talawas blog

Chuyên mục:

Trần Kiêm Đoàn – Trí thức Việt Nam quanh Bồn Trí tuệ

15/10/2009 | 10:12 sáng | 35 Comments

Tác giả: Trần Kiêm Đoàn

Category: Tư tưởng, Văn hoá – Giáo dục
Thẻ: > >

Bài học chữ Nho mở lòng của thế hệ Quốc văn Giáo khoa thư là “Nhan Súc thuyết Tề vương quý sĩ” nghĩa là Nhan Súc thuyết giảng cho vua Tề biết trọng đãi người trí thức. Nhan Súc là một hiền sĩ đương thời. Một hôm vua Tề cho mời đến bàn việc nước. Sau khi chủ khách an vị, vua nói:

“Súc tiền!” Nghĩa là: “Nhan Súc, bước tới đây!”

Nhan Súc trả lời:

“Vương tiền!” Nghĩa là: “Vua bước tới đây!”

Vua Tề hoang mang vì xưa nay chưa hề ở vào hoàn cảnh bị động như thế bao giờ. Nhan Súc lên tiếng:

“Nếu vua gọi mà tôi bước tới trước, người đời sẽ cho tôi là quỵ lụy trước quyền thế. Nếu tôi gọi mà vua bước tới trước trước, thiên hạ sẽ cho là vua biết trọng kẻ hiền tài. Nếu để cho tôi mang tiếng xấu là kẻ xu phụ quyền thế; sao bằng để cho vua được tiếng thơm là biết trọng kẻ hiền tài!”

Bài học nhỏ nói về vị thế mà đồng thời cũng là thân phận trí thức trước quyền lực chính trị.

Trí thức Việt Nam xưa nay phần đông thường ở thế yếu – thế bị động và chống đỡ – trước những thế lực chính trị. Kẻ sĩ ngày xưa như những ông nghè, ông cống suốt một đời đèn sách và hành xử lý tưởng kinh bang tế thế của đời mình quanh quẩn trong những ao hồ Tứ  thư, Ngũ kinh. Khi còn đèn sách thì cố công dùi mài kinh sử để thi đỗ ra làm quan. Khi ra trường đời lại loay hoay trong giới hạn của lòng trung quân ái quốc tù đọng Nho giáo. Bởi vậy, bao nhiêu tên tuổi các bậc đại khoa ghi đầy ở Văn Miếu Hà Nội, ở đền Văn Thánh Huế hay đâu đó khắp xứ cũng chỉ còn là… hương trầm trong gió sương cổ tích mà thôi.

Qua bao thăng trầm của lịch sử, quần chúng ngó lên, kẻ sĩ ngó xuống và thì thầm vào tai nhau: “Bốn nghìn năm văn hiến!” Tất cả đều cảm thấy tự hào về một quá khứ trong trí tưởng. Trong lúc đó, suối nguồn tư tưởng trong ta lại chưa đủ sâu dày để xây lên một dòng chảy riêng cho một triết lý thuần Việt. Ta có hơi nhiều ông Trạng thông minh đĩnh ngộ và ranh mãnh đầy tiểu xảo trong hiện thực và ước mơ; nhưng lại không có được một triết gia trầm tĩnh và vững chãi của một cánh rừng đại mộc tư tưởng. Ta có nhiều câu lạc bộ trí thức từ Bắc chí Nam, khắp trong nước và ngoài nước, nói chuyện hoàn cầu và hoàn vũ nổ giòn như pháo bông ngày đại khánh; nhưng lại chưa có những nhóm Chuyên viên Tham vấn Chuyên môn làm chỗ dựa tham khảo đáng tin cậy cho sinh hoạt tri thức và những vấn đề quốc kế dân sinh. Thế giới ngày nay càng ngày càng có nhìều nhóm trí thức cùng lĩnh vực chuyên môn tập hợp lại để tạo nên một trí tuệ tập thể gọi là Bồn Trí tuệ (Think Tank). Giáo sư Lê Xuân Khoa gọi Think Tank là “Vựa Tư tưởng”. Vựa, là hình ảnh bình dân, diễn cảm như vựa cá, vựa thóc; nhưng Tư tưởng, có xa rời đại chúng quá chăng. Trạng Quỳnh, thằng Bờm cũng có Bồn Trí tuệ riêng trong điệu sống độc đáo giữa đời.

Đối với truyền thống văn hóa hiếu học, xếp sĩ đứng đầu sự phân chia giai cấp xã hội của dân ta thì vai trò người trí thức xưa nay vẫn là hình ảnh tiêu biểu cho chất xám, cho trí tuệ của đại chúng. Chất xám đơn thuần không tạo ra trí thức mà trí thức là người biết sử dụng hữu hiệu chất xám. Hay nói theo khái niệm nôm na của quần chúng thì trí thức là người có tri thức, có trí tuệ.  Loay hoay định nghĩa màu mè hay tìm tòi những thuộc tính chi li của trí thức sẽ vướng vào chủ nghĩa hình thức chưa cần thiết lúc nầy.

Dầu đứng ở bất cứ phía nào, ta cũng không thể phủ nhận được rằng, đầu tư trí thức (giáo dục, nghiên cứu) là một trong những phương tiện thiện xảo nhất giúp làm cho dân giàu nước mạnh.  Đa số các nước nghèo trên thế giới hiện nay đều có sự thiếu quân bình giữa số dân và các cơ sở đầu tư giáo dục. Cụ thể là môi trường đào tạo trí thức quá thấp so với số dân cư. Nước Mỹ tuy mới lập quốc 233 năm nhưng hưởng được sự giàu mạnh như hiện nay, không phải là một sự tình cờ may rủi mà rõ ràng là do sự đầu tư xông xáo và lâu dài vào môi trường giáo dục; nhiệt tình và thành thật chiêu hiền đãi sĩ; mở rộng tấm lòng và vòng tay đón nhận chất xám toàn cầu không phân biệt biên cương màu sắc. Hiện nay, với số dân 305 triệu người, Mỹ có tới khoảng 4500 trường đại học và trên dưới 100 nhóm Chuyên viên Tham vấn Chuyên môn – Think Tank – phần lớn có thế lực toàn cầu. Riêng một tiểu bang California giàu nhất nước Mỹ, với dân số 36 triệu người thì cũng đã có tới 399 trường đại học. New York, với dân số 20 triệu, có 307 trường đại học. Trong lúc đó, Việt Nam ta có một dân số tới 85 triệu người nhưng mới có khoảng trên dưới 50 trường đại học to nhỏ và chỉ 001 nhóm Chuyên viên Tham vấn Chuyên môn đầu tiên có tên là Viện Nghiên cứu Phát triển – Think Tank IDS – vừa mới tự động giải tán sau Quyết định 97 đã ban hành của chính phủ Việt Nam.

Giới quan sát khách quan và nghiêm chỉnh trong cũng như ngoài nước đã tỏ ra ngạc nhiên không ít về những tình huống hầu như nghịch lý về phía chính phủ cũng như về phía nhóm chuyên viên IDS. Nếu nói một cách hồn nhiên đầy tính hoạt kê của người bình dân không xu phụ quyền thế mà cũng chẳng đeo mang trí thức thì chính quyền Việt Nam “chưa tậu được bò đã lo rình mò kẻ trộm”; trí thức IDS thì “muốn vào rừng mà nửa chừng bó tay” (?!)

Sau hơn 30 năm trải qua nhiều chặng đường có lúc phong quang, có lúc gập ghềnh với nhiều mày mò, trăn trở Việt Nam đã lọt qua nhiều cửa ải không kém phần gian khó, truân chuyên để bước vào cộng đồng thế giới. Ngày nay, Việt Nam đã có mặt với thế thành viên bình đẳng trong hầu hết các tổ chức then chốt toàn cầu và phân vùng như Liên Hiệp Quốc, WTO, Ngân hàng Thế giới, Thế vận Hội, ASEAN… Nhu cầu hiển nhiên trước một vị thế mới trong quan hệ đa dạng như thế là sự hiểu biết sâu rộng trong nhiều lĩnh vực chuyên biệt và chuyên môn.

Người Việt trong cũng như ngoài nước vốn cần cù, thông minh; đầy đủ khả năng chất xám, tinh thần tự tin và lòng tự trọng để tiến bước song hành với mọi thành viên đối tác trong cộng đồng thế giới ngày nay. Xã hội càng tiến nhanh, nhu cầu học hỏi và tham khảo càng bức thiết. Giới lãnh đạo trong các nước giàu mạnh trong những năm đầu của thế kỷ 21 đã công khai tham khảo và dựa vào những dữ kiện được tìm tòi, phân tích và chắt lọc từ các nhóm Tham vấn Chuyên môn (Bồn Trí tuệ – Think Tank). Mỗi Bồn Trí tuệ trong từng khung cảnh chuyên môn như thế là một tập đại thành của nhiều đầu óc xuất sắc. Nhà nước, tập đoàn, công ty của Mỹ, Anh, Pháp, Đức và các nước công nghiệp phát triển nói chung đều phải trả những món tiền rất lớn mỗi khi cần tham khảo ý kiến chuyên môn cho những vấn đề đối ngoại cũng như đối nội cần thiết. Có khi nhà nước phải trực tiếp tài trợ cho các Think Tank. Hàng trăm Think Tank của Mỹ đã đóng góp trực tiếp hay gián tiếp vào sự giàu mạnh của xứ nầy. Ngay ở Ấn Độ, một quốc gia mà giới lãnh đạo luôn có mặc cảm tự tôn là thuộc giai cấp minh triết, nhưng Bồn chứa Trí tuệ IDSA (Institute of Defense Studies and Analysis) đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng cho chính sách đối ngoại và quốc phòng của xứ nầy. Gần xứ ta nhất là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, những Think Tank đã đóng một vai trò tích cực để giữ cho Trung Hoa lục địa và các vùng thuộc địa tự trị công khai hay âm thầm tìm hiểu và đối thoại với nhau, giữ được sự độc lập và phồn vinh có lợi cho tất cả mọi phía như ngày nay.

Việt Nam có tới bốn nghìn năm văn hiến, sao lại chỉ mới có một Bồn Trí tuệ chưa đầy đã vỡ? Xứ ta là “siêu nhân” không cần những Bồn Trí tuệ nầy chăng?

Câu trả lời cố nhiên là không phải thế. Vậy thì tại sao giới lãnh đạo Việt Nam lại ra Quyết định 97 với danh nghĩa là minh thị và bổ sung quy chế thành lập hội đoàn trí thức, quy định nội dung nghiên cứu, khống chế tinh thần phản biện?

Trước nhu cầu tạo sức mạnh tổng hợp để đánh giặc và quản lý xã hội trong thời chiến, khái niệm “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý và nhân dân làm chủ” các sản phẩm tinh thần và vật chất tập thể tuy hơi ngồ ngộ trong cảm nhận, nghịch lý trong tư duy và chẳng có chi trong thực tế nhưng có thể hiểu được.  Thế nhưng, đất nước đã hết chiến tranh gần 35 năm và đang chen vai thích cánh bước vào thị trường thế giới đầy gai góc và thử thách.  Một quyết định quản lý tự do nghiên cứu; chỉ đạo lĩnh vực tìm tòi, sáng tạo và phát kiến ; kiểm soát tham luận và phản biện của giới trí thức dân tộc như thế là một bước thụt lùi nghiêm trọng trong tiến trình hoàn thiện và phát huy năng lực chuyên môn của trí thức.  Trong bối cảnh cụ thể của đất nước dân chưa đủ giàu, nước chưa đủ mạnh so với các quốc gia lân bang đồng thời mà tung ra quyết định trói buộc trí thức như thế thì quả là giới cầm quyền Việt Nam đã chế tạo riêng một “tuyệt đại tối siêu sản phẩm của thế kỷ” – nói theo kiểu tưng tửng của một nhân vật trong Harry Porter khi đụng đến những chuyện kỳ lạ khó hiểu.  Không hiểu thì làm sao yêu mến được; không yêu mến được thì làm sao nhận lãnh; không nhận lãnh thì làm sao cống hiến, dấn thân?

Nếu Quyết định 97 của Thủ tướng Việt Nam mang đầy đủ những điều nghịch lý khó hiểu như thế đối với trí thức IDS thì quyết định tự giải thể để khỏi đương đầu với những vấn nạn không có cơ hội lý giải hay viễn ảnh xung đột, mâu thuẫn không có khả năng hóa giải là một sự lương thiện trí thức của những người chủ xướng đang đứng quanh Bồn Trí tuệ.

Một khi tự do phát kiến của trí thức bị trói buộc và giới hạn thì học thuật chỉ còn là một quá trình thụ động học thuộc lòng, bắt chước, vuốt đuôi như cái học nhà Nho đã  hỏng và đã làm đất nước chững lại giữa suy đồi. Chỉ tiêu đào tạo hàng vạn tiến sĩ trong những năm tớì của Việt Nam ta sẽ về đâu?  Luận án tiến sĩ không thể là những tập hợp của các tập bài học, bài thi Tam Trường ngày xưa nữa. Luận án tiến sĩ (doctoral dissertation) ngày nay phải là những phát kiến, phát minh mới mẽ, sinh động trong môi trường học thuật. Muốn sáng tạo và phát huy tác dụng chất xám của giới trí thức thì điều kiện tiên khởi là phải có tự do tri thức. Mặc cảm lo sợ phạm trường quy và “trọng húy” ngày xưa đã đào tạo một lớp kẻ sĩ thụ động, tầm chương trích cú. Sự lãnh đạo sáng suốt của bất cứ thời nào và nơi đâu đều có sự nhất quán rằng, muốn cho dân giàu nước mạnh thì cần phải biết đầu tư trí thức. Những vị minh quân trong những triều đại cực thịnh đều có những vị gián quan can đảm và những quốc sư sáng suốt bên cạnh. Kẻ sĩ nịnh thần ngày xưa và trí thức diễn văn phòng hội làm vui lòng lãnh đạo ngày nay đã tự liệt mình vào hàng sĩ phiệt. Học phiệt đào tạo sĩ phiệt là cặp phạm trù nhân quả chỉ làm cho chế độ chính trị và đất nước suy vong như lịch sử nhân loại đã chứng minh.

Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch) tưởng như đã lãng quên đang bừng sống lại trong những năm gần đây với dân Việt ở quê nhà cũng như ở hải ngoại. Đó là ngày giỗ của Khuất Nguyên, một trí thức thi nhân đã trầm mình xuống sông Mịch La tự vẫn cách đây hơn 2300 năm.  Khuất Nguyên tuyệt vọng vì bị vua Sở Hoài Vương một thời trọng dụng và về sau bạc đãi vì vua nghe nịnh thần tâu dối. Nghe chuyện, có lão ngư ông ngồi trên bến sông, vuốt râu, gõ bồn (trí tuệ?) mà hát:

Thương Lương chi thủy thanh hề khả dĩ trạc ngã anh.

Thương Lương chi thủy trọc hề khả dĩ trạc ngã túc.

Xin tạm phóng dịch:

Thương Lương dòng nước trong xanh,

Thì ta ngả nón rửa quanh mái đầu.

Thương Lương dòng nước đục ngầu,

Thì ta vẫn rửa, mặc dầu rửa chân.

Nước trong ta rửa mặt, nước đục ta rửa chân, cớ sao lại phải hủy diệt chính mình?

Với người trí thức, rửa là cống hiến chất xám và dấn thân hòa điệu sống phục vụ cho đời. Lời lão ngư ông trên bến sông ngày xưa ấy đã nói gì với sự lựa chọn thái độ của người trí thức hôm nay?

PSY-EASTWEST FOUNDATION

Sacramento, ngày lụt bão đầu mùa Thu 2009

© 2009 Trần Kiêm Đoàn

© 2009 talawas blog

Bình luận

35 Comments (bài “Trần Kiêm Đoàn – Trí thức Việt Nam quanh Bồn Trí tuệ”)

  1. Trịnh Hữu Tuệ viết:

    Tôi vẫn nghĩ bác Tuấn lẫn lộn một cách sâu sắc.

    Bác nói tiếng Anh cao cấp không bao giờ cho phép ghép động từ với danh từ. Sau đó, bác lại nói ‘cookbook’ có thể được dùng bất cứ đâu. Hai mệnh đề này không thể cùng đúng được.

  2. Phạm Quang Tuấn viết:

    THT: “Thứ nhất, những từ như ‘cookbook’ và ‘runway’ – theo tôi – hoàn toàn có thể xuất hiện trong ngữ cảnh văn vẻ (e.g. trong văn bản pháp luật).”

    Quan trọng ở chỗ những chữ đó xuất thân một cách “bình dân” hay “bác học”. Một khi chúng đã được dùng rộng rãi thì dĩ nhiên là chúng có thể được dùng bất cứ đâu. Lấy ví dụ chữ cookbook: người ta có thể làm những từ khác “đạo mạo” hơn như cooking book, culinary book, nhưng chữ cookbook bình dân và hợp gu quần chúng nhất nên đã được chấp nhận. Tương tự, chữ think tank đã được ghép theo kiểu bình dân đó.

    Nếu bác thấm nhuần tiếng Anh thì sẽ cảm thấy vẻ “bình dân” của cái infinitive-noun construction đó, chứ khó mà giải thích được.

  3. Lê Thượng viết:

    Think Tank là “think tank”. Muốn Việt hóa thì dùng “Thinh Tăng”. Nếu ai có nghĩ lầm “Thinh Tăng” là Thiền-sư hay sư ngậm miệng thì cũng chẳng sao!

    Nếu dùng Google để dịch chữ “Think Tank” ra tiếng Pháp, Đức, Ý, Tây-ban-nha, Đan-mạch, Norway, v.v.. ta chỉ có một chữ “Think Tank” để làm vốn. Chính vì thế, tại sao ta lại phải cố dịch ra tiếng Việt? Trước hết, hầu như tất cả chữ đã dịch nghe qua chẳng êm tai chút nào và sau nữa lại mất ý nguyên thủy của nó.

    Think Tank được đặt ra là do giới quân sự ở Mỹ, nên nó có hàm ý đến xe tăng (phá) một phần nào. Theo thiển ý của tôi thì chữ Tank được chọn là tại nó có 2 nghĩa: chứa và phá. Nhưng với thời gian, Think Tank đã được dùng trong các ngành khác như bạn Hưng-Quốc đã chỉ ra ở trên. Ví dụ ở Canada, có mấy chục “Think Tank”. Think Tank hiện được nghe đến nhiều nhất ở xứ này là về bảo-vệ môi trường vì liên hệ đến “Dầu Cát”. Chính thế, think tank chỉ là một nhóm chuyên viên về một nghành nào đó ngồi lại với nhau góp ý, nghiên cứu (chứa) để làm phương hướng hành động hay để ngăn ngừa (phá) những đều xấu có thể xẩy ra.

    Đấy là chưa bàn đến chữ Think. Cũng phức tạp lắm, chẳng thua gì chữ tank.

    Thôi thì ta nên dùng luôn “Think Tank” với Việt-hóa “Thinh Tăng” cho trọn ý nguyên-thủy và làm giàu luôn tiếng Việt.

  4. Trịnh Hữu Tuệ viết:

    Tôi nghĩ bác Tuấn lẫn lộn một cách sâu sắc.

    Thứ nhất, những từ như ‘cookbook’ và ‘runway’ – theo tôi – hoàn toàn có thể xuất hiện trong ngữ cảnh văn vẻ (e.g. trong văn bản pháp luật).

    Thứ hai, giả sử ‘cookbook’ và ‘runway’ ít xuất hiện trong cái tiếng Anh mà bác Tuấn gọi là “cao cấp”, thì đó cũng là vì những thảo luận (mà bác cho là) “cao cấp” ít quan tâm đến sách nấu ăn và đường băng, chứ không phải vì ‘cookbook’ và ‘runway’ mang cấu trúc [động từ + danh từ]. Nói cách khác, nguyên nhân nằm ở ngữ nghĩa, không phải ở cách ghép từ (hình thái học). Nếu Habermas tự nhiên quan tâm đến sách nấu ăn, ông sẽ dùng từ ‘cookbook’ (nếu ông viết bằng tiếng Anh).

    Bác Tuấn nói “tiếng Anh cao cấp không bao giờ cho phép ghép chữ kiểu đó”. Có thể bác định nghĩa được “tiếng Anh cao cấp” sao cho tất cả những từ mang cấu trúc [động từ + danh từ] đều không phải “tiếng Anh cao cấp”. Tôi không đủ thông minh để hình dung ra được bác sẽ làm việc đó như thế nào.

  5. Phạm Quang Tuấn viết:

    Những ví dụ của bác TH Tuệ đều confirm nhận xét của tôi: những chữ đó đều là từ của dân kỹ thuật kiểu Mỹ, bình dân, “no nonsense”, không văn vẻ. Nó tương đương với những từ tiếng nôm của ta, không “cao cấp” như những từ “trí tuệ”, “tư duy”… Chẳng hạn: hardware và software người hải ngoại thường dịch văn vẻ là “cương liệu, nhu liệu” còn trong nước hay dịch nôm na (và đúng tinh thần… Mỹ) là “phần cứng, phần mềm”.

  6. Trịnh Hữu Tuệ viết:

    Bác Phạm Quang Tuấn nói: “Think là động từ ở dạng infinitive, tank là danh từ, mà tiếng Anh “cao cấp” thì không bao giờ ghép chữ kiểu đó.”

    Lúc (chuyển sang) nói tiếng Anh cao cấp, chắc bác Tuấn sẽ dùng ‘fellatio’ để thay thế ‘blow job’, nhưng tôi không hiểu bác sẽ thay thế ‘pay cheque’, ‘sleep mode’, ‘break point’, ‘runway’ và ‘cookbook’ bằng gì.

    Tra wiki (yes!) thì thấy họ nói từ ghép tiếng Anh có thể bao gồm một động từ (verb) đứng trước một danh từ (noun). Ví dụ của họ là ‘breakwater’.

  7. hoang trieu viết:

    Theo tôi
    Think tank = đầu não
    cho nên IDS không là think tank của VN.
    Bộ chính trị ĐCSVN là think tank của VN. IDS muốn làm đầu não của VN nên bị NQ 97 đánh phá tan.

  8. carophi viết:

    Một số vị tham gia phản hồi tại đây không nên đến vùng sâu của Thừa Thiên vì sẽ chết khát. Đơn giản vì ở đó không có nước: người dân ở đây chỉ uống nác!

    Kỳ lạ là không một ý nào bàn về quyền tự do phát kiến của trí thức Việt Nam đang bị tước mất mà chúng tôi thì rất mong được nghe để tự an ủi là “mấy ổng vẫn đang suy tư”.

    Gọi think tank bằng tiếng Việt như thế nào có quan trọng lắm không? Mà chẳng riêng think tank, còn vô số từ mới ta dùng sống vì không kịp tiêu hóa. Xin quý vị dịch chữ desktop chỉ vùng làm việc của màn hình máy tính khi chạy hệ điều hành Windows.

  9. Tôn Văn viết:

    Thưa quý bác,
    Bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn có thể xem như một tùy bút đọc hay như một bài thơ; có nhiều gởi gắm và gợi mở. Nhưng đúng là có gọi rõ tên mới bàn được kỹ (danh chính ngôn thuận); vậy cũng xin góp chút suy nghĩ về „think tank“ và tinh thần bài chủ.
    – „Think tank“ – qua (những ý kiến các bác) nguyên nghĩa „bồn/bể/vựa chứa“ đến nghĩa ẩn „chiến xa“ để quay về „vật chứa đựng (tank) tư duy (think)“ – có lẽ được khởi hứng từ „ao hồ Tứ thư, Ngũ kinh“ nên đã thành „bồn“? – nếu thế thì nó có bị làm nhỏ đi không? Xét nội dung hiện tại, tôi nghĩ đến một hình thức đã có ở Việt Nam từ sớm: Hội Khai Trí Tiến Đức (http://vi.wikipedia.org/wiki/Khai_Tr%C3%AD_Ti%E1%BA%BFn_%C4%90%E1%BB%A9c); nhưng hội này cũng chỉ tập trung vào đề tài văn hóa và do những nhà trí thức quá lừng danh tạo lập. Ngày nay cả nội dung và hình thức đã được mở rộng rất nhiều. Đúng là „kho/bồn/bể/vựa“ đều rất thụ động, trong khi ý nghĩa tư duy (think) rất sống động. Xin lấy hết dũng cảm đưa ra một từ cục mịch là „lò luyện ý / tư duy“; hy vọng các bác xem rồi bỏ quá.
    – Tác giả Trần Kiêm Đoàn nhận xét rất đúng: „chính quyền Việt Nam ‚chưa tậu được bò đã lo rình mò kẻ trộm’“; nhưng trong tình trạng này mà cho rằng „Loay hoay định nghĩa màu mè hay tìm tòi những thuộc tính chi li của trí thức sẽ vướng vào chủ nghĩa hình thức chưa cần thiết lúc nầy“ thì chưa phải. Chính lúc này cần làm rõ trí thức là nền tảng của tiến bộ và phát triển xã hội. Nó rộng hơn các thể chế chính trị để có thể bỏ vào trong những khái niệm như „phản động“, „thế lực thù địch“. Nhìn rõ như thế để CÓ CHÍNH SÁCH DÙNG TRÍ THỨC ĐÚNG thì chưa nhất thiết phải đầu tư „đào tạo tiến sỹ“ hao tiền tốn của như bây giờ đã có thể làm được việc hữu ích.
    – „Bài hát ngư ông“ làm tôi nhớ đến lời của một bậc đáng kính: Người ta sống không phải chỉ vì bánh mỳ… (Ông Hồ Bất Khuất còn có ý … phản cảm hơn: Con cái không đồng ý với bố mẹ lại đi tự tử à?!)
    PS: Tôi viết xong rồi mới đọc được ý kiến hay của bác Phùng Tường Vân; tuy vậy vẫn post lên để … góp vui.
    Trân trọng.

  10. Hoàng Trường Sa viết:

    “Việt Nam có tới bốn nghìn năm văn hiến, sao lại chỉ mới có một Bồn Trí tuệ chưa đầy đã vỡ? Xứ ta là “siêu nhân” không cần những Bồn Trí tuệ nầy chăng?” (trích lời tác giả Trần Kiêm Đoàn)

    Tôi xin mạo muội bất đồng ý kiến với tác giả Trần Kiêm Đoàn rằng VN “chỉ có một Bồn Trí tuệ chưa đầy đã vỡ”. Theo tôi Viện IDS mà tác giả xem như là Bồn Trí tuệ DUY NHẤT của VN từ trước đến nay là không đúng. Vào những năm trong thập niên 1960 ở miền Nam, dưới chế độ tự do VNCH, đã từng có nhiều think tanks (Bồn trí tuệ) trước nhóm IDS hàng chục năm. Thí dụ, tôi đã từng chơi thân với nhóm trí thức trẻ do Luật sư Trần Tử Huyền (con trai đầu của Luật sư Trần Văn Tuyên) và các thân hữu thành lập. Nhóm này gồm nhiều luật sư, bác sĩ, giáo sư Trung học và Đại học, kỹ sư, v.v… và họp hàng tuần tại nhà Luật sư Tuyên trên đường Hồng Thập Tự ở Sài Gòn, bàn về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục v.v… với mục tiêu là hoạt động chính trị và lập chính phủ điều hành đất nước. Nhóm đã đưa nhiều người ra ứng cử vào Quốc hội Đệ nhị VNCH và một số trở thành Dân biểu, một số là Quận trưởng ở các quận trên toàn quốc VNCH. Nhóm này thực sự là một think tank vì tư tưởng của họ đã đóng góp trực tiếp vào việc điều hành đất nước VNCH thời đó.
    Một điểm khác biệt rất LỚN giữa nhóm Trần Tử Huyền và nhóm IDS là nhóm Trần Tử Huyền được thành lập và hoạt động hoàn toàn TỰ DO, trong khi nhóm IDS thì giống như một Bồn Trí tuệ xây bằng cát vì được dựng ra trong khung cảnh của nền độc tài toàn trị, không chấp nhận tự do phản biện của ĐCSVN. Không trách gì mà bồn trí tuệ này chưa đầy đã vỡ.

  11. Nguyên Austin viết:

    Cây muốn lặng mà gío chẳng đừng! Xin đọc bản tin này.
    http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/200910/Thu-tuong-yeu-cau-xu-ly-viec-IDS-tu-giai-the-873855/

    Tôi e rằng các trí thức IDS có muốn ‘rửa chân’ trong dòng nước đục ,theo sự gợi ý của tác gỉa Trần Kiêm Đoàn, cũng không được yên thân.

  12. Vi Friendswood viết:

    Các vị phản hồi bài viết, không thảo
    luận về nội dung mà lại cãi nhau
    chữ “tank” là cái bồn chứa hay là xe tăng!

    (Trong khi đó Đức, Pháp, Hoa đều
    đã rõ và dịch là Denkfabrik, cercle de
    réflexions hay réservoir d’idées, trí khố,
    (khố là kho, ngân khố là kho bạc). Cũng
    may chỉ có trí thức VN vào cuộc, chứ thêm
    Mĩ, Đức, Pháp, Anh, Trung Quốc tham gia chắc là
    xảy ra đại chiến thế giới!)

  13. Hoàng Đông Việt viết:

    Cảm ơn Hoàng Ngọc-Tuấn đã dẫn links và giải thích cặn kẽ.

  14. Hoàng Trường Sa viết:

    “…chúng tôi thiển nghĩ dù tank là nghĩa nào trong hai nghĩa ấy chăng nữa nhưng khi nó đi với “think” để thành một từ kép “think tank” thì phải dịch, chuyển nó sao cho thích hợp với nghĩa của nội hàm ấy: trước hết nó là một tập thể nhân sự,…” (trích ý kiến bạn Phùng Tường Vân)

    Tôi xin hoàn toàn đồng ý với bạn Phùng Tường Vân và xin mạo muội đề nghị dịch “think tank” ra tiếng Việt đơn giản là “nhóm xung phá”. Lý do là mục tiêu lý tưởng của nhóm người trong “think tank” là khai mở những ý tưởng, những đường lối MỚI và HIỆU QUẢ hơn, như một chiếc xe tăng (chiến xa) xông vào vùng địch để mở lối cho bộ binh tấn công làm chủ chiến trường.

  15. Phùng Tường Vân viết:

    @Think tank, một kinh nghiệm.

    Chẳng dám dài dòng, chỉ xin thuật lại một kinh nghiệm, Gorbachev sau khi hoàn tất xong cái ơn lớn cho nhân loại là giải thể khối Sô-viết và ra khỏi chính trường thì ông có ý định thành lập quanh hào quang cũ của ông một số tên tuổi như một “think tank”, tôi nhớ lúc ấy ông Nghiêm Xuân Hồng thuật lại sự kiện ấy viết: “Ông có ý định thành lập một tập thể tri thức” (tri không có dấu sắc); dùng nhóm từ “một tập thể tri thức” để chuyển dịch chữ “think tank”, trong trường hợp này tôi thấy là rất thỏa đáng.

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>