Tâm Quảng – Tản mạn bên lề cuộc hội thoại của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Vancouver 2009
13/10/2009 | 1:05 sáng | 9 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Tôn giáo
Thẻ: Dalai Lama
Ngày 29 tháng 9 năm 2009, thật là một phúc lạc lớn cho tôi được dự cuộc hội thoại về Hòa Bình Vancouver 2009 (Vancouver Peace Summit 2009) giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma với những người được giải Nobel và các nhân vật quốc tế trong lãnh vực giáo dục, nghệ thuật, kinh doanh, chính trị và thăng tiến xã hội. Chủ đề của cuộc hội thoại này là “nuôi dưỡng tâm” (educate the heart).
Trong bài viết này tôi sẽ không tường trình nội dung cuộc hội thoại, độc giả quan tâm có thể đọc trên trang web www.dalailamacenter.org, tôi sẽ kể những chuyện tản mạn và suy nghĩ bên lề cuộc hội thoại.
Theo như ghi trên vé, chương trình bắt đầu lúc 8:30 sáng. Tôi muốn xem quang cảnh những người đến dự cuộc hội thoại như thế nào nên đã đến Orpheum Theater sớm hơn nửa giờ, nghĩ rằng mình sẽ là một trong những người đến sớm nhất. Nhưng khi đến nơi, tôi đã thấy người ta xếp hàng dài trên cả trăm mét chờ vào cửa. Trời mưa lất phất, nhiều người không có dù nhưng không ai tỏ vẻ sốt ruột. Mọi người thanh thản chờ đợi đến lượt mình để vào bên trong nhà hát. Chỉ một chi tiết này thôi cũng cho thấy thính giả của cuộc hội thoại này như thế nào.
Vào bên trong nhà hát, tôi rất vui khi gặp vợ chồng anh chị Kh., Phật tử người Việt quen thân. Chúng tôi chỉ kịp chào nhau rồi mỗi người lo đi tìm ghế của mình bởi vì phần đông người tham dự đã ngồi vào chỗ của họ.
Nhận xét đầu tiên của tôi trước khi chương trình bắt đầu là sự thân thiện giữa những thính giả đối với nhau. Tôi đến sau mà số ghế của tôi lại ở phía trong nên những người ngồi ở phía ngoài phải đứng dậy nhường chỗ cho tôi đi vào. Họ làm điều đó một cách vui vẻ, vài người còn mỉm cười với tôi như khuyến khích một người châu Á nhỏ con, tóc bạc đến tham dự một buổi hội thoại mà hơn 99 phần trăm thính giả là người Tây phương. Điều này trái hẳn với thái độ thường gặp ở một buổi trình diễn Opera hay múa ba lê.
Trong buổi hội thoại, thính giả chăm chú lắng nghe. Không có tiếng nói chuyện, không có tiếng áo quần sột soạt. Nhưng hội trường lại trở nên sôi động bởi những tràng pháo tay nồng nhiệt tán thưởng một lời nói sâu sắc, một câu chuyện vui hóm hỉnh và ý vị của diễn giả.
Đến khi chương trình kết thúc, nhiều thính giả còn ở lại trong tiền sảnh, một phần vì trời mưa, một phần vì để xem một cuộc triển lãm tranh của nhiếp ảnh gia Lisa Kristine mà chủ đề chính là các nhà sư Tây Tạng. Một niềm hạnh phúc tỏa sáng trên nét mặt, nơi khóe mắt mọi người.
Bên lề buổi hội thoại, tôi chú ý rằng số Phật tử người Việt rất ít, nhưng đáng ngạc nhiên hơn là tôi không thấy một người Hoa nào cả. Số người Việt tham dự quá ít vẫn là điều có thể hiểu được. Theo thống kê năm 2006[1], số người Việt ở vùng Vancouver và phụ cận là 26.110 người. Nhìn lại số Phật tử Việt Nam thường xuyên đi chùa cũng không đông lắm. Trong khi đó, số người Hoa là 402.000 người, và có rất nhiều chùa người Hoa ở Vancouver và Richmond, trong đó có những ngôi chùa lớn vào bậc nhất ở Bắc Mỹ. Nếu tính theo tỷ lệ số dân, số Phật tử, và giả thiết rằng có khoảng 10 người Hoa đã đến dự buổi hội thoại này nhưng do lẫn trong số quá đông gần một ngàn sáu trăm người nên tôi đã không nhận ra họ, thì đó cũng là một con số quá khiêm tốn khiến tôi phải ngạc nhiên. Thực ra điều này cũng trùng với nhận xét của anh chị Kh. và những người bạn tôi khi tham dự các buổi nói chuyện khác của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Chan Centre – UBC. Làm sao để giải thích sự hiếm hoi này? Tôi không có cách lý giải nào khác hơn là nghĩ rằng đối với người Hoa, Đài Loan hay lục địa, Phật tử hay không Phật tử, họ đều xem Đức Đạt Lai Lạt Ma là người lãnh đạo của nhân dân Tây Tạng, một đất nước đã bị người Trung Quốc xâm chiếm và đang tìm cách giành lại độc lập, dù chỉ là độc lập về chủng tộc, văn hóa và tín ngưỡng.
Như anh T., người Đài Loan, giám đốc một hãng du lịch ở Úc, người tổ chức chuyến hành hương Ấn Độ – Đài Loan năm ngoái, trước đại chúng thường ca ngợi Đức Đạt Lai Lạt Ma không hết lời. Anh ta khoe rằng trong một chuyến đi trước, phái đoàn đã được Đức Đạt Lai Lạt Ma tặng cho mỗi người một tượng Phật nhỏ mạ vàng, nên lần này anh đã đặt người ta làm hơn một trăm tượng Phật như vậy để tặng cho mọi người trong phái đoàn. Thế nhưng trong chỗ riêng tư, (anh ở chung phòng với tôi trong chuyến đi), anh ta nói rằng Trung Quốc không thể nào trả độc lập cho Tây Tạng, và Đức Đạt Lai Lạt Ma phải đối thoại với nhà cầm quyền Trung Quốc, ngụ ý cho rằng Ngài đã không chịu nói chuyện với nhà cầm quyền Trung Quốc hay những bế tắc trong việc thương thuyết giữa Ngài với chính phủ Trung Quốc là do Ngài chứ không phải do phía Trung Quốc! Đó là luận điểm của nhà cầm quyền Trung Quốc trước dư luận quốc tế. Tư tưởng Đại Hán đã ăn sâu trong tâm trí người Hoa từ hàng ngàn năm nay, và ngày nay để giải quyết những mâu thuẫn nội bộ ở trong nước họ, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đến mức cực đoan. Cứ xem những thành tích có thật và giả dối trong Olympic Bắc Kinh cùng với sự khoa trương về lực lượng vũ trang của họ trong ngày Quốc khánh Trung Quốc vừa qua, cũng thấy họ hiếu thắng đến cỡ nào! Nghĩ đến quê hương mình đang bị người Trung Quốc lấn dần những vùng đất, vùng biển và hải đảo, tôi lo lắng nghĩ rằng nước mình vẫn tiếp tục bị người Trung Quốc ăn hiếp dài dài. Nói như vậy tôi hoàn toàn không có ý cổ võ cho chủ trương bài Hoa. Tác giả một bài báo mà tôi quên tên đã viết rằng chủ trương bài Hoa là nhỏ nhoi về cái Tâm và không khôn ngoan về chính trị. Và rõ ràng mình không học được gì từ lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma về lòng từ bi. Tuy nhiên, nếu không ý thức rõ về chủ trương bành trướng của Bắc Kinh thì quả thật là vô minh, còn nếu giả vờ xem như không có điều đó, thì chẳng khác gì con đà điểu chui đầu vào cát!
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng Ngài có ba nhiệm vụ ở ba cấp độ khác nhau: một Con Người, một tu sĩ và một người Tây Tạng. Với tư cách là người Tây Tạng, Ngài có trách nhiệm là người phát ngôn của nhân dân Tây Tạng trong cuộc đấu tranh cho công lý.
Ở Việt Nam, tất cả mọi Phật tử, xuất gia và tại gia đều nói rằng Phật giáo đồng hành với dân tộc, nhưng kể từ ngày 30 tháng Tư năm 1975 đến nay, tôi rất buồn khi thấy một số người lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng trước đây hình như đã từ bỏ nhiệm vụ thứ ba, nhiệm vụ của người công dân! Kể từ ngày đó, ở Việt Nam công lý bị chà đạp, nhân quyền bị chối bỏ, tự do tôn giáo chỉ được dùng như một thứ trang trí cho chế độ. Có vị ở trong nước thì “tịnh khẩu chính trị” nghĩa là không bao giờ phát biểu một câu nào về tình hình đất nước kể từ ngày 30 tháng Tư nói trên. Có vị ở nước ngoài, đi thuyết pháp cùng khắp thế giới về “hiện tại lạc trú” xem như đó là cốt lõi của giáo lý đạo Phật, nhưng vị này cũng không bao giờ đề cập đến chuyện bâu-xít Tây Nguyên hay Hoàng Sa và Trường Sa. Và vì “hiện tại lạc trú” mà khi về Việt Nam, vị này đã tuyên bố “ở Việt Nam có tự do tôn giáo”! Phải chi trước 1975, các vị này đã im lặng, đã không xuất hiện trên chính trường trong nước và trên thế giới như những nhà đấu tranh cho tự do tôn giáo và hòa bình tại Việt Nam thì có lẽ đông đảo Phật tử Việt Nam đã không thắc mắc lắm.
Trong khi đó, Đức Đạt Lai Lạt Ma, không phải là người Việt Nam, lại nói về tình hình ở Việt Nam như thế nào? Năm ngoái, khi Ngài tiếp đoàn hành hương của chúng tôi đến Dharamsala, có người hỏi “Ngài có dự định đến thăm Việt Nam không”, Ngài đã trả lời rằng:
“Hiện nay tôi không có dự định đến Việt Nam vì Việt Nam hiện là một nước cộng sản và đến đó tôi sẽ bị bắt ngay. Nhưng chừng nào Việt Nam không còn là cộng sản nữa, tôi là người ngoại quốc đầu tiên đến Việt Nam như tôi đã từng là người ngoại quốc đầu tiên đến Czechoslovakia khi nước này không còn là cộng sản!”
Đó là sự khác biệt lớn nhất giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và các vị lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng nói trên, mà hồi trai trẻ những năm 1963 – 1966 tôi đã hết lòng ngưỡng mộ.
Trở lại với cuộc hội thoại về hòa bình ở Vancouver, tôi có một nhận xét đáng chú ý khác nữa. Sau khi cuộc hội thoại chấm dứt, tôi thấy trước cửa nhà hát Orpheum một thiếu nữ mà tôi đoán là người Hoa đang phân phát giấy mời tham dự buổi thuyết pháp của một vị sư người Tây Tạng vào tối hôm sau. Tôi thắc mắc không hiểu tại sao một vị Lạt Ma Tây Tạng nào đó lại chọn thời điểm này để thuyết pháp trong khi lịch thuyết giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đầy ắp trong mấy ngày này? Chẳng lẽ vị đó muốn cạnh tranh với Ngài hay sao? Anh Kh. giải thích cho tôi rằng từ trước đến nay, mỗi khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Vancouver giảng thuyết đều có những vị Lạt Ma Tây Tạng tổ chức thuyết pháp nằm mục đích làm loãng sự chú ý của mọi người đến Ngài. Điều này phù hợp với nhận xét của Giáo sư Robert Thurman mỗi khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đến thuyết giảng tại Úc. Ai là người đứng đằng sau những tổ chức này, không nói người ta cũng biết!
Tôi tự nghĩ, đối với người lãnh đạo cả tôn giáo lẫn thế quyền của người Tây Tạng như Đức Đạt Lai Lạt Ma, công dân danh dự của nhiều nước, khi chu du khắp thế giới để thuyết giảng Ngài thường được các vị nguyên thủ quốc gia và quốc hội của các nước tiếp đón long trọng, vậy mà cũng có những người Tây Tạng (hay giả danh Tây Tạng?) đến tổ chức những sinh hoạt khác để làm loãng sự hiện diện của Ngài. (Họ không dám chỉ trích Ngài vì uy tín của Ngài quá lớn!) Thế thì đối với Cố Hòa Thượng Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống Thích Quảng Độ, những người bị cầm tù và quản chế suốt trong mấy chục năm nay, không được phép đi lại trong đất nước mình, việc xuất hiện của những nhóm chống đối như Về Nguồn, Thân Hữu Già Lam là chuyện thường tình. Trong vài năm gần đây tôi thường băn khoăn tự hỏi tại sao những tu sĩ Phật giáo tự nhận mình là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nhưng lại có thể tuyên bố không chấp hành lệnh của Đức Tăng Thống, gây ra chuyện chia rẽ trong nội bộ Phật giáo, làm xôn xao dư luận quần chúng Phật tử? Nhưng qua sự kiện nói trên bên lề cuộc hội thoại của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi chợt “ngộ” ra rằng đó là chuyện tất yếu phải xảy ra trong quá trình tranh đấu cho công lý, nhân quyền và tự do tôn giáo, chống lại một chế độ cộng sản độc tài toàn trị tại Việt Nam. Nhờ vậy tôi không còn thắc mắc nữa và cảm thấy thanh thản. Đây là một phần thưởng cộng thêm vào những phúc lạc mà tôi hưởng được từ những phát biểu của Đức Đạt Lại Lạt Ma, những người được Giải thưởng Nobel và các nhà giáo dục danh tiếng trên thế giới về lòng từ bi và giáo dục lòng từ cho các lớp trẻ.
Greater Vancouver, ngày 09 tháng 10 năm 2009
© 2009 Tâm Quảng
© 2009 talawas blog
[1] http://www12.statcan.gc.ca/english/census06/data/topics/
Bình luận
9 Comments (bài “Tâm Quảng – Tản mạn bên lề cuộc hội thoại của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Vancouver 2009”)
Cám ơn tác giả đã giải thích về nghi vấn của tôi. Như vậy thì quá rõ ràng và tôi tin lời ông. Tôi xin rút lại nghi vấn của tôi và thành thật xin lỗi tác giả TQ.
Độc giả Tri Ngộ nói:
“Việc đưa lời nói của Đức DLLM về việc không đi thăm những nước CS tôi không chắc là thật thốt ra từ Ngài, tôi không nghĩ VN đã hoặc sẽ mời Ngài và nếu có mời chưa chắc Ngài từ chối.”
Để trả lời ý kiến này, Tâm Quảng xin thưa:
Chuyến hành hương Ấn Độ – Đài Loan năm 2008 do tu viện Quảng Đức và Triumph Tours ở Úc phối hợp tổ chức. Phái đoàn do ĐĐ Phó Trụ Trì Thích Nguyên Tạng làm trưởng đoàn cùng với Đạo Hữu Tony Thạch (Giám đốc công ty du lịch Triumph Tours) làm trợ lý và có gần 100 người tham dự.
Câu hỏi: “Ngài có dự định đến thăm Việt Nam không?” là do Đại Đức Thích Nguyên Tạng nêu lên. Khi Đức Đạt Lạt Ma trả lời:
– “Hiện nay tôi không có dự định đến Việt Nam vì Việt Nam hiện là một nước cộng sản và đến đó tôi sẽ bị bắt ngay. Nhưng chừng nào Việt Nam không còn là cộng sản nữa, tôi là người ngoại quốc đầu tiên đến Việt Nam”
Thì tất cả mọi người trong đoàn đã vỗ tay nồng nhiệt.
Đại Đức Thích Nguyên Tạng là người ngồi đối diện với Đức Đạt Lai Lạt Ma trong buổi tiếp kiến. Đại Đức là dịch giả nhiều sách của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Vì vậy quý độc giả có thể lên trang nhà của tu viện Quảng Đức http://www.quangduc.com để biết địa chỉ email của Đại Đức Thích Nguyên Tạng và kiểm chứng lại câu trả lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nếu Đại Đức Thích Nguyên Tạng phủ nhận rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma không nói như vậy, tôi sẽ chính thức đề nghị trang nhà Talawas lấy bài này xuống!
Tâm Quảng
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trở lại Calgary vào ngày 30 tháng 9 năm nay để nhận cái mũ cao-bồi trắng sau 30 năm, cái mủ đáng lý ra được tặng ngài từ năm 1980, lần đầu ngài đến thăm Calgary.
Sau đấy gần 20 năm, cái mũ “stetson” trắng này lại tặng cho ông chủ tịch TQ Giang Trạch Dân, nhân dịp ông ghé Calgary năm 1997. Bị phản đối kỳ đấy, lần nầy ngài đến thành phố để dự hội thảo về hòa bình, không những ngài tiếp nhận cái mũ stetson trắng ấy mà còn nhận thêm một bằng luật danh dự của trừơng đại học Calgary. Không hiểu ngài có thoải mái khi nhận mũ mà tôi thấy ngài nhăn trán trong khi ông thị trưởng đội mũ cho ngài?
http://www.dalailama.com/news.446.htm
Dấu ấn của Đức Đạt Lai Lạt Ma = Cười, Diễu, Hóm Hỉnh.
(Quand on demande au Dalaï Lama quel est son passe-temps préféré, il répond : “Rire”)
Khi người ta hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma sở thích để giải trí của ngài là gì, câu trả lời là : “Cười”
http://www.ina.fr/media/entretiens/video/I08060060/le-dalai-lama-et-le-rire.fr.html
Lời khuyên của Bác LQTrinh rất chín chắn, tuy không dễ làm cho một người chân ướt chân ráo như tôi. Kinh điển thì như biển. Nhưng tôi đồng ý với Bác, chỉ có tình thương và trí tuệ là bản chất thâm sâu nhất của nhà Phật. Thể hiện được hai điều này là mình đang thực sự tô đẹp cho cuộc đời.
Ông Tri Ngo (Trí Ngộ ?) viết:
“Tuy nhiên, đâu có nghe Đức DLLM khuyên người ta tẩy chay hàng TQ, mà ngược lại GHPGVNTN lại lên tiếng khuyên tẩy chay. Đức DLLM đâu có khuyên người Tây Tạng đứng dậy tranh đấu chống lại bạo tàn và đánh đuổi quân TQ bằng bạo lực, ngược lại Ngài tiếp tục sử dụng ái ngữ để tiếp tục nói chuyện với nhà cầm quyền TQ và luôn luôn thẳng thắn đưa lên những nguyện vọng của mình”
Đức Đạt Lai Đạt Ma không (ít ra không tỏ ra) đối đầu với Trung Quốc như là một nước bên ngoài Tây Tạng đã cưỡng chiếm Tây Tạng, và muốn xỏa hẳn một nuớc Tây Tạng từng hiện diện trong lịch sử nhân loại. Lý do là vì Trung Quốc cực lực chống lại bất cứ ý tưởng nào coi Tây Tạng nằm ngoài TQ, đòi Tây Tạng được độc lập (hay Đài Loan được độc lập), và khi một ý tưởng như vậy đưọc nêu lên TQ từ chối dứt khoát đối thoại với người Tây Tãng hay với ĐLLM. Trung Quốc từng tố cáo ĐLLM muốn đòi như vậy để không chịu đối thoại với ngài . Chống lại TQ bằng bạo lực để đòi độc lập là hành động vô vọng đối với dân Tây Tạng chỉ có 6 triệu người, nên không làm là phải,và ngay bây giờ ĐLLM cũng không đòi Tây Tạng được tự trị nữa (với nghĩa tự trị rộng rãi) vì thái độ cứng rắn của Bắc kinh, mà chỉ mong bản sắc văn hóa của Tây Tạng đuợc người Hán tôn trọng, không tìm cách hạn chế, hủy diệt ngay trên đất Tây Tạng. Trong khi đó, đối với TQ, VN là nước độc lập, nên công dân VN có quyền chống hay kêu gọi chống lại bất cứ sự xâm nhập, khống chế, áp đặt, uy hiếp nào từ TQ về các vấn đề an ninh, quốc phòng, chính trị đến kinh tế, văn hóa. Phong trào chống TQ khai thác bauxite ở cao nguyên Trung phần của nhiều người VN là hợp lý vì mối lo sợ đó, nhưng người Tây Tạng, hay ĐLLM, không thể chống việc Bắc kinh khai thác tài nguyên ở Tây Tạng khi đã phải chấp nhận trên nguyên tắc Tây Tang là một phần lãnh thổ của Trung quốc. Kêu gọi tẩy chay hàng hoá Trung Quốc , người Tây Tạng càng khó làm hơn.
Bác TriNgo đã thắc mắc:
…”Làm Phật tử ngày nay không dễ, vì có nhiều Thầy quá mà các Thầy thì lại không mấy đoàn kết? Chúng ta đâm ra lúng túng và có thể mất niềm tin nơi các Thầy và các giáo hội? Sao có nhiều Đạo Phật thế nhỉ? Hay đó chỉ là 84 ngàn vạn pháp môn, ai thích hoặc hợp căn cơ nào thì đi theo pháp môn đó?”…
_________________________________________
Tôi xin có vài lời chia sẻ với bác:
Nếu bác TriNgo tìm hiểu triết lý sống Nhà Phật với một cái tâm bình thường của một người trí thức không mang màu sắc tôn giáo (tôn vinh, tôn thờ và tôn sùng) thì bác sẽ khám phá được những đặc tính siêu việt của Đạo Phật chính thống do Ngài Thích Ca Mâu Ni truyền giảng khi còn tại thế. Bác nhớ rằng khi vào chùa xin nguyện làm Phật tử bác đã cúi đầu chấp nhận Quy Y Tam Bảo, có nghĩa là sẽ nương theo ba nguồn năng lực quý nhất để học tập, và theo thứ tự ưu tiên: PHẬT, PHÁP, TĂNG .
1)- PHẬT: dịch sát nghĩa là BỤT (hay Boudha, tiếng Phạn) là người đã giác ngộ, người tỉnh thức, chính là Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni;
2)- PHÁP: tất cả những tài liệu Kinh sách ghi chép lời thuyết giảng của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni . Kinh chia ra làm ba loại: Kinh, Luật và Luận, thì riêng phần Luận là những luận đề cốt tuỷ, nguyên tắc cơ bản của Đạo Phật, mang tính chất Trí Tuệ giúp người tu hành xác định con đường tu thân;
3)- Sau cùng mới tới TĂNG: thành phần nòng cốt của những người xuất gia nguyện đi theo con đường tu đạo;
Thế mới biết Tăng chúng chưa phải là nguồn tư liệu để Phật tử tìm đến học hỏi trước tiên, mà chỉ để tham khảo ý kiến khi cần thiết mà thôi. Nên nhớ rằng Đạo Phật là một “tôn giáo” duy nhất trên thế giới “không có giáo chủ”, tuy Đức Thế Tôn là người sáng lập cách đây hơn 2500 năm, tại nước Ấn Độ, nhưng Ngài không hề tuyên bố mình là giáo chủ, Ngài để lại một câu tuyên bố độc nhất vô nhị: “Ta là Phật (giác ngộ) đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành (sẽ giác ngộ)”. Ngài mong muốn chúng sinh nên cố gắng phát huy cái Phật tính sẵn có trong mỗi người (trí tuệ và tình thương) để hiểu sâu giáo lý của Ngài, chứ đừng nên tin vội vã ngay, mục đích là diệt trừ bản chất mê tín (vô minh) trong con người.
Bởi vì mỗi chúng sinh là một căn cơ khác nhau, cho nên con đường dẫn vào Đạo Phật là qua một “cánh cổng (pháp môn) khác nhau”, giống như hàng ngàn ngõ vào (Entrance) cho một xa lộ cao tốc lớn rộng thênh thang. Thử tưởng tượng hàng triệu triệu người xếp hàng thành vòng tròn, cùng hướng về trung tâm điểm để đi đến (hướng nội) thì thấy có hàng triệu triệu con đường hướng TÂM, không con đường nào giống nhau, nhưng cùng chung một mục tiêu TÂM điểm.
Vì hướng TÂM không hướng ngoại, cho nên Đạo Phật đi vào lòng người dễ dàng, rất ư dân chủ, không hình thức, không bắt ép, không trù dập, hoàn toàn tự nguyện, vào dễ và ra cũng dễ. Do đó Đạo Phật thích nghi dễ dàng mọi nguồn gốc văn hoá khác nhau khi đi vào mỗi quốc gia, mà không gây “sốc”.
Chuyện Tăng đoàn lục đục, tranh chấp nội bộ, là chuyện muôn thuở của bản tính con người, khi bị vật chất ảnh hưởng (quyền lợi, danh vọng). Vì vật chất biến đổi vô thường (Thành, Trụ, Hoại, Diệt) cho nên khi con người sống bám vào vật chất thì đương nhiên trôi nổi vật vờ theo lẽ luân hồi (Thành, Trụ, Hoại, Diệt) ngay trong kiếp sống này.
Tốt nhất là bác TriNgo chỉ nên tin vào Phật tính của mình, lo trau dồi lau chùi hàng ngày để Phật tính (trí tuệ và tình thương) hiển lộ, thì bác sẽ nghiệm thấy được nhiều sự thật xung quanh, từ đó xác định được hướng đi và hành động đúng theo lương tâm hơn.
Sau cùng theo tôi nghĩ, trong giáo lý Nhà Phật không hề có chữ “kẻ thù”, vì còn nghĩ đến “thù hận, thù hằn” là còn mang cảm tính nóng giận (sân si) bất thường của một con người “chưa giác ngộ”. Tư tưởng tham, sân, si là những phản ứng bên trong nội tâm khi bị tác động đến từ bên ngoài (tham cái gì ? sân hận ai ? và si mê ai ?). Chúng ta không thể ngăn cản mọi xâm nhập từ môi trường sống chung quanh, vì chúng ta còn cần đến hợp quần, xã hội, nhưng mỗi người chúng ta có khả năng kiểm soát và kiềm chế nội tâm khi bị vật chất ảnh hưởng, đó chính là căn bản tu hành của Đạo Phật.
Mến chào bác,
Lê Quốc Trinh
Tôi cũng đã có hai lần được đi nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Ottawa, lái xe lặn lội từ xa về, và tôi đã vô cùng xúc động được nhìn thấy Ngài và được nghe Ngài nói. Bài của Tâm Quảng thì rất hay và xin cảm ơn tác giả đã chia sẻ một cái nhìn sắc bén, tuy thế cũng thấy có đôi chút “oán trách” và cũng khiến người đọc như tôi có chút băn khoăn vì những “lên án” mặc dù nhẹ nhàng của tác giả về những sự im lặng của những vị tăng khi xưa đã một thời đấu tranh chống bạo lực bất công trong những năm trước 1975 tại miền Nam. Việc đưa lời nói của Đức DLLM về việc không đi thăm những nước CS tôi không chắc là thật thốt ra từ Ngài, tôi không nghĩ VN đã hoặc sẽ mời Ngài và nếu có mời chưa chắc Ngài từ chối.
Làm Phật tử ngày nay không dễ, vì có nhiều Thầy quá mà các Thầy thì lại không mấy đoàn kết? Chúng ta đâm ra lúng túng và có thể mất niềm tin nơi các Thầy và các giáo hội? Sao có nhiều Đạo Phật thế nhỉ? Hay đó chỉ là 84 ngàn vạn pháp môn, ai thích hoặc hợp căn cơ nào thì đi theo pháp môn đó?
Nào là PG Tây Tạng với Đức DLLM, nào là PG của GHPGVNTN, nào là PG của GHPGVN trơn tru (tại VN do DCSVN nắm giữ và chi phối), nào là Pháp môn Làng Mai, nào là GHPGVN liên châu, nào là GHPGVNTN tại hải ngoại, nào là PG Già Lam, nào là thân hữu Về Nguồn, nào là PG Nam Tông, đó là chưa kể Pháp môn (?) của Sư Thanh Hải v.v…
Tuy nhiên, đâu có nghe Đức DLLM khuyên người ta tẩy chay hàng TQ, mà ngược lại GHPGVNTN lại lên tiếng khuyên tẩy chay. Đức DLLM đâu có khuyên người Tây Tạng đứng dậy tranh đấu chống lại bạo tàn và đánh đuổi quân TQ bằng bạo lực, ngược lại Ngài tiếp tục sử dụng ái ngữ để tiếp tục nói chuyện với nhà cầm quyền TQ và luôn luôn thẳng thắn đưa lên những nguyện vọng của mình. Câu hỏi tôi tự đặt ra là theo Đạo Phật chắc không có kẻ thù? Kẻ thù chính là cái tham sân si nó nằm trong con người. Như vậy đối tượng phụng sự trong Đạo Phật phải là tình thương và mọi cuộc đấu tranh phải hài hoà (tức là không bạo động) với mục đích tối hậu là để lấy đi vọng tưởng (hay cái nhìn sai, hay si), chuyển hoá cái tham và cái sân và chuyển đổi cái nhìn sai lầm về một cái Ngã biệt lập?
Xin giới thiện bản tin Đức Đạt Lai Lạt Ma gặp một người Việt Nam khác ở Washington DC.
Đức Đạt-Lai Lạt-Ma gặp DB Cao Quang Ánh & khen ngợi Cộng Đồng Việt Tị Nạn
Oct 11, 2009
WASHINGTON DC – Ngày 10 tháng 10, 2009 – Tại buổi ăn trưa ngày hôm qua với anh bạn hiện làm Giám Đốc Điều Hành của Uỷ Ban Nhân Quyền Tom Lantos của Quốc Hội Hoa Kỳ, tôi tình cờ được anh kể về lời khen ngợi của Đức Đạt-Lai Lạt-Mạ dành cho cộng đồng Việt tị nạn và lời khuyên của ngài cho dân tộc Việt Nam.
Anh cho biết lời khen này được chuyển đến Dân Biểu Cao Quang Ánh tại buổi đón tiếp ngày 6 tháng 10 ở Hoa Thịnh Đốn với Uỷ Ban Nhân Quyền Tom Lantos.
“Người Việt tị nạn chịu khó hợp quần với nhau, chịu khó học hỏi để thăng tiến trong xã hội mới mà vẫn duy trì được nền văn hoá truyền thống của mình. Đó là tấm gương mà người Tây Tạng ở hải ngoại cần noi theo,” Đức Đat-Lai Lạt-Ma nói, theo lời anh bạn này kể lại.
Tò mò, tôi hỏi thăm DB Cao Quang Ánh thì được biết thêm là sau lời khen ngợi, Đức Đạt-Lai Lạt-Ma nhắn nhủ DB Ánh:
“Ông cần dõng dạc lên tiếng cho cộng đồng của Ông ở cấp quốc gia và quốc tế không chỉ như một vị dân biểu Mỹ mà là một vị dân biểu Mỹ gốc Việt.”
Tại buổi tiếp xúc trang trọng và đầy xúc cảm ấy, DB Ánh kể lại chính cuộc đời tị nạn của mình và những nỗ lực của Ông tại Quốc Hội nhằm tranh đấu cho tự do tôn giáo ở Việt Nam. Cũng giống như Đức Đa Lai Lạt Ma, DB Ánh phải rời bỏ quê hương, một đất nước nằm dưới chế độ cộng sản, nơi mà tự do tôn giáo và quyền làm người bị chà đạp hàng ngày. DB Ánh nêu lên tình trạng ở Thái Hà, Tam Toà, Bát Nhã, và những vị phạm khác nữa về tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Đức Đạt-Lai Lạt-Ma khuyên nhủ cộng đồng Việt tị nạn, qua DB Ánh, đừng nản chí, đừng bỏ cuộc: “dù đang có nhiều khó khăn, tự do sẽ đến.”
Sau đó Đức Đạt-Lai Lạt-Ma nói về sự quan trọng của tính đa dạng văn hoá nhằm tạo nên một xã hội dung dị và nhân đạo và choàng cho DB Ánh tấm khăn choàng Tây Tạng làm kỷ niệm.
Trước đó, Uỷ Ban Nhân Quyền Tom Lantos đã trao cho Đức Đạt-Lai Lạt-Ma giải thưởng Nhân Quyền Tom Lantos, một giải thưởng cao quý. Tại buổi trao giải thưởng có bà quả phụ Annette Lantos, vợ của DB Tom Lantos. Cùng tham dự còn có nữ Dân Biểu Nancy Pelosi, Chủ Tịch Hạ Viện; Dân Biểu Howard Berman, Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Quyền Tom Lantos; Thượng Nghị Sĩ John McCain; và nhiều thành viên của Quốc Hội.
(Nguồn: vietnamexodus. org)
Ts. Nguyễn Đình Thắng