Đế đạo, nhược tiểu và con đường hòa bình
21/03/2009 | 3:32 sáng | 14 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Đế đạo > Lịch sử > Mặc cảm nhược tiểu
Nhiều lần tôi tự hỏi mặc cảm nước nhỏ / nhược tiểu của người Việt Nam không rõ manh nha từ thời điểm nào trong lịch sử. Thiên “Lịch sinh, Lục Giả” trong Sử ký thuật lại câu chuyện giữa Triệu Đà và Lục Giả: “Triệu Đà lại hỏi: “Ta với Hán đế nhà Hán ai giỏi hơn?”. Lục Giả nói: “Hoàng đế nhà Hán nối nghiệp Ngũ Đế, Tam Vương, thống trị cả Trung Quốc, đất hàng muôn dặm, chính quyền ở tay một nhà, nhà vua ở góc bể, sao dám ví với nhà Hán?”. Triệu Đà nói rằng: “Ta giận rằng không khởi binh ở Trung Quốc, nên phải làm vua ở đất này. Sao lại vội bảo ta không bằng nhà Hán?”.
Qua đến thời Lý, theo Việt sử tiêu án, Thái Tông hỏi quần thần: “Tiên đế thăng hà đã 16 năm nay, nước Chiêm Thành chưa có cho một sứ thần nào sang nước ta, có phải là oai đức của Trẫm chưa đến nước ấy, hay là chúng cậy có núi sông hiểm trở đó chăng? Quần thần thưa: “Đức tuy đã có đến chúng mà oai chưa được rộng”. Năm Giáp Thân 1044, để ra oai, Thái Tông thân chinh đánh Chiêm Thành và thu được thắng lợi vang dội.
Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần (theo niên biểu của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo), đến Lê, Tây Sơn, Nguyễn, nước Việt nhiều lần dùng từ Đại cho quốc danh của mình, tuy mạnh yếu mỗi thời một khác nhưng chưa bao giờ nao núng nếu phải đương đầu với Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Họ từng bá chủ khu vực Đông Dương.
Phải chăng chỉ đến khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, bị người Pháp nô thuộc, mặc cảm thua thiệt và hèn kém đã khiến tâm hồn dân tộc Việt xuất hiện tư tưởng nhược tiểu?
Năm 1975, Mỹ rút khỏi chiến trường Đông Dương. Được hà hơi tiếp sức bởi chiến thắng 30.4, người Việt Nam đột ngột dứt bỏ mặc cảm nhược tiểu và toan đi tìm những vinh quang cũ trong lịch sử. Tuy nhiên thời đã khác, trật tự thế giới cũng đã khác. Hàng thập kỷ đói nghèo và bị cô lập sau đó lại kéo người Việt Nam trở về nỗi niềm nước nhỏ.
*
Đọc đến đây, không ít độc giả cũng như tôi đã thấy dần hiện lên một từ cũ mà nhà cầm quyền Bắc Kinh từng gán gọi Việt Nam cách nay ba mươi năm: “Tiểu bá”. Phản đề của “Tiểu bá” chính là “Đại bá”, là tham vọng muôn đời nay của các tập đoàn chính trị phương Bắc. Có lẽ tôi lại phải chấp nhận bị “ném đá” ở đâu đó, trước sự xét nét tiêu cực của ai đấy sau khi bài viết này được công bố. Riêng với lý tính mà nói, đây là một từ ngữ không thích hợp để dùng song song với nhược tiểu, nhằm phân tích thấu đáo những uẩn khúc trong tâm hồn dân tộc Việt Nam, thử xem nó tác động như thế nào đến vận mệnh đất nước hôm qua, hôm nay và mai sau, trong bối cảnh khu vực phức tạp hiện thời. Tôi không đủ lãng mạn và thỏa hiệp để tìm kiếm và chấp nhận những thi tứ đại loại như “Từ thuở mang gươm đi mở cõi…”. Theo Sử ký, Triệu Đà làm vua Nam Việt ngoài mặt xưng vương với nhà Hán nhưng trong nước vẫn dùng đế hiệu. Minh chứng rõ ràng nhất là chiếc ấn “Văn đế hành tỉ” của cháu nội Triệu Đà xuất lộ từ năm 1983 tại Quảng Châu. Hơn nữa, suốt chiều dài lịch sử, các triều đại Đại Việt đã liên tục thực thi chính sách kia của Triệu Đà. Cho nên trong khuôn khổ ở đây, xin được dùng từ “Đế đạo” bên cạnh “Nhược tiểu” như hai mặt của một vấn đề, hai thái cực đã cộng sinh trong thực thể chính trị – văn hóa Việt Nam hàng thế kỷ nay.
Thực sự chủ đề này bản thân tôi đã nghiền ngẫm khá lâu, hôm 17.3.2009, lại nghe một ý kiến phát biểu trong hội thảo về Trường Sa và Hoàng Sa tại Hà Nội, đại ý: “Trung Quốc sẽ gây hấn, xâm chiếm Trường Sa khi họ đã ‘nắm’ được Lào”. Tôi nhìn nhận tính thực tế của nhận định ấy nhưng vẫn áy náy bởi nền tảng tư duy của nó. Gốc rễ của lập luận trên phải chăng xuất phát từ quan điểm phải gây dựng ảnh hưởng khu vực mạnh mẽ nhằm bảo vệ chủ quyền cũng như biển đảo của dân tộc Việt Nam? Nếu vậy nó sẽ trượt trở về vòng xoáy luẩn quẩn, nơi các giá trị đế đạo/nhược tiểu nhiều lần đổi chỗ cho nhau, trong các quyết sách chính trị Việt Nam suốt thế kỷ hai mươi.
Xin nêu ví dụ về chính thể Sài Gòn trước 1975: Từ chính sách đế đạo bắc phạt của Ngô Đình Diệm không được Mỹ ủng hộ, lập tức phương kế nhược tiểu được thực thi bằng việc giao khoán chiến tranh cho Hoa Kỳ. Kết quả là chế độ ấy đã sụp đổ nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Lạ là, hơn ba mươi năm đất nước Việt Nam bị chia cắt, chưa bao giờ hòa bình có đủ cơ hội để gây ảnh hưởng.
*
Việc cắm mốc giới đất liền Việt – Trung trùng kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt – Trung, tiếp theo là những diễn biến phức tạp trên Biển Đông với các yếu tố bổ trợ như tàu quân sự Mỹ thám sát biển, Philippine vẽ đường cơ sở, khiến cho dư luận xã hội Việt Nam hừng hực suy tư vận mệnh tổ quốc. Người Việt đang chứng minh họ có lòng yêu nước hiếm gặp trên thế giới. Song le, tôi vẫn thấy rõ rệt hai khuynh hướng đế đạo và nhược tiểu trong các luồng dư luận.
Đế đạo: Không ngừng tô vẽ hận thù. Cổ xúy đối kháng, kích động đám đông từ một quyển tiểu thuyết đậm chất nhân văn như Ma chiến hữu trở đi.
Nhược tiểu: Tự ý thức thất thế, ra điều tìm kiếm chỗ dựa dẫm. Hồ hởi với sự xuất hiện của tàu Mỹ. Phóng đại thua thiệt của nhà nước Việt Nam trên bàn đàm phán biên giới đất liền[1].
Là một người dân sống trên mảnh đất Việt Nam tôi luôn tự hỏi tại sao hoàn toàn vắng bóng những ý tưởng thiên về đối thoại và những giải pháp hòa bình? Tôi vẫn biết nếu không có các vấn đề Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc thì hòa bình thật dễ dàng. Hòa bình chưa bao giờ mang nghĩa nhu nhược. Hòa bình là giá trị tối cao của những quốc gia vừa mạnh mẽ, vừa văn minh. Biết sức mạnh thực sự của mình đến đâu không phải là cái biết dễ dàng. Cho nên mới có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Hòa bình luôn là một chiến thắng vinh quang nhất cho nhân dân bất cứ một quốc gia nào. Xin hãy tham khảo cách mà những nước nhỏ ở Âu châu đã tránh chiến tranh thế giới thứ I và thứ II. Xin hãy tham khảo cách mà người Canada và người Mexico sống cạnh Mỹ. Và cũng xin tham khảo luôn hòn đảo Cuba XHCN nghèo nàn, lạc hậu và độc tài ngoài khơi Hoa Kỳ.
Tôi rất buồn khi thấy nhiều cựu chiến binh chưa nghiệm hết cay đắng trong đáp từ của một lãnh tụ Thái Lan, khi nghe tả niềm tự hào chiến thắng các đế quốc lớn của người Việt Nam: “Người Thái tự hào vì chưa phải đánh nhau với cường quốc nào”!
Con đường đi đến hòa bình bằng đối kháng luôn là con đường dài nhất, hao tổn nguyên khí quốc gia vào bậc nhất. Hòa bình không phải hành động phi tự vệ. Người Việt Nam hoàn toàn có thể vừa suy tư về hòa bình, vừa kiên quyết bảo vệ những vùng biển cha ông mình đã khám phá và khai thác bằng công lý, lẽ phải, bằng nỗ lực tự cường nội tại. Tôi không hiểu bằng cách nào mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khiến Mao Trạch Đông dặn dò đoàn cố vấn kháng Pháp trước khi sang Việt Nam: “Sau khi đến Việt Nam, các đồng chí phải nói với họ, tổ tông xưa chúng tôi ức hiếp các đồng chí, chúng tôi tạ tội xin lỗi các đồng chí và một lòng một dạ giúp đỡ các đồng chí đánh bại bọn thực dân Pháp“[2].
Kích động hận thù giữa những dân tộc, giữa những nền văn hóa lúc nào cũng là tội ác đáng khinh bỉ. Với hận thù, người ta chỉ còn lại sự mù quáng, chỉ còn mỗi con đường tự đưa mình vào tròng tai họa, để tự sướng về tiên liệu thần thánh. Sự mù quáng không bao giờ khải giác được rằng chính hận thù đã là tai họa.
Thảo Điền
Tháng 3.2009
© 2009 talawas
[1] Khi viết câu này, tôi đã dè dặt tham khảo rất kỹ tài liệu “Tranh chấp biên giới Việt – Hoa” của CIA Mỹ năm 1979, được bạch hóa một phần năm 2002, do nhà báo Vũ Quý Hạo Nhiên dịch và giới thiệu trên báo Viet Tide ở Hoa Kỳ và trên blog của ông vừa rồi. Ít nhất chúng ta cũng có thể rút ra kết luận rằng, việc đơn phương xác định chủ quyền của Việt Nam năm 1979 tại nhiều khu vực không được Pháp – Thanh dựng cột mốc là thiếu khôn ngoan. Do đó rất khó tìm ra căn cứ để khẳng định chắc chắn sự mất đất của Việt Nam sau hiệp ước biên giới 1999. Tâm trạng chung của dư luận là dường như Việt Nam không thể kém cạnh Campuchia và Lào khi cắm mốc, nhưng chắc chắn sẽ bị thiệt với Tàu, vì chính cảm giác nhược tiểu.
[2] [http://www.diendan.org/the-gioi/hoi-ki-co-van-trung-quoc-2/] Hồi ký cố vấn Trung Quốc, Dương Danh Dy dịch.
Bình luận
14 Comments (bài “Đế đạo, nhược tiểu và con đường hòa bình”)
Hôm nay có lẽ tôi mất bình tĩnh thưa rằng tôi đã chỉ trích Đào Hiếu trịch thượng với TTDu thì hôm nay TTD trịch thượng với nhiều người qua cái học thức cao siêu như những luận thuyết tranh biện thời cổ Hy Lạp. Một người Mỹ buôn chứng khoán thành giàu vì hỏi về nhu cầu của chị chùi nhà, anh cắt cỏ, nhà trí thức nên hạ mình hỏi anh phu xe, bác nông dân về tình hình đất nước. Xin hỏi: đám người trong hội Diên Hồng là lũ mất dạy, lũ mặc cảm chăng? Bọn côn đồ, hai thằng gánh một, ngủ luân phiên từ Qui Nhơn ra Đống Đa làm theo lệnh tướng cướp Nguyễn Huệ chăng?
Nhà thông biện TTD cần hiểu cái ngu của dân gà rù qua tuần lễ vàng, tuần lễ đồng, hũ gạo đồng tâm những năm kháng chiến 1945. Khi Hoàng Cơ Minh kêu gọi đóng góp, nhóm lính, hạ sĩ quan góp nhiều nhất, bền bỉ nhất. Họ không thể bị phản bội nếu không ái quốc.
Có lẽ TTD chưa sinh vào thời chiến tranh lạnh, nhưng sự hiểu biết của ông thông suốt cổ kim. Lúc ấy Liên Sô chỉ một chữ hòa bình khiến trí thức Âu Châu kêu gọi thà hòa bình nhục nhã hơn chết. Phải chăng đây là cốt tủy của mấy bài nghiên cứu của học giả Đông Âu về Hoàng Sa, hoan hô nhà nước yên lặng nhưng không đồng ý. Vâng, hòa bình của kẻ lúc bình thường đánh đập vợ nhưng kẻ cướp vào nhà tuột quần vợ hãm hiếp, ông không đồng ý nhưng yên lặng, không dám gọi cảnh sát. Khai triển một ý của Clausewitz, Lenin viết rằng càng chính trị bao nhiều càng quân sự bấy nhiêu và ngược lại. Quân sự và chính trị là hai mặt của bàn tay. Xin thức giả TTD chẳng bận lòng.
Chia sẻ với bác Trương Thái Du về cảm nhận này. Cháu muốn đề cập đến nó trong cuộc sống hằng ngày. Cái “đế đạo” và “nhược tiểu” có lẽ đã ngấm rất sâu , hiển hiện ngay ở các ứng xử của mỗi người Việt- mà cụ thể là đàn ông Việt. Mỗi chúng ta cần tự hỏi mình, đã bao lần mình cư xử “đế đạo” với bạn bè, đồng nghiệp, vợ con và bao lần “nhược tiểu” khúm núm, thờ ơ khi đối diện với cái ác rồi. Bởi chúng ta có truyền thống sống quá lâu dưới những thể chế thiếu dân chủ, cái đó truyền từ đời ông cha cho đến đời con cháu nó quá lớn . Những tinh thần như hòa giải, lắng nghe, tìm hiểu không có đất dung thân. Nó như số phận của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh kẹp dưới 2 làn đạn: Quốc Cộng, Việt Cộng vậy .
Ông Lỗ Tấn có dùng 3 con vật để biểu trưng tính cách của người Trung Quốc: “tàn bạo như con sư tử, nhút nhát như con thỏ đế, gian xảo như con cáo” tùy từng giai đoạn hay sự việc mà 3 cái tính cách đó nó biểu trưng ra cho phù hợp và cháu cũng thấy đúng cho ngừoi Việt.
Hòa bình không bao giờ là sự ban ơn của kẻ thù.
Một sự thật rằng: nếu tương quan về sức mạnh kinh tế và quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc như ngày nay được đặt vào bối cảnh trước thế kỷ 20 chúng ta có thể khẳng định không chỉ có mỗi Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam mất về tay Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng có một thực tế khác, trong bối cảnh quốc tế ngày nay, dù Việt Nam không có đồng minh thân cận nhưng Trung Quốc cũng chưa dám gây hấn lộ liễu, vì một động thái vũ lực thái quá trong khu vực sẽ làm cho các nước khác xem xét lại chính sách đối ngoại, quân sự với Trung Quốc.
Tiếp theo 4
Ông Trương Thái Du viết: Nhược tiểu: Tự ý thức thất thế, ra điều tìm kiếm chỗ dựa dẫm. Hồ hởi với sự xuất hiện của tàu Mỹ.
Theo tôi, chính lối suy nghĩ kiểu này của ông Trương Thái Du mới là biểu hiện tâm trạng tự ti, mặc cảm nhược tiểu. Mĩ không phải là tay đi làm từ thiện, vô vị lợi. Mĩ và đồng minh của họ cần Việt Nam đóng một vai trò để duy trì an ninh trong khu vực cũng bức thiết như Việt Nam cần sự hợp tác bên ngoài để gìn giữ chủ quyền đất nước. Hợp tác toàn diện với thế giới văn minh là xu thế hiện đại dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi, cùng cần có nhau, chứ không phải là sự cầu cạnh, ai ban ơn cho ai.
Đặc biệt, những động thái nhãn tiền quân đội Trung Quốc cướp đảo, bắn giết, quấy nhiểu ngư dân mình, ngăn cản những dự án dầu khí trong thềm lục địa của mình thì lấy cơ sở nào để chúng ta có thể yên tâm tin tưởng vào những „chữ vàng“ trong ứng xử với họ được đây? Cần phải biết rằng: một khi mọi giải pháp đối thoại thất bại, gặp phải đối phương khăng khăng đe dọa dùng vũ lực hòng đạt được mục đích, vẫn còn một giải pháp cuối cùng để duy trì hòa bình là: cho đối phương thấy, nếu họ gây ra chiến tranh, họ có chiến thắng nhưng giá quá đắt so với những gì đạt được. Thế nên, ngoài các giải pháp khác nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền lợi thiết thân của Tổ quốc, việc tăng cường, hiên đại hóa quân sự thiết tưởng không bao giờ thừa, không bao giờ là điều đáng phải hổ thẹn mà là ngược lại.
Tiếp theo 3
Ông Trương Thái Du viết: „Xin hãy tham khảo cách mà người Canada và người Mexico sống cạnh Mỹ. Và cũng xin tham khảo luôn hòn đảo Cuba XHCN nghèo nàn, lạc hậu và độc tài ngoài khơi Hoa Kỳ.“
Nếu Việt Nam gần Mĩ như Canada, Mexico, Cuba, Venezuela hay kế bên khối EU chứ không phải Trung Quốc tôi bảo đảm rằng trong thế kỷ 21 này đất nước chúng ta không còn phải canh cánh lo họa xâm lăng làm gì. Là người Việt Nam, lên mặt dạy nhau về chiến tranh thiết tưởng là thừa. Chẳng ai muốn chiến tranh nhất là với một gả khổng lồ như Trung Quốc. Tuy nhiên, lúc này đây họ đang chạy đua với thời gian để hiện đại hóa quân sự khiến cả thế giới quan ngại, trong khi mình kề cận bên họ, với bao kinh nghiệm lịch sử xương máu nhưng vẫn lấm lét lo sợ hay an nhiên tự tại không dám hay không lo phòng thủ thử hỏi có cái hèn hay cái ngu nào hơn!
Tiếp theo 2
Nếu cứ theo cách suy diễn của ông Trương Thái Du chúng ta cũng có thể đi tới kết luận Trung hoa là một nước tham tàn, hiếu chiến, khát máu. Không biết bao con người vô tội, bao dân tộc lân bang đã bị giết dưới tay những tên hôn quân Kiệt, Trụ, Tần Thủy Hoàng cho tới Mao Trạch Đông, Đặng tiểu Bình. Chưa thấy một triều đại nào ở Trung hoa từ bỏ hành động xâm lấn bờ cõi các nước lân bang.
Không hiểu ông Trương Thái Du giả vờ hay ngây thơ tin những lời „nhắn gửi“ của Mao Trạch Đông với các đồng chí khi qua „giúp“ miền Bắc Việt Nam. Cũng như chí nguyện quân ở gửi qua Triều Tiên, hành động hỗ trợ cho Miền Bắc Việt Nam trong cuộc chiến Đông Dương lần hai chắc chắn Trung Quốc không vô vị lợi chút nào. Vì theo đuổi mục đích nào đó mà phải hợp tác thì họ tiếc gì vài câu đãi bôi? Ngày nay, quyền lợi của đôi bên đã khác, thậm chí đang xãy ra những động thái sự xung đột quyền lợi mà vẫn hy vọng, mong chờ những ngôn từ như „16 chữ vàng“ cùng “4 tốt” với Trung Quốc được chăng?
Tiếp theo 1
Nếu Nguyễn Trãi chỉ là một tên vô danh tiểu tốt, không là một nhân vật lịch sử, một con người xuất chúng hẳn không thoát khỏi sự mỉa mai của ông Trương Thái Du khi dám tự nhận Đại Việt hùng cứ một phương, ngang tầm với các triều đại Trung Quốc. Đã thế, không phải là dấm dúi mà là công khai trong bài cáo, ông ta bêu tên hiệu hoàng đế Trung Quốc ra mắng ra rã „thằng nhải con Tuyên Đức“ trước mặt bá tánh. Thật ra, việc làm này của Nguyễn Trãi không phải không có mục đích mà là tỏ cho bá tánh Đại Việt uy phong của ngôi vị Thiên tử thuận theo chỉ mệnh Trời mà thôi. Còn, nếu tỏ ra khiếp nhược trước ngoại bang thì dân chúng sẽ coi vương triều ra thá gì? Phép yên dân người xưa tài tình như vậy được ông Du suy diễn ra một thứ đế đạo như là thứ tâm lý bênh hoạn thử hỏi còn gì vô lối hơn.
Vừa đọc qua bài của ông Trương Thái Du xin có đôi lời:
Chính sách ngoại giao và nội trị hợp lý trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của ông cha chúng ta bao đời nay được ông Trương Thái Du bình phẩm với giọng văn mỉa mai về một cái gọi là „mặc cảm nhược tiểu – đế đạo“.
Từ một sự thật rằng: nước Đại Việt nhỏ bé trong tương quan, nằm cạnh người bạn phương Bắc khổng lồ, thời đó được coi là thiên hạ duy nhất dưới gầm trời lẽ dĩ nhiên phải mền mỏng giữ hòa khí nhằm hóa giải nạn đao binh cho bá tánh là điều hết sức cần thiết. Tuy nhiên, sự mềm mỏng đó cũng chỉ như việc nước Sở cống cỏ thanh – mao cho nhà Chu mà thôi, còn một thước núi, tấc sông quyết không bao giờ làm mồi cho giặc để cầu an. Phương thế ngoại giao với một lân bang khổng lồ như vậy có thể cho là mặc cảm nhược tiểu được sao?!
(tt)
Trên quan điểm của chú, cháu thấy một chiến lược hòa bình ngàn năm có khả năng xảy ra chỉ khi chúng ta giáo dục được khoảng vài thế hệ một tư duy lãnh thổ theo chiều sâu và tư duy đó trở thành đa số. Chúng ta giữ đất, giữ biển bằng xương máu để làm gì khi chúng ta vẫn nghèo, vẫn bị chúng nó thao túng bằng tiền, vẫn bị chúng nó từng bước tha hóa văn hóa, nhiều người vẫn cảm thấy cuộc sống không đáng sống? Để định nghĩa thì dài dòng và cần một chiến lược tổng thể đồ sộ nhưng ví dụ thì đơn giản, lãnh thổ Israel chỉ xấp xỉ 5000 km2, nhưng ai đo được lãnh thổ kinh tế, kỹ thuật mà người Do Thái “chiếm đóng” ở quy mô toàn cầu? Chính lãnh thổ này mới là yếu tố quyết định đến sự tồn tại của lãnh thổ nhỏ bé kia!
Một bạn trẻ đã góp ý trên blog của tôi như sau:
Có vẻ trong thế giới hiện đại, sự giằng xé giữa chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa dân tộc và sự mưu cầu môi trường sống văn minh hạnh phúc cho mỗi công dân ở các quốc gia nhỏ, đặc biệt là các nước thuộc thế giới thứ ba trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Điều này làm cho mọi động thái của giới lãnh đạo Việt Nam mang tính chất đối phó tình huống và bị động chờ đợi diễn biến của tình hình thực tế. Trong khi các anh đại, với tài nguyên kỹ thuật dồi dào, đã hầu như tính toán mọi khả năng phản ứng của Việt Nam, họ có thể không gạt chúng ta ra khỏi cuộc chơi, nhưng cách tham gia cuộc chơi và thời gian tham gia cuộc chơi là do họ quyết định theo kiểu đưa chúng ta vào vị trí “thời đã thế thế thời phải thế”.
Trên quan điểm của chú, cháu thấy một chiến lược hòa bình ngàn năm có khả năng xảy ra chỉ khi chúng ta giáo dục được khoảng vài thế hệ một tư duy lãnh thổ theo chiều sâu và tư duy đó trở thành đa số. Chúng ta giữ đất, giữ biển bằng xương máu để làm
Không nên rơi vào hai thái cực đế đạo hoặc nhược tiểu trong đối sách toàn cầu hiện nay: đúng, hoàn toàn đúng! Nhưng trước một siêu cường đang giơ nanh múa vuốt và ngày càng bộc lộ dã tâm lấn áp, thì con đường hòa bình xem ra rất chính đáng mà ai cũng mơ ước, như phương án của tác giả, cần được xác định cụ thể là thế nào? Không tài nào hiểu. Một cách nói lý thuyết để rồi không giải quyết gì cả liệu có ích gì không? Và – người góp ý thành thật xin lỗi nếu điều này nằm ngoài ý định của tác giả – nếu cái hệ luận sous-entendue của “con đường hòa bình” nói ở đây tức là: phải bắt tay thực hiện 16 chữ vàng với “thiên triều”, ký kết những hiệp ước đàm phán “song phương” (như đã ký kết Hiệp ước biên giới trên bộ mà phần thua thiệt rõ ràng mình chịu), để khỏi mất Đảng, giữa tình thế Đảng đang tỏ ra… vừa sợ dân vừa sợ bành trướng, lúng búng như gà mắc tóc, thì việc gì mà phải giấu giếm, cứ nêu lên thành một chính kiến để mọi người thấu triệt.
Ông Trương Thái Du mất rất nhiều trích dẫn cũng như lý lẽ để đi đến những nhận định :”Phóng đại thua thiệt của nhà nước Việt Nam trên bàn đàm phán biên giới đất liền…”. Ông Du có được Nhà nước rỉ tai riêng cho ông biết VN thua thiệt thế nào trong Hiệp định biên giới mà dám kết tội dư luận một câu hồ đồ như trên. Thế ông có biết Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, bãi Tục Lãm và biết bao nhiêu mảnh đất trên vùng núi biên giới khác bị lấn chiếm. Ông nói: “… Là một người dân sống trên mảnh đất Việt Nam tôi luôn tự hỏi tại sao hoàn toàn vắng bóng những ý tưởng thiên về đối thoại và những giải pháp hòa bình…”. Thế ông có biết Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa năm 1975, lấn chiếm Trường Sa năm 1988 và tiếp tục cho đến bây giờ, và ông có biết chúng đã sát hại bao nhiêu chiến sĩ và đồng bào ta không? Đứng trước tình hình máu đã đổ vậy, Nhà nước Việt Nam vẫn tiến hành “những giải pháp hoà bình” bằng cách ngậm miệng, ngó lơ mà ông không thấy sao?” Ông còn muốn trí thức VN bưng tai bịt mắt đến bao giờ nữa để làm vui lòng thiên triều? Ông trách móc người trong nước qua vụ “Ma chiến hữu” là “Kích động hận thù giữa những dân tộc, giữa những nền văn hóa lúc nào cũng là tội ác đáng khinh bỉ.” Thưa ông bầy tỏ lòng phẫn nộ trước hoạ xâm lắng của phương Bắc sao lại là “đáng khinh bỉ”? Thế ông có biết TQ lâu nay vẫn phát động lòng hận thù, đe nẹt VN như thế nào không? Ông thử vào sino.com coi kế hoạch xâm chiếm VN coi. Hiện nay VN đang đứng trước nguy cơ mất nước, đáng lo ngại nhất là nhà cầm quyền đã dâng Tây Nguyên cho TQ tạo một mối hậu hoạ cực kỳ nguy hiểm cả về phá huỷ môi trường lẫn an ninh quốc phòng. Ông là người Việt Nam, ông có nhận ra nguy cơ mất nước đó không? Ngày nay mang danh là trí thức, nếu không góp một tiếng nói cảnh báo nguy cơ mất nước thì cũng xin đừng nguỵ biện, biến báo làm phương hại đến sự phản ứng dẫu còn vô cùng yếu ơt, manh mún của sĩ phu trước dã tâm xâm lược của kẻ thù phương Bắc.
Kính ông