáo đã đứng lên đòi hỏi một hiến pháp và một sách lược mới thích hợp cho chính thể VNCH ổn định và có thực lực tại miền Nam trong thời điểm 1966 là đi ngược lại sách lược của Mỹ đang triển khai tại vùng châu Á Thái Bình Dương. Đồng thời, CSVN cũng thấy được nguy cơ của một miền Nam ổn định. Trong lúc đó, Kissinger đang đi đêm thương thuyết với Bắc Kinh và thuyết phục nội các Johnson bỏ rơi miền Nam. Vô hình chung, nhân vật Trí Quang trở thành đối đầu cùng lúc với cả Mỹ lẫn CSVN. Và khi Mỹ đã bật đèn xanh với túi đô la lè kè bên cạnh thì dẫu cho họ có muốn sông cạn núi mòn trong chớp mắt cũng chẳng có gì là khó. Đã có quá nhiều tài liệu công bố nói rằng, Mỹ đã cho nhân vật Trí Quang một trong ba sự chọn lựa là: Im lặng bó tay vào chùa dịch kinh niệm Phật, lưu vong sang Hoa Kỳ hay về thăm… cụ Diệm (?!)
Trong suốt 40 năm qua, thầy Trí Quang sống yên lặng trong chùa, “thủ khẩu như bình, thủ ý như thành”. Tất cả về thầy Trí Quang sau 1975 mà tôi được biết là hai tác phẩm dịch thuật. Một là bản dịch Kinh Kim Cương, 263 trang, do Mai Lan Lệ Ấn hải ngoại ấn hành năm 1987. Hai là bản dịch Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, 1162 trang, cùng nhà xuất bản năm 1996.
Nhân vật thứ hai được Liên Thành mang ra trình làng là thầy Đôn Hậu. Hành tung và sự nghiệp của thầy được Liên Thành mô tả trong BĐMT thảy đều là “Việt cộng toàn ròn”. Rốt lại còn “dễ sợ” hơn là thầy Trí Quang!
Ông Đỗ Trung Hiếu, bí danh Mười Anh, người Quảng Trị, đảng viên cộng sản thâm niên, được Đảng giao làm công tác tôn giáo vận, một thời là kiến trúc sư Phật giáo Nhà nước, đã khách quan nhận định rằng, thầy Đôn Hậu bị phe cách mạng cưỡng ép đưa lên núi sau vụ Tết Mậu Thân ở Huế và đem ra Hà Nội trong thời gian chiến tranh, gán cho chức Ủy viên Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam; năm 1976 là đại biểu Quốc hội khóa 6 và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc. Nhưng một thời gian sau, để phản đối việc chính quyền cộng sản đàn áp Phật giáo ở miền Nam, thầy Đôn Hậu đã công khai bằng văn thư từ bỏ hết mọi danh vị và chức tước bị gán nói trên. Thầy cực lực chống đối việc thống nhất Phật giáo thành Phật giáo Việt Nam (thường gọi là Phật giáo Nhà nước hay Phật giáo Quốc doanh) để làm công cụ chính trị cho Đảng Cộng sản. Thầy giữ vững lập trường này cho đến ngày viên tịch (23.4.1992). Ý hướng của thầy đã biến thành hành động cụ thể. Cuối đời, thầy Đôn Hậu đã phó thác ấn tín lãnh đạo Phật giáo Việt Nam Thống nhất (PGVNTN) lại cho thầy Huyền Quang.
Trong truyền thống Phật giáo, truyền y bát cho nhân vật lãnh đạo kế thừa đồng nghĩa với sự phó thác tâm phúc nhất niềm tin và lý tưởng vào sự nghiệp hành đạo độ sanh của người kế vị. Với ý nghĩa đó, tưởng cũng nên khách quan tìm lại những nét tiêu biểu nhất về chí hướng của nhân vật thừa kế thầy Đôn Hậu trong PGVNTN. Trong cao trào kháng chiến chống Pháp năm 1945, như tôi đã lược trình ở trên, thầy Huyền Quang tham gia Phật giáo Cứu quốc Liên khu 5 trong những ngày đầu của cao trào yêu nước chống ngoại xâm. Năm 1951, thầy bị Việt Minh lúc bấy giờ đã biến tướng thành CSVN bắt giam lỏng 4 năm vì phản kháng quyết định độc đoán biến Phật giáo thành hội đoàn của cộng sản. Năm 1963, thầy Huyền Quang là tổng thư ký của Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, làm việc trực tiếp với Uỷ ban Liên bộ của chính phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Năm 1977, thầy Huyền Quang bị CSVN bắt biệt giam cùng với các thầy Thiện Minh và thầy Quảng Độ. Năm 1992, sau khi được sự phó thác của thầy Đôn Hậu trở thành người lãnh đạo kế nhiệm của PGVNTN, thầy Huyền Quang đã viết yêu sách 9 điểm, nêu lên những sai lầm của nhà cầm quyền và yêu cầu nhà nước CSVN phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Kết quả là thầy đã bị CSVN quản chế cho đến ngày viên tịch (5-7-2008). Ngoài ra, những tu sĩ Phật giáo ở vị thế lãnh đạo khác trong phong trào đấu tranh Phật giáo mà Liên Thành cho là do cộng sản dựng lên cũng đã bị CSVN ngược đãi, giam cầm như: Thầy Thiện Minh (chết bí mật năm 1978 sau thời gian bị giam cầm). Thầy Quảng Độ, thầy Đức Nhuận cũng bị tù tội triền miên.
Một nhà văn nào đó đã kêu lên: “Trong cảnh tranh tối tranh sáng này, anh em nhìn rõ mặt nhau thật khó!” Nhìn rõ nhau đã khó, phán xét đúng càng khó hơn.
Đôi điều với Liên Thành
Sau 35 năm im lặng, khi Liên Thành lên tiếng để xác nhận sự hiện diện của mình nơi đất khách thì tiếng nói của ông cũng đã lạc hậu mất 30 năm! Những ngày đầu sau 1975, người dân miền Nam hầu hết đều ngỡ ngàng trước thực tế. Câu hỏi lớn nhất vẫn là tại sao quân lực VNCH với phương tiện thủy, lục, không quân còn nguyên vẹn lại phải bị bức tử bỏ cuộc?
Khi ra nước ngoài, những thư viện lưu trữ tài liệu về chiến tranh Việt Nam phần lớn nghiêm túc và đáng tin cậy trong các trường đại học Mỹ mà tôi đã theo học và giảng dạy; kết hợp với phương tiện truyền thông đại chúng tại các nước tự do Âu Mỹ về Việt Nam phong phú đã giúp tôi tìm hiểu sự thật nên xin được bày tỏ sự bất đồng hoàn toàn với những điều mang tính “hồi ức” và suy diễn theo cảm tính bốc đồng của Liên Thành trong BĐMT. Sự kiện lịch sử đã nói lên quá rõ rằng, đồng minh Hoa Kỳ đã bỏ miền Nam vì quyền lợi của chính đất nước họ với đối tác mới Mỹ-Trung; cũng như trước đó, họ đã quyết định thay ngựa giữa dòng với chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm. Mỹ đã thực hiện rốt ráo nguyên tắc chi phối chính trị của họ trên toàn thế giới: Ai làm chủ túi tiền, người đó là vua. Chiến tranh và chính trị cũng chỉ là một hình thức “thương vụ” quốc tế. Có lời thì tiếp tục kinh doanh mà thua lỗ thì dẹp tiệm. Khi Mỹ đã quyết định thì họ đóng vai nguyên nhân, tất cả còn lại chỉ là nguyên cớ.
Trước khi phong trào tranh đấu Phật giáo phát khởi tại Huế thì Mỹ đã quyết định thay chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm vì tâm huyết sâu sắc, lòng yêu nước đậm cốt cách liêm khiết Nho phong và cách dùng người nhân hậu của Cụ đã bị nịnh thần và phản thần chuyên quyền lợi dụng. Nhất là ở miền Trung, tham vọng quyền lực và vật chất của thế lực gian thần ngày càng tác oai tác quái đã làm mờ đi chính nghĩa của cụ Ngô. Niềm tin khô cạn, nhân tâm lý tán. Thực trạng này làm chậm bước tiến chinh phục ảnh hưởng toàn vùng châu Á Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nên sự thay thế lãnh đạo là điều không tránh khỏi. Khi đèn xanh đèn đỏ của phú ông chi tiền đã chớp thì nếu không có phong trào Phật giáo này, cũng sẽ có vô số những phong trào tương tự khác, mang biển hiệu và màu sắc khác rộ lên.
Ngày 29-3-1973, cả miền Nam có bóng dáng ông sư bà vãi nào lên tiếng đâu, thế mà Mỹ vẫn đơn phương hoàn toàn rút quân ra khỏi Việt Nam. Nguyên nhân ở tận Washington DC và Bắc Kinh chứ không phải ở Huế, Sài Gòn hay nằm trong đống hồ sơ vụn vặt của một ông trưởng ty tỉnh lẻ như Liên Thành. Trâu bò đại khánh, ruồi muỗi đánh nhau. Thảm trạng của thân phận nhược tiểu xưa nay là thế.
Hoặc vì không đầu tư học hỏi nghiêm túc, không chịu tham khảo tới nơi tới chốn; hoặc vì một động cơ khó hiểu hay dễ dãi nào khác đã khiến Liên Thành đang đứng ở ngã tư thế giới nhưng vẫn tưởng như còn đang đứng ở Ngã Ba Bánh Bèo xứ Huế “mô rứa răng ri, thích chi noái nấy” qua 400 trang của BĐMT! Vì không dụng công, Liên Thành đã nhìn Phật giáo qua nhãn quan một chiều, qua sự hiểu biết giới hạn và qua nhận thức đóng khung của một viên cảnh sát trưởng địa phương. Liên Thành đã mang định kiến xào trộn với mớ hồ sơ vi cảnh và cái gọi là “tình báo” đầy hoang tưởng để cột buộc Phật giáo với cộng sản.
Hồi ký của những nhân vật trùm cuộc chiến Việt Nam, có đủ kiến văn, dữ liệu và thẩm quyền để nói như McNamara (viết trong In Retrospect), Kissinger (trong Diplomacy), Rusk (trong As I saw It), Nolting (trong From Trust to Tragedy)… Hay gần gũi với thế giới người Việt hơn là các hồi ký của hơn 20 nhân vật người Việt đã từng ở vị thế lãnh đạo trong cuộc chiến và thời kỳ cận đại, từ cựu hoàng Bảo Đại (Con rồng Việt Nam) viết về thời kỳ 1913-1987; đến tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cố vấn cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, (Khi đồng minh tháo chạy) viết về giai đoạn Mỹ tham chiến ở Việt Nam cho đến năm 1975 là những tư liệu lịch sử và chính trị đáng tham khảo. Thế nhưng khi viết về những sự kiện có liên quan đến thời kỳ biến động trong cuộc chiến và phong trào Phật giáo thời 1963 vẫn còn nhiều dè dặt và giới hạn. Tác giả cũng như độc giả khi được phỏng vấn, đều có chung sự suy nghĩ rằng, những hình ảnh và chứng liệu cụ thể nặng tính dữ kiện và sử liệu khoa học vẫn còn chưa đủ tầm cỡ để nhận định và đánh giá chân xác, khách quan về bối cảnh và nhân vật liên quan đến những cuộc biến động miền Trung. Mớ tài liệu nhếch nhác chạy giặc mang theo, tầm hiểu biết hạn chế, vị trí nhỏ bé và hồi ức tuổi già của Liên Thành đã đưa ông đến chỗ can đảm một cách thảm hại không đúng thời, đúng chỗ, đúng đối tượng đã làm cho độc giả, ngay cả những chiến hữu một thời thân cận nhất của ông, thất vọng.
Đây chưa phải là bài điểm sách và cũng chẳng phải là bài phản hồi nghiêm túc tương xứng với vấn đề đặt ra mà chỉ là đôi điều góp ý.
Cũng xuất thân là một người con trai đàn ông Huế như Liên Thành, điều góp ý gần gũi nhất là những gì liên quan đến quê hương xứ sở mình. Huế nghèo nhưng thanh bạch. Thanh bạch trong cách sống và trong lời nói. Người bốn phương yêu Huế vì cái phong cách Huế mà đặc biệt là sự tao nhã, tính văn hóa và dáng vẻ khiêm cung trong ngôn ngữ. Rất tiếc là Liên Thành rời Huế quá sớm nên không chứng kiến được sự dị ứng và trăn trở của Huế sau ngày miền Bắc thắng trận. Đó là khi một thiểu số thành phần xuất thân giữ trâu, giữ bò vô học trở thành người chiến thắng, có chút thế lực trong tay ngông nghênh dùng lời lẽ hạ cấp bất xứng với người thất thế. Những người này đã gọi là “thằng”, là “hắn” là “lũ” là tên này tên nọ tuốt luốt như: “Thằng Thiệu, thằng Kỳ, thằng Mỹ, thằng Ngụy…” với những người đáng tuổi cha ông của mình ở miền Nam bị liệt vào thành phần Mỹ, Ngụy; ngược lại thì cũng tương tự như những người mà Liên Thành liệt vào thành phần cộng sản trong BĐMT. Loại ngôn ngữ hằn học, thô lỗ, thiếu văn hóa đó đã bị không những Huế mà tất cả người miền Nam khinh bỉ và lên án. Dẫu có ngoan cố bào chữa cách nào cũng không ai chấp nhận nên cuối cùng họ phải bỏ đi. Tôi hơi ngỡ ngàng khi bắt gặp loại ngôn ngữ thô bạo này trong BĐMT mà Liên Thành đã dành cho bất cứ ai, kể cả thầy dạy học cũ của mình, các vị tu sĩ Phật giáo cao niên, những nhân vật lớn nhỏ mà ông đã quy kết là cộng sản, theo cộng, hay thân cộng. Xuất thân là một sĩ quan, một sinh viên đại học Huế, một người Hoàng phái danh gia tử đệ mà vô tình ông Liên Thành đã giẫm lên vết chân của những người thuộc thành phần thấp kém từ Bắc mới vô Nam năm 1975 thì quả là điều xót xa và đáng tiếc! Qua Mỹ đã hơn 30 năm và đã từng làm trong nghề an ninh trật tự xã hội, ông Liên Thành cũng hiểu ít nhiều về nguyên tắc luật lệ và trật tự của một xã hội có văn hóa và văn minh: Dẫu là người phạm tội rành rành nhưng chưa có phán quyết của tòa án thì vẫn còn là nghi can. Nhưng cho dẫu là tội phạm chăng nữa thì cũng phải đối xử công bằng và nhân bản. Lẽ nào Liên Thành không biết hay quên?
Được hân hạnh đón Liên Thành về thăm vùng đất tỵ nạn của mình đã sống trong hơn hai chục năm qua, tôi chỉ ước mong những người cùng thế hệ, cùng chịu chung nỗi vinh nhục của quê hương gặp nhau, nhìn nhau và thấy được nhau.
Là một Phật tử độc lập, tôi chỉ biết theo giáo lý nhà Phật để tự giáo hóa chính mình tìm sự an lạc như phần đông các Phật tử xuất gia và tại gia khác. Có thêm được chỗ dựa tinh thần và năng lực hóa độ của tăng ni đạo cao đức trọng vẫn là ân đức mong tìm của người Phật tử. Cho nên tôi vẫn thường lặp đi lặp lại hoài như một lời tâm niệm về hình ảnh đạo Phật là một biển thái hòa an lạc. Nước của trăm nguồn đổ về biển cả, dẫu cho trong sạch hay dơ bẩn đến mức độ nào thì cuối cùng cũng được hóa giải. Trên đường tìm cầu học hỏi, chúng tôi không ngây thơ cho rằng, tất cả tăng ni qua hình tướng đầu tròn áo vuông đều là thánh tăng hay chân tăng. Nhất là trong thời đại “kinh tế thị trường” vàng thau lẫn lộn này thì nhìn rõ chân tướng của nhau thật khó. Ai không an trú trong giới luật, sẽ thọ lãnh nghiệp quả của mình. Tiền thân của đức Phật là bồ tát Thường Bất Khinh. Gặp bất cứ ai, ngài cũng cất một lời khiêm tốn: “Thưa ngài, tôi không dám coi nhẹ ngài vì ngài là một đức Phật tương lai!” Nhân danh là những nguời Phật tử, chúng ta có thể nói với nhau một lời đơn giản mà sâu dày như thế được chăng.
Sacramento, cuối Thu 2009
© 2009 Trần Kiêm Đoàn
© 2009 talawas blog
Bình luận
31 Comments (bài “Trần Kiêm Đoàn – Đôi điều với Liên Thành về “Biến động miền Trung””)
« Trang trước 1 2 3 Trang sau »
Xin giới thiệu nhận định của Lữ Giang dưới đây, đã phổ biến trên mạng hôm qua, về bài viết của ông Trần Kiêm Đoàn đăng ở đây và ở vài chỗ khác. Chỉ là để hiểu thêm vể Lữ Giang, về thái độ và những gì LG viết về Phật giáo miền Nam trước kia. Nhân đó, cũng để thấy sách của Liên Thành được một số người tiếp nhận hay bênh vực như thế nào.
Tôi vẫn cho đọc Liên Thành có thể thấy giá trị ở những gì anh đã làm và đã chứng kiến tại Huế trong thời gian từ 1966 đến 1975. Những chuyện khác trong sách, viết ngoài Huế và ngoài quãng thời gian đó, thì không nằm trong tầm hiểu biết của môt sĩ quan cấp thấp, và lúc đó tương đối còn trẻ như anh. Khi Liên Thành cho là kể lại hay nhận định về những thứ chuyện ngoài tầm đó, tôi tin anh đã dựa vào sách báo của nhiều người khác có rất nhiều trên mạng, cũng có thể dựa một phần vào bài viết của Lữ Giang được một số ngưòi đọc và tin theo.
HN
————————–
Cũng chỉ là hoả mù!
Lữ Giang
Tôi thấy bài của Trần Kiêm Đoàn gởi theo dưới đây cũng thuộc loại “hỏa mù”. Liên Thành đã nêu lên quá nhiều sự kiện xác thực, phe bênh vực không thể đưa ra được phản chứng nào để chống lại, chứng minh Liên Thành viết sai, nên dùng “hỏa mù” để che đậy, chơi trò cả vú lấp miệng em. Lối viết này không có giá trị về phương diện sử liệu.
Sau khi cướp chính quyền tại miền Nam thất bại, GHPGVNTN bể thành nhiều mảnh, phe Giáo Hội Ấn Quang (trong đó có Thiền Sư Nhất Hạnh) đi theo Cộng Sản. Đó là chuyện không thể chối cãi được. Cuốn Bạch Thư của Hoà Thượng Thích Tâm Châu cũng đã chứng minh điều này.
Sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Giáo Hôi Ấn Quang tưởng mình “có công với Cách Mạng”, đã tổ chức “Mừng Giải Phóng” và “Sinh Nhật Bác Hồ” sau đó phái Hoà Thượng Đôn Hậu ra Bắc xin thống nhất Phật Giáo với tham vọng sẽ “thống lãnh” Phật Giáo, nhưng nhà cầm quyền CSVN đã nhận ra được mưu đồ đàng sau, chẳng những không chấp nhận mà còn gọi là “Phật Giáo phản động”. Một phần Giáo Hội Ấn Quang đi theo Cộng Sản, một phần chống lại.
Chúng tôi đã nói nhiều lần, trong thực tế, sự thật còn kinh hoàng hơn những gì Liên Thành đã viết nhiều, nhất là tại Đà Nẵng từ 1964 – 1966 và cuối tháng 3 năm 1975. Khi nào rảnh chúng tôi sẽ đưa lên.
Xin trả lời ông P:
Tôi chỉ có bản in quyển “Việt Nam 1945-1995”, cùa giáo sư Lê Xuân Khoa, dài hơn 500 trang, do nhà xuất bản Tiên Rồng in năm 2004 (tôi mua online tại http://www.tuluc.com). Tôi thấy GS Lê Xuân Khoa có lần gửi bài viết ở đây, nên có thể sẽ trả lời câu hỏi về sách rõ hơn.
Tôi nghĩ quyển sách này trình bày đầy đủ, lại tương đối ngắn, khi viết về thời kỳ lịch sử VN, và riêng ở miền Nam, kéo dài trong 30 năm (hay hơn 10 ngàn ngày đêm), với rất nhiều biến cố và đau thương, mà có lúc được coi là thời sự hàng đầu của thế giới. Tài liệu được sưu tầm rất cẩn thận, lấy từ nhiều nguồn với nhiều tư liệu mới, và đáng kể nhất có lẽ là thái độ khách quan, công bằng của tác giả đối với nhiều phía đối nghịch, đối với nhiều nhân vật có liên hệ trong giai đoạn lịch sử đó.
Tôi là một người sinh sau chiến tranh nên cũng chỉ biết về lịch sử giai đoạn 1963 – 1966 qua sách vở. Trong đó tài liệu về biến cố 1963 có lẽ nhiều hơn hẳn 3 năm sau đó.
Tôi nghĩ những gì xảy ra năm 1963 trước hết do sự đối xử bất bình đẳng của chính quyền đối với Phật giáo kéo theo việc tấn công bạo lực vào chùa chiền (gọi là đàn áp). Tôi không thấy sự đấu tranh của Phật giáo năm 1963 là quá khích. Những năm sau (1964 – 1966) thì tôi chưa có cơ hội để tìm hiểu rõ.
Tôi chưa đọc Biến động miền Trung của Liên Thành, nhưng tôi đã đọc bài viết về Trịnh Công Sơn của ông. Nhận xét đầu tiên của tôi là nó có khuynh hướng (mà tôi đã từng gặp ở một số người khác) phải áp đặt con người vào một phe phái, một bên, không cho con người ta “không theo phe nào cả”. Anh không theo tôi nghĩa là anh theo nó, và là kẻ thù của tôi.
Nếu đọc để tìm hiểu về lịch sử mà phải đọc những trang sách viết trên tinh thần đó thì quả thật là… đãi cát tìm vàng.
Bởi vậy tôi rất mong những người trong cuộc lên tiếng giúp chúng tôi có nhiều cơ hội hơn để gạn lọc, tìm hiểu. Thông tin đã khó kiểm chứng mà lại không nhiều thì rất thiệt thòi cho chế hệ chúng tôi phải kế thừa một di sản như vậy.
Nhân đây tôi cũng gửi một link bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Phan phản hồi bài Trịnh Công Sơn của ông Liên Thành mà tôi vừa đọc (hình như có bạn đọc nào hỏi về những phản hồi của các “nhân chứng sống” như HPNP, v.v…): http://www.giaodiem.us/us-2009/3_2009/07.18.09.hpnphan.htm
Và bài ông Đặng Văn Âu đáp trả:
http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6422
Tôi không tìm thấy ông Hoàng Phủ Ngọc Phan trả lời ông Đặng Văn Âu về chi tiết “ghé nhà TCS” (chi tiết đáng đọc nhất trong bài của ông ĐVA) cho rõ ràng. Tiếc thật!
PS:
@Bác Hòa Nguyễn: Bác có nhắc tới quyển sách của GS Lê Xuân Khoa, không biết có thể tìm quyển này trên internet?
Trong cuộc chiến tranh quốc-cộng, CSVN có lợi thế hẳn hoi: đó là một bộ phận không nhỏ người dân miền Nam nhất là trí thức và những bậc tu hành chỉ biết CS qua lý thuyết mà chưa từng chung sống với nó. Nếu những vị trí thức, tu hành này không là CS thứ thiệt thì cũng vô tình tiếp tay cho CS. Thay vì đấu tranh ôn hòa và xây dựng lại đi đả phá đòi lật đổ VNCH cho bằng được. CSVN mừng lắm. Khác với họ là những người Bắc di cư 54 bị chế độ CS miền Bắc tìm đủ mọi cách ngăn chặn bước chân ra đi như đã làm sau này khi nắm trọn đất nước năm 75. Những người Bắc kỳ di cư có nói về CS nhưng ít ai tin mà còn cho rằng họ vào Nam vì kinh tế. Nếu họ ra mặt ủng hộ chính quyền miền Nam thì cũng có thể mang tai tiếng…
Một người lính Địa phương quân VNCH đã tâm sự với tôi như sau: nếu phải đi lính ra Vùng I Chiến thuật thì trốn vào bưng làm du kích xã sướng hơn (vì được gần nhà!). Đây cũng là một thực tế đau lòng và khi mọi người hiểu rõ thực chất của CS thì đã muộn màng. Chẳng biết trách ai nếu họ chưa cùng sống và hiểu bản chất thực của CS. Trách là trách những kẻ hưởng bổng lộc đang ra sức duy trì chế độ đó.
Tôi định trả lời cô/bà/ông Le Chi vì thấy câu hỏi mang thành tâm thiện ý thì ông Hoà Nguyễn đã làm, thật quí hoá. (Một số quí vị khác cũng có hảo ý tương tự, nhưng chỉ hướng dẫn vào “ling” này, mở “vép” kia nên tôi e sẽ khiến một người trẻ tuổi muốn tìm hiểu vấn đề thêm rối trí.) Do đó tôi xin có đôi dòng bổ túc thêm.
Nhưng trước hết, cần nói rõ ràng và nói dứt khoát là không có chính phủ quốc gia nào chủ trương đàn áp Phật giáo, dù cho dưới chế độ Đệ nhất hay Đệ nhị Cộng hoà. Chỉ có sự xung đột giữa chính quyền và nhóm Phật giáo Ấn Quang quá khích.
Nguyên ủy của vấn đề là sự kiện lịch sử: khi miền Nam thoát ách đô hộ của người Pháp thì thực dân còn để lại một số luật lệ bất bình đẳng giữa các tôn giáo (nhất là nếu so sánh với Công giáo) chẳng hạn đạo Dụ số 10, chỉ xem Phật giáo như một hội tư.
Cho nên Phật giáo tranh đấu và tất nhiên được thoả mãn.
Rất tiếc là sau khi được thoả mãn đòi hỏi hợp tình hợp lý của mình, Phật giáo không kiểm soát nổi nội bộ, để cho một nhóm tu sĩ, Phật tử – mà một số người gọi là quá khích, trong số có tôi – lộng hành như ông/bà Hoà Nguyễn đã trình bày.
Tôi đã đọc kỹ phản hồi của ông Đặng Thế Hùng và xin có nhận xét sau đây:
1) Việc so sánh vai trò Phật giáo dưới thời Lý, Trần với thời chiến tranh Nam-Bắc là khập khiễng. Chiến tranh dưới thời Lý, Trần rất rõ ràng là chiến tranh chống ngoại xâm. Chiến tranh Nam-Bắc là giữa người Việt với nhau, các tu sĩ Phật giáo không nên xen vào.
2) Trong lúc hệ thống hành chính của các TT Diệm, TT Thiệu trăm công ngàn việc để đương đầu với việc giữ nước, các nhà sư thay vì đóng góp cho chiến tranh, lại biểu tình với mít tinh, hết kiến nghị đòi ngưng bắn đến biểu tình chống tham nhũng, hết đòi điều tra gian lận bầu cử đến đòi dân sự hoá chính quyền, khiến miền Nam Việt Nam bị suy yếu và dẫn đến sụp đổ.
3) Tôi thấy đa số những độc giả nơi đây rất có lòng với dân tộc và quan tâm đến tương lai hơn là quá khứ. Vậy tại sao không lập một chính quyền hải ngoại, tập hợp những nhân chứng lịch sử có tài lãnh đạo và nổi tiếng đức độ như bà cố vấn Trần Lệ Xuân (còn sống ở Pháp) hoặc tác giả trưởng ty công an Liên Thành chẳng hạn. Bên văn bên võ, thật là một công thức tuyệt diệu cho dân tộc. Phải có chỗ dựa tinh thần vững chắc thì mới có hậu thuẫn trong nước.
4) Chuyện CIA xác nhận nhà sư Thích Trí Quang không phải là cộng sản không có nghĩa là họ đúng. Trăm hay không bằng tay quen, một bác sĩ sản khoa chắc gì giỏi bằng bà mụ xóm dưới?
Tôi xin góp ý thêm với câu hỏi của Le Chi: “nếu như TT Diệm và chính phủ của ông đã đàn áp Phật giáo thì sau khi chính phủ này bị lật đổ, tại sao vẫn có những tranh đấu quyết liệt của Phật giáo miền Trung?” Nhân đó cũng thử trả lời cho câu viết của Liên Thành: “Với sự nhượng bộ của Mỹ, nhà sư Trí Quang liên tục thay đổi điều hành các “triều đại” theo ý mình, qua quyền lực đen của các cuộc biểu tình, xuống đường của các Phật tử tranh đấu. Từ thời đại Dương Văn Minh, đến Nguyễn Khánh, qua tam đầu chế Khánh-Minh-Khiêm, đến thời chính phủ Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, và cả thời gian đầu của chính quyền quân nhân Thiệu-Kỳ, tất cả đêu bị Thượng toạ Trí Quang thao túng, sắp đặt nhân sự.”
Sau cuộc đảo chính 1-1-1963, do các tướng Minh-Đôn-Khiêm chủ động, tiếp theo có nhiều cuộc đảo chính khác, nhưng do phía còn trung thành với ông Diệm hay các tướng tá Công giáo hoặc theo đảng Đại Việt chủ động (Phạm Ngọc Thào, Lâm Văn Phát…), không được Phật giáo hoặc TT Trí Quang thúc đẩy hay ủng hộ .
Trước hết, theo tài liệu Mỹ, chưa có chứng cứ cho thấy TT Trí Quang là CS hay không. Người Mỹ cũng không nói rõ về trường hợp Phạm Ngọc Thảo, là điệp viên CS hay không), nên không biết thật hư thế nào. Báo chí và các tác giả Mỹ cho TT Trí Quang chống Cộng, nhưng theo đường lối riêng của Phật giáo (VN). Điều rất rõ là TT Trí Quang chống chế độ ông Diệm, và nhóm Công giáo gọi chung là Cần lao lúc đó (thật sự tổ chức Cần lao gồm cả ngườí theo đạo Phật), nhưng không thấy TT Trí Quang chống Mỹ, người ta cũng nhắc tới thân tình giữa TT Trí Quang và ông Cẩn (nhưng có lẽ do tình đồng hương). Chuyện chống Mỹ chỉ thấy ở nhóm tranh đấu tại Huế qua “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” (cái tên như do Hà Nội gợi ý), với bác sĩ Lê Khắc Quyến, các GS Tôn Thất Hanh, Lê Tuyên, Cao Huy Thuần…
Sau khi lật đổ chế độ ông Diệm, các tướng đảo chính được sự hoan nghênh nồng nhiệt của khối Phật giáo tranh đấu, và có thể của đa số người dân miền Nam thuộc gia đình Phật giáo. Lý do đảo chính là vì một số tướng tá bất mãn với ông Diệm, và một số người khác thấy chế độ ông Diệm không còn được người Mỹ ủng hộ (như trước). Mỹ lúc đó đã cắt một vài viện trợ cho Sài Gòn, còn doạ cắt thêm, và ông Nhu bắt đầu kêu gọi quân dân phải tự túc, tự lực chiến đấu, đồng thời có vẻ muốn nương tựa Pháp, và tính chuyện hiệp thương với miền Bắc. Sự kiện các chùa bị tấn công đêm 20-8-63 làm nhiều tướng tá thêm bất mãn, lại có thêm cớ, và có ý định dứt khoát đảo chính. Theo Trần Văn Đôn, cuộc đảo chính không phải do người Mỹ chủ trương hay xúi giục, tuy CIA vẫn có ý dò hỏi, theo dõi (và ông Đôn chỉ báo trước cho Mỹ biết 1 ngày trước khi đảo chính, và không cho biết người cầm đầu đảo chính là ai). Cũng nóí thêm cuộc đảo chính xảy ra vào lúc hai ông Diệm và Nhu sắp giải quyết được vấn đề Phật giáo: theo yêu cầu của ông Bửu Hội lúc đó về nước để giúp làm dịu bớt vụ Phât giáo, ông Nhu hứa sẽ thả hết các sư ni, thường dân và sinh viên bị bắt giữ.
Ba tháng sau, ngày 30-1-1964, Nguyễn Khánh làm chỉnh lý, bắt các tuớng Đôn, Kim, Đính, tuy vẫn để tướng Minh tại chức nhưng không quyền vì nể sợ dư luận Phật giáo. Cuộc đảo chính này làm thoả mãn được khối Công giáo, nhưng khối Phật gáo chống đối rất mạnh. Họ nghi ngờ khi những người làm chỉnh lý là Khánh và Khiêm đều từng tỏ ra trung thành và đã cứu ông Diệm trong đảo chính năm 1960, và khi lính nhảy dù của ông Cao Văn Viên giết chết thiếu tá Nhung, cận vệ của ông Minh, là người đã giết hai ông Diệm và Nhu. Đây cũng là lần đầu thấy đảng phái xuất hiện trong chính trường miền Nam. Phó Thủ tướng của chính phủ Khánh là Nguyễn Tôn Hoàn, và Bộ trưởng Nội vụ là Hà Thúc Ký, đều là Đại Việt (ông Hoàn lại là Công giáo, tuy ông Nguyễn Ngọc Huy, nhân vật quan trọng của Đại Việt là Phật tử, nghe nói thuần thành). Tướng Khánh nhượng bộ nhiều điều, như bỏ Hiến chương Vũng Tàu, thả các tướng bị bắt mà khối Phật giáo có nhiều cảm tình, xử tử hình Ngô Đình Cẩn. Những nhượng bộ này làm cho hai nhóm Đại Việt và Cần Lao (tạm gọi cho nhóm còn trung thành với ông Diệm) liên kết lại để nhiều lần làm đảo chính chống Khánh. Khi Khánh phải ra đi, nhóm tướng còn thân Phật giáo đưa ông Phan Huy Quát lên làm thủ tướng, nhưng chỉ trong thờì gian rất ngắn, rồi bị nhóm Công giáo sống quanh Sài Gòn biểu tình buộc phải từ chức. Nhóm quân nhân lại đưa Trần Văn Hương, không phải người của Phât giáo hay Công giáo lên thay, nhưng bị nhóm Phật giáo (theo Đỗ Mậu là thuộc TT Tâm Châu) biểu tình lật đổ. Nguyễn Cao Kỳ làm thủ tướng và lập nội các chiến tranh, đuợc TT Tâm Châu ủng hộ, nhưng TT Trí Quang và nhóm tranh đấu ở Huế chống đối, dẫn đến biến động miền Trung năm 1966, và do đó đại tá Nguyễn Ngọc Loan, cánh tay mặt của tướng Ký, ra Đà Nẵng tuyển dụng thiếu uý Nguyễn Phúc Liên Thành làm cho ngành cảnh sát đặc biệt, để cùng đi dẹp bàn thờ trên các đường phố Huế.
Liên Thành tỏ ra kính trọng và trung thành với ông Loan (cũng là người Huế, có thể là Phật giáo). Liên Thành hiện nay chống TT Trí Quang (và TT Đôn Hậu) thật không cần thiết, chỉ có thể do ẩn ức.
1) Tôi gửi phản hồi lên talawas để góp ý cùng ông Trần Kiêm Đoàn về cuốn sách Biến động miền Trung của tác giả Liên Thành. Chỉ có nội dung cuốn sách đó và chỉ vì nội dung cuốn sách đó mà tôi viết phản hồi. Tôi không có ý kiến về những buổi hội luận, phỏng vấn gì gì đó trên đài phát thanh gì gì đó.
2) Tôi không hiểu ý kiến của ông Đặng Thế Hùng khi ông phân biệt „chứng nhân“ với „phạm nhân“. Tôi chỉ nghĩ rằng khi ông Liên Thành kể là ông A, ông B làm như thế này, làm như thế kia thì tôi tin rằng một số điều do ông Liên Thành kể có nhiều phần chắc đúng. Thế thôi.
3) Tôi không muốn biết và cũng không cần biết ông Đỗ Trung Hiếu là ai. Tôi chỉ muốn nói rằng khi ông Đỗ Trung Hiếu kể là vào thời điểm nào đó, Thượng toạ Thích Đôn Hậu bị bắt theo Việt cộng chứ không phải tự nguyện theo Việt cộng thì lời kể đó không đủ để khẳng định là suốt cuộc đời mình, Thượng toạ Thích Đôn Hậu không hề có lúc nào theo cộng hay thân cộng.
4) Nếu vua Trần Nhân Tông mà biết rằng „tinh thần Phật giáo 1966 là đòi hỏi một xã hội tốt đẹp hơn“ qua những hành động sau đây của nhóm Phật giáo Ấn quang quá khích thì chẳng rõ Ngài sẽ nghĩ sao.
5) Xin kể sơ lược các hành động liên hệ, theo Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, Cuốn 6, từ trang 3333 đến trang 3335. Từ 11.3.1966 đến 23.6.1966 tức gần ba tháng rưỡi, đã xảy ra năm mươi bốn cuộc biểu tình tuần hành, chủ yếu là ở Huế; chín vụ tự thiêu của ni cô, tăng sĩ tại Huế, Sài Gòn, Đà Lạt, Đà Nẵng, Quảng Trị; vụ đốt phá toà Lãnh sự Mỹ ở Huế và xé nát ảnh Tổng thống Johnson ngày 1.6; từ ngày 5.6 hàng trăm bàn thờ Phật được mang ra đặt trên đuờng phố, vỉa hè ở Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Sài Gòn (nhiều nhất ở Huế, Sài Gòn ít hơn nhiều, TVT chú) để ngăn chặn lưu thông của quân đội và cảnh sát; vụ tuyệt thực một trăm ngày của Thượng toạ Trí Quang thoạt tiên ở Huế rồi tiếp tục ở Sài Gòn. Trong các cuộc biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khoá có những khẩu hiệu sau đây: “Đả đảo quân phiệt Nguyễn Cao Kỳ, Giải tán Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, Mỹ phải chấm dứt ủng hộ quân phiệt, Đả đảo CIA, chấm dứt việc ngoại bang đô hộ đất nước, đuổi Mỹ về nước“.
6) Kết quả xung đột giữa nhóm quá khích và quân chính phủ: 70 người chết, 540 người bị thương, 300 quân nhân đầu hàng, 200 quân nhân bị bắt. Khoảng sáu ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đào ngũ, một số người không lối thoát phải chạy ra chiến khu theo Việt cộng. Trong số nhân vật cao cấp bị bắt có Thị trưởng Đà nẵng Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, một tín đồ Thiên chúa giáo; ông bị bắt tại chùa Tỉnh Độ ngày 22.5.
7) Trong thời gian này, phe Phật giáo ôn hoà của Thượng toạ Thích Tâm Châu ra thông bạch nói không nhằm gây áp lực với chính quyền.
8. Ông Trần Kiêm Đoàn rồi ra sẽ bị chụp nón cối. Phần ông Đặng Thế Hùng nhanh tay hơn, ông đã chụp cho một số người cái nón chống cộng cực đoan.
Đôi lời gởi đến ông Trần Kiêm Đoàn:
Thưa ông,
Tôi ngỡ ngàng khi thấy tên của một người tôi vốn ngưỡng mộ qua những tác phẩm về Huế, đặc biệt là “Con Yêu Bánh Nậm” hiện ra với những lời lẽ kịch liệt và bất công với Liên Thành. Tôi không khỏi nghĩ đến những vị khác đã đả kích Liên Thành cũng cùng với phong thái không mấy cao cả gì cho lắm. Chỉ khác một điều là ông đã nói bằng những lời bóng bẩy nhưng ông đã không dấu được sự giận dữ nên không đè nén được cái ác ý của mình.
Thưa ông, tôi thất vọng vô cùng vì bài viết của ông quá khắc nghiệt đối với một người lính đã hy sinh hết tuổi trẻ của mình vào trắc trở, đảo điên để bảo vệ Huế của ông và của tôi, và có thể nói là những ác ý vẫn hiện ra dù ông đã khéo léo che giấu nó dưới ngôn từ hoa mỹ. Tôi thấy buồn, có phải người viết “Con Yêu Bánh Nậm” đầy thơ mộng và người viết về LT là một không? Phải chăng ông đã đổi lốt? Hay là: “Có lẽ hồn ÔNG không đẹp nữa, Nét thần thôi họa bức thiên duyên.” Buồn thay!
Trong những phản hồi về bài viết của Trần Kiêm Đoàn, có ý kiến của Trần Văn Tích làm tôi hơi ngạc nhiên. Hình như Trần Văn Tích ở đâu đó ngoài nước Mỹ nên không biết rõ Liên Thành đã nói gì trên đài phát thanh SBTN và trong các cuộc “hội luận” ngày một leo thang những luận điệu đả kích thậm tệ phong trào Phật giáo, ngoài tập sách Biến động miền Trung của ông ta. Cụ thể là vụ trả lời phỏng vấn với nhà thơ Du Tử Lê trên đài SBTN diễn ra nhiều lần. Mãi đến lần thứ 5, khi phái đoàn Phật giáo chính thức đến yêu cầu ban giám đốc đài SBTN duyệt xét lại, thì lúc đó những cuộc phỏng vấn bôi nhọ phong trào Phật giáo của Du Tử Lê với Liên Thành về Biến động miền Trung mới chấm dứt.
Điều Trần Văn Tích cho là Trần Kiêm Đoàn nói “thừa thãi” lại là điều tôi cho là cần yếu nhất. Bởi vì không nhắc đến tinh thần nhập thế Phật giáo Lý Trần, người ít nghiên cứu Phật giáo không hiểu được tại sao đã đi tu rồi mà vẫn còn thể hiện hình thức tương tự như “Tham, Sân, Si”, vẫn cầm quân ra trận như Trần Nhân Tông, vẫn xuống đường đòi hỏi một xã hội tốt đẹp hơn như tinh thần Phật giáo 1966?
Trần Văn Tích lại càng tỏ ra ít đọc kỹ Biến động miền Trung của Liên Thành mà vẫn phát biểu “thoải mái” khi ông cho rằng những nhân vật như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thích Trí Quang, Lê Văn Hảo còn sống thì sao Trần Kiêm Đoàn lại nói Liên Thành đang nói chuyện với những bóng ma. Những nhân vật nầy theo Liên Thành là “phạm nhân” nghe Liên Thành phán tội chứ không phải là chứng nhân để có quyền làm chứng cho những điều Liên Thành nói ra. Chứng nhân chết mất đất cả rồi mới khổ chứ, thưa ông Tích!
Hình như Trần Văn Tích không biết nhân vật Đỗ Trung Hiếu là ai thì phải. Đỗ Trung Hiếu phát biểu về thầy Đôn Hậu sau khi phản tỉnh chứ không phải khi còn trong Đảng.
Hầu như tất cả những điều Trần Văn Tích phân tích về bài viết của Trần Kiêm Đoàn đều đứng về một phía. Theo tôi, nhận định như thế là một chiều, không công bằng và không ngay thẳng.
Tôi có những ý kiến phản bác đối với Trần Văn Tích vì tôi thấy Trần Kiêm Đoàn can đảm, đáng khen, dám lên tiếng nói thẳng những điều mà phía chống cộng cực đoan có thành kiến tiêu cực với Phật giáo đang nhiệt liệt tung hô Liên Thành. Chắc chắn sau bài viết nầy, Trần Kiêm Đoàn sẽ tha hồ bị chụp nón cối. Với tôi, một người cầm bút cần phải có cái dũng khí của kẻ sĩ.
Tôi nhận thấy cả hai bài của Trần Kiêm Đoàn lẫn Liên Thành tuy thiếu tính thuyết phục vì cả hai đều dựa trên cảm tính, đều đáng tuyên dương vì đây là dịp để người Việt của chúng ta tận dụng cái tự do ngôn luận của thế giới dân chủ (vấn đề trách nhiệm và tự trọng cũng như những ràng buộc về pháp lý đối với lãnh vực vu khống và chụp mũ lại là một chuyện khác, xin phép miễn bàn tới ở đây).
Tôi xin đi vào chi tiết lý do tại sao tôi muốn cảm ơn tác giả Liên Thành. Từ trước tới giờ, tôi thường có cảm tưởng những người viết bài để nhuộm đỏ các vị cao tăng của Phật Giáo VN đều là một trong hai nhóm:
1. Trả thù vặt vì ngày xưa các tu sĩ Phật Giáo nghĩ mình sống ở Mỹ, muốn biểu tình lúc nào thì biểu tình.
hoặc
2. Do các bộ phận tuyên truyền chính trị của nhà nước CSVN tung ra để đánh lạc hướng mỗi khi bên quê nhà có bắt bớ, đánh đuổi nơi các tu viện Phật giáo.
Nay đọc những dòng văn đầy cảm xúc và uất ức của Liên Thành, tôi hiểu ra cái nỗi khổ của một người Phật tử khi thấy sự nằm vùng của chính các tu sĩ trong tôn giáo của mình. Xin lưu ý rằng tác giả Liên Thành là Phật tử Huế, lại là Hoàng phái, đã bỏ ra hơn 30 năm đắn đo trước khi viết sách này. Lịch sử quả thật đã xoay vần. Tôi nghĩ đây cũng là lúc để giải oan cho bà Cố vấn Ngô Đình Nhu, luôn bị lên án là kỳ thị Phật giáo. Thật ra bà Nhu, cũng như tác giả Liên Thành, xuất thân từ gia đình Phật tử quyền quí ở Hà Nội, chỉ lên tiếng chỉ trích những gì bà thấy gai mắt. Chẳng lẽ chúng ta lặp lại lỗi lầm cũ, chụp mũ kỳ thị Phật giáo cho Thiếu tá Công an Liên Thành, y hệt như bố mẹ bà Nhu đã nhẫn tâm ruồng rẫy bà vì cho rằng bà phản lại truyền thống tâm linh của tổ tiên?
Tiện đây tôi cũng xin một chút công bằng cho một nhân vật đang sống trong cảnh chim lồng cá chậu không thể tự bào chữa được, đó là nhà sư Thích Trí Quang, bằng cái link này của CIA (CIA mà tin tức còn thua một thiếu tá mật vụ của miền Trung): http://library2.usask.ca/vietnam/index.php?state=view&id=64
Chú thích về “toàn bộ Biến động miền Trung online” trong link tôi đã giới thiệu tồn tại dưới 2 dạng đánh máy và audio ở menu phía tay phải:
– Phần 1 tới 13 (tạm hết) được đánh máy.
– Phần 1 tới 10, và 11 tới 21 (hết) là Audio, có lẽ sẽ được đánh máy sau.
Link dưới đây dẫn tới toàn bộ Biến động miền Trung online:
http://biendongmientrung-lienthanh.blogspot.com/2009/06/bien-ong-mien-trung-giai-oan-1963-1975.html
Ông (Nguyễn Phước) Liên Thành là một quân nhân được chuyển qua ngành cảnh sát trong một tình hình rất đặc biệt, nhân biến động miền Trung năm 1966. Ông làm tốt nhiều nhiệm vụ được (cấp trên) giao cho, phục vụ trong ngành an ninh ở Huế đến 9 năm, và cũng có trí nhớ rất tốt để ghi lại nhiều chi tiết nhỏ. Về quyển sách đang nói tới, giá trị nhiều nhất về mặt lịch sử là ở những sự kiện nằm trong những biến cố mà ông Liên Thành từ chỗ đứng riêng đã chứng kiến hay thực hiện, chứ không phải ở những nhận định hay suy luận có tính cách chủ quan. Ngay những sự kiện ông kể lại cũng cần được so sánh, kiểm chứng với nhiều nguồn khác, và chắc chắn phải có những thiếu sót, kể cả những thêm bớt, qua trí nhớ một người sau thời gian trên dưới 40 năm.
Tôi xin giới thiệu (cho ai quan tâm và chưa đọc) phần ông Liên Thành kể khi bắt đầu chuyển qua ngành cảnh sát từ lúc đại tá Nguyễn Ngọc Loan ra dẹp phong trào Phật giáo Tranh đấu ở Huế:
1/http://www.vietquoc.org/modules.php?name=News&file=article&sid=244
2/http://www.vietquoc.org/modules.php?name=News&file=article&sid=317
Sau bài của Trần Kiêm Đoàn, Liên Thành gửi thư mời Trần Kiêm Đoàn đối thoại tại buổi ra mắt sách ở Sacramento vào ngày Chủ Nhật 8 tháng Mười Một này. Nhưng Trần Kiêm Đoàn đã từ chối. Sau đây là trao đổii giữa Trần Kiêm Đoàn và Liên Thành.
Thư của Liên Thành
Ngày 2 tháng 11 năm 2009
Xin trân trọng kính chào ông Trần Kiêm Đoàn,
Trước hết, tôi xin thành thật cảm ơn bài viết của ông. Theo tôi, lịch sử cần được nhìn dưới nhiều góc cạnh khác nhau, nhất là những ý kiến đối nghịch, có như thế công bằng và sư thật mới được tìm thấy. Những nỗ lực nhằm bịt miệng những tiếng nói đối lập là hành động kém văn minh khó chấp nhận được.
Vì đang bận cho buổi nói chuyện về BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG tại Sacramento vào chủ nhật ngày 8 tháng 11 2009 tới đây, nên tôi không kịp viết trả lời ông được, hẹn sẽ viết trả lời ông và những ý kiến khác khi tôi có thời gian.
Như tôi đã nói rất nhiều lần trên các phương tiện truyền thông, tôi sẵn sàng đối chất với bất cứ ai có kiến thức về tình báo và dùng tên tuổi thật, người thật. Nhưng tôi cảm thấy thích thú được hầu chuyện ông, nên cho dù ông không là một viên chức tình báo của chính phủ VNCH trước đây, tôi xin trân trọng gởi lời mời chính thức đến ông: XIN ĐẾN ĐỐI CHẤT VỚI TÔI TẠI SACRAMENTO vào chủ nhật đến. Xin ông đừng từ chối, vì ông cũng đang ở Sacramento, rất thuận tiện, phải không ông?
Một lần nữa, cảm ơn ông đã dùng tên tuổi thật. Bởi vì đây là những sự kiện lịch sử, chẳng hạn như BÀN THỜ PHẬT XUỐNG ĐƯỜNG là một sự kiện lịch sử có thật, mà không ai có thể bán danh dự để chối cãi, và nhiều người sẽ nhìn nó dưới con mắt khác nhau, nên chúng ta phải dùng người thật và trực diện đối chất. Những hình thức dùng tên tuổi ma để phát biểu là một hành động hèn nhát như loài chuột. Bởi vì chỉ có chuột mới sợ ánh sáng và công chúng
Xin ông nhận nơi đây sự cảm ơn của tôi và lời mời CHÍNH THỨC của tôi đến ông: HÃY ĐẾN ĐỐI THOẠI, ĐỐI CHẤT VỚI TÔI ngày 8/11/09 tới.
Xin liên lạc với ông Trần Văn Ngà để biết địa điểm, số phone là: 916 519 8961
Trân trọng
Liên Thành
Thư của Trần Kiêm Đoàn trả lời Liên Thành
Sacramento, ngày 4 tháng 11 năm 2009
Kính gởi: Ông Liên Thành, tác giả “Biến Động Miền Trung”
Thưa ông,
Tôi rất cảm kích được tin ông chính thức mời tôi ĐỐI CHẤT và TRANH BIỆN TRỰC DIỆN với ông trên DIỄN ĐÀN RA MẮT SÁCH được tổ chức tại thành phố Sacramento, nơi tôi đang cư ngụ.
Sau bài viết “ĐÔI ĐIỀU VỚI LIÊN THÀNH VỀ BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG” của tôi được đăng tải rộng rãi trên các trang báo điện tử và báo giấy Việt Ngữ, đã có rất nhiều phản hồi của độc giả người Việt khắp nhiều nơi trên thế giới quan tâm và chia sẻ ý kiến. Tôi tin rằng, ông và tôi đều đang lắng nghe những tiếng nói của công luận.
Những điều tiên khởi cần thưa với ông, chủ yếu liên quan đến phương pháp luận chứng và mức độ đáng tin cậy trong tác phẩm của ông, tôi đã có dịp trình bày trong bài viết. Vấn đề chung nhất còn lại của ông và tôi là muốn để cho CHỨNG LÝ và SỰ KIỆN nói lên sự thật, chứ không phải là để cho “Liên Thành nghĩ rằng, nói rằng… hay Trần Kiêm Đoàn nghĩ rằng, nói rằng…” về những sự kiện có liên quan đến thời cuộc và lịch sử mà đại chúng cũng như ông và tôi đều muốn góp phần làm sáng tỏ.
Tôi rất trân trọng LỜI MỜI CHÍNH THỨC của ông gởi cho tôi NHÂN TIỆN ông đến Sacramento để ra mắt sách của ông. Tuy nhiên, tôi thấy KHÔNG CẦN THIẾT vì ba lý do:
– Một là, ông và tôi đều đã nói lên những điều mình suy nghĩ về những khía cạnh tiêu biểu trong nội dung “Biến Động Miền Trung” qua thực tế và tác phẩm của ông
– Hai là, nhu cầu của tôi (hy vọng ông không phản đối) đang cần LẮNG NGHE và SUY TƯ hơn là TRÌNH BÀY và SUY DIỄN.
– Ba là, môi trường truyền thông đại chúng đang mở rộng. Những ý kiến MỚI MẺ của ông và tôi, NẾU CÓ THÊM, sẽ được thông tin một cách nhanh chóng, công bằng và rộng rãi hơn là một diễn đàn địa phương.
Vì những lý do vừa nêu dẫn, tôi TỪ CHỐI LỜI MỜI CHÍNH THỨC CỦA ÔNG LIÊN THÀNH về một cuộc đối chất mà ông đã đề nghị, với lời cám ơn chân thành.
Kính chúc ông đạt những thành công tốt đẹp trong dịp ra mắt sách tại Sacramento.
Trân Trọng
Trần Kiêm Đoàn