Đặng Thân – Có một dòng sông “chết lâm sàng”
26/09/2009 | 11:00 sáng | 2 Comments
Category: Kinh tế - Môi trường
Thẻ: Sông Tô Lịch
Cái tít của bài này chưa đến nỗi chết chóc và tai họa như trong lời một bài hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rằng “có một dòng sông đã qua đời”, nhưng cũng đã nói lên một thảm họa (môi trường, môi sinh, lịch sử, văn hóa…).
Mỗi thành phố mang sức mạnh của cả một bề dày lịch sử oanh liệt sau mình trên thế gian này đều gắn với một dòng sông cũng nổi tiếng không kém so với tên tuổi của thành phố nó chảy qua. Điều đó có nghĩa những dòng sông đẹp chính là mẹ của những thành phố kỳ mỹ. Chúng ta vẫn thường nghe những cái tên như sông Hoàng Phố gắn liền với Thượng Hải, sông Chao Phraya chảy qua Bangkok, sông Hằng (Ganga) và các phụ lưu gắn với nhiều thành phố linh thiêng (Delhi, Allahabad, Kanpur, Kara, Calcutta, Dacca…), sông Neva chạy khắp Saint Petersburg, sông Danube tạo nên cả một nền văn hiến Trung và Đông Âu dọc theo những tên tuổi lẫy lừng (Vienna, Bratislava, Budapest, Belgrade…), sông Seine của Paris “kinh đô ánh sáng”, sông Thames của London cổ kính, sông Hudson ở New York “chọc trời”… Vậy thì con sông của Thăng Long – Hà Nội ngàn năm tuổi có tên là gì nếu không phải là Tô Lịch?
Dù dung mạo con sông xưa giờ đã khác nhưng những sự tích, những câu ca tự hàng trăm năm qua đã vẽ nên cho chúng ta về hình ảnh dòng sông này. Con sông ngày xưa ấy thế này cơ mà:
Sông Tô nước chảy trong ngần,
Con thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa.
Thon thon hai mũi chèo hoa
Lướt đi lướt lại như là bướm gieo.
Những “trong ngần”, những “con thuyền buồm trắng”, “hai mũi chèo hoa” nghe sao mà xa lạ vô chừng, thế mà lại là những câu ca dao các cụ để lại cho chúng ta về dòng sông này đấy.
Nói về những dòng sông quanh Hà Nội thì các cụ chỉ cần một câu ngắn gọn:
Nhị Hà quanh bắc sang đông,
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này.
Nhị Hà chính là sông Hồng, nơi bắt nguồn của sông Tô Lịch xưa. Kim Ngưu thì là một phụ lưu của Tô Lịch. Sông Tô Lịch hiện nay chỉ được coi là bắt đầu từ Cầu Giấy; chảy qua các quận huyện Thanh Xuân, Hoàng Mai, Thanh Trì. Trước đây Tô Lịch là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ sông Hồng sang sông Nhuệ:
Sông Tô ở phía Đông tỉnh thành là phân lưu của sông Nhị, chảy theo phía Bắc tỉnh thành vào cửa cống thôn Hương Bài, tổng Đông Xuân, huyện Thọ Xương, chuyển sang phía Tây huyện Vĩnh Thuận đến xã Nghĩa Đô ở phía Đông huyện Từ Liêm và các tổng thuộc huyện Thanh Trì, quanh co gần 60 dặm, tới xã Hà Liễu chảy vào sông Nhuệ.
(Đại Nam nhất thống chí)
Sông Tô xưa có hai cửa thông với sông Hồng. Cửa Thiên Phù ở phía bắc Hồ Tây, đón nguồn nước từ sông Hồng chảy vào. Cửa Hương Bài (giữa Chợ Gạo và Ô Quan Chưởng), còn gọi là Giang Khẩu sau đổi là Hà Khẩu, là cửa chảy ra. Trải qua bao biến cố lịch sử sông Tô Lịch mang nhiều tên gọi: Tô Lịch, Lai Tô, Hương Bài, Địa Bảo. Theo sách Việt Điện U Linh, Tô Lịch là tên một thần dân hiền tài quê ở Thăng Long có nhiều công đức giúp dân làng nên khi mất dân thờ kính phong ông là Long Đỗ thần hoặc Tô Lịch Giang thần. Vào các thế kỷ VIII và XIX, dọc bờ nam sông Tô thuộc vùng đất nội thành Thăng Long có thành Giao Châu còn gọi là Đại La Thành, có cửa mở ra phía sông Hồng gọi là Đông La Môn. Có Tử Thành tức Thành con. Đến năm 858, Tử Thành được mở rộng. Về đời nhà Lý, ở phía Tây Bắc La Thành bên ven thành có chợ Hồng Tân xưa tức chợ Bưởi hiện nay. Sông Tô Lịch chảy qua đây, giao lưu với sông Thiên Phù. Nơi đây cũng có bến Hồng Tân sầm uất, thuyền bè xuôi ngược chở các nông sản ở các vùng quê ngoại thành ra; các loại nguyên vật liệu, lâm sản, đặc sản núi rừng theo thuyền bè từ miền ngược về; hàng hóa của phố xá kinh kỳ theo thuyền buồm, thuyền thoi từ bến Nứa chở đến. Nhánh sông này chảy qua các làng Thụy Chương (Thụy Khuê), đền Voi Phục (thờ Linh Lang đại vương con vua Lý Anh Tông đã có công đánh tan giặc Tống trên sông Như Nguyệt). Theo dọc bờ sông có 3 làng làm giấy dó cổ truyền Hồ Khẩu, Đông Xã, Yên Thái. Làng Hồ Khẩu có đền thờ Vệ quốc tướng quân có công đánh giặc và giúp dân làng đắp đê lo việc canh nông, trị thuỷ, lũ lụt. Ở đình làng Yên Thái gần chợ Bưởi có thờ thần thành hoàng Vũ Phục là sự tích hai vợ chồng người bán dầu lạc, quê ở xã Xuân Tảo, đã trẫm mình xuống sông Thiên Phù cho đất lấp cạn sóng lũ khỏi xói lở vào chân thành và cứu vua Lý khỏi bệnh đau mắt. Ở các làng Cót, Yên Hoà, Mọc có nhiều đình, đền thờ các thần dân có công với nước và các nhà thờ dòng họ khoa bảng nổi tiếng. Bên sông có chùa Láng thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chảy về phía Nam thành Thăng Long sông đi qua xã Kim Lủ là quê hương của các danh nhân văn hoá Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Thế, Nguyễn Trọng Hợp. Ở các xã Thanh Liệt, Quang Liệt, Tam Hiệp có võ tướng Phạm Tu nổi tiếng trong cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, có nhà giáo Chu Văn An uyên bác đời Trần đã từng dâng “thất trảm sớ” xin chém đầu bọn quan đại thần tham nhũng.
Đoạn sông từ phố Cầu Gỗ đến đường Bưởi nay đã bị lấp (nguyên nhân ban đầu là do người Pháp e sợ nạn lụt lội xuất phát từ sông Hồng), chỉ còn lại một vài dấu tích như ở Thụy Khuê. Và do đó, Tô Lịch không còn thông với sông Hồng nữa. Dòng chảy của đoạn sông đã bị lấp này theo lộ trình sau: từ Cầu Gỗ ngược lên (cống Chéo) Hàng Lược, men theo đường Phan Đình Phùng (phía ngoài mặt bắc thành Hà Nội), rồi chảy dọc theo hai phố Thụy Khuê và Hoàng Hoa Thám ra đến đường Bưởi (gặp đoạn sông Tô Lịch ngày nay).
Tên sông đã được đặt theo tên một vị thần. Tô Lịch (tiếng Hán: 蘇瀝) là vị thần của sông Tô Lịch (Tô Lịch giang thần). Nhiều khi vị thần này được đồng nhất với thần Long Đỗ – tức vị thần của núi Long Đỗ (núi Nùng); cả hai đều được phong là Thành hoàng của đất Thăng Long xưa. Hai chữ Tô Lịch lần đầu tiên được sử sách ghi chép là vào thế kỷ VI, trong các sách Lương thư, Trần thư của Trung Quốc có nói vắn tắt về sự kiện Nam Việt đế Lý Bí cho đắp dựng một tòa thành bên một dòng sông xưa trên đất Hà Nội cổ (545), được gọi là “Tô Lịch giang thành” (Thành sông Tô Lịch). Vậy là vào thế kỷ VI thành Hà Nội sơ khai khi đó đã có tên là Tô Lịch vậy.
Lần đầu trong sử sách, Tô Lịch xuất hiện như tên gọi của một con sông.
Tuy nhiên, tên sông lại bắt nguồn từ một người, tên Tô Lịch, sống vào cuối thế kỷ thứ III, đầu thế kỷ thứ IV, về sau được tôn làm thần, phong lên tới chức Thành hoàng Thăng Long. Trong cuốn sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên từ thế kỷ XIV, Tô Lịch lại được nhắc tới trong truyện “Bảo quốc Trấn linh Định bang Quốc đô Thành hoàng đại vương”. Cuốn sách này dẫn theo những thư tịch cổ hơn là Báo cực truyện và Giao Châu ký, nhắc lại chuyện về Tô Lịch đại vương, như sau:
Vương họ Tô, huý là Lịch, sinh thời từng làm quan ở Long Đỗ[1], tiên tổ cư ngụ ở đó đã lâu đời, dựng làng bên bờ một con sông nhỏ. Gia đình của Vương lấy sự thanh bạch và hòa thuận, hiếu thảo làm trọng, ba đời cùng nhân nhượng mà ở chung với nhau, không chút riêng biệt.
Thời nhà Tấn đô hộ, triều đình xét những nhà có hiếu, gia đình Vương được khen. Gặp năm mất mùa đói kém, nhà Vương sẵn lòng cho dân vay thóc, triều đình lại ban khen, nhân đó, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng.
(Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại)
Còn có một phiên bản khác chép về chuyện này:
Nước ta có người họ Tô tên Lịch xưa sống ở Long Đỗ, nay là mé ven sông, ba đời nhân nhượng mà sống chung với nhau. Đời Tấn được cử làm chức Hiếu liêm, cắm cờ ở trước cổng xóm, vì vậy người đời bèn gọi xóm ấy là xóm Tô Lịch.
(Lĩnh Nam chính quái, “Truyện sông Tô Lịch”)
Năm 822 (có sách ghi là năm 824) vào đời Đường Mục Tông, Lý Nguyên Hỷ (hay Lý Nguyên Gia) lúc đấy là quan đô hộ giữ đất Long Biên, thấy ngoài cửa Bắc có dòng nước chảy ngược[2], sợ dân chúng có lòng phản nghịch nên mới dời phủ tới bên bờ sông. Sau khi chuyển thành, Lý Nguyên Hỷ mời các bậc phụ lão tới bàn bạc, rồi cho xây một ngôi đền lớn, tôn Tô Lịch làm Thần chủ của cả thành. Sách Việt điện u linh chép lại truyện trên, có đoạn là khi Lý Nguyên Hỷ xây xong đền, cho mở tiệc náo nhiệt, “trăm điệu múa đều có, đàn địch vang trời”, thì tối hôm đó, Tô Lịch đã hiện lên trong giấc mộng của Hỷ.
Khi Cao Biền xây thành Đại La năm 866, vị thần này lại xuất hiện lần nữa. Sách Lĩnh Nam chích quái cũng chép truyện sông Tô Lịch nhưng lại đồng hóa hai vị thần Tô Lịch và Long Đỗ. Trong sách này, khi chơi trên con sông quanh thành Đại La, Biền gặp vị thần tự xưng là Tô Lịch, nên mới đặt tên sông là Tô Lịch. Sách viết:
Biền thông hiểu thiên văn địa lý, xem hình thế đất mà xây thành Đại La ở phía tây Lô Giang, chu vi 30 dặm để ở. Có dòng sông con từ Lô Giang chảy vào phía Tây Bắc, cuốn quanh phía nam, ôm lấy thành Đại La rồi lại nhập vào sông cái. Hồi đó đang giữa tháng sáu nước mưa lên cao: Biền cưỡi thuyền nhẹ thuận dòng vào tiểu giang đi khoảng một dặm, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, dung mạo dị kỳ, tắm ở giữa dòng sông, cười nói tự nhiên. Biền hỏi họ tên. Đáp: ta họ Tô tên Lịch. Biền lại hỏi: Nhà ở đâu? Đáp: Nhà ở trong sông này. Dứt lời, lấy tay đập nước bắn tung mù mịt, bỗng nhiên không thấy đâu nữa. Biền biết là thần, bèn đặt tên sông là Tô Lịch.
Sách lại có đoạn:
Một buổi sớm khác, Biền ra đứng ở bờ sông Lô Giang, phía đông thành Đại La, thấy trận gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng rực rỡ một khoảng trời, chập chờn lên xuống trên khoảng không. Mặt trời cao ba con sào, khí mây hãy còn mù mịt, Biền rất kinh dị, muốn yểm thần. Đêm nằm mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Chớ yểm ta, ta là tinh ở Long Đỗ, đứng đầu các địa linh, ông xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép?” Biền kinh hãi. Sáng hôm sau, Biền lập đàn niệm chú, lấy kim đồng thiết phù để yểm. Đến hôm ấy, sấm động ầm ầm, gió mưa dậm dật, đất trời u ám, thần tướng hò reo, kinh thiên động địa. Trong khoảnh khắc, kim đồng thiết phù bật ra khỏi đất, biến thành tro, bay tan trên không. Biền càng kinh hãi, than rằng: “Xứ này có thần linh dị, ở lâu tất chuốc lấy tai vạ”. Sau Ý Tông triệu Biền về, quả nhiên Biền bị giết và Cao Tầm được cử sang thay.
Sách Việt điện u linh không chép lại chuyện này, chỉ ghi rằng:
Kịp đến lúc Cao Biền xây thành Đại La, nghe Vương linh dị, lập tức đem lễ điện tế bái chức Đô phủ Thành hoàng Thần quân.
Khi Lý Thái Tổ dời đô (1010) ngài thường nằm mơ thấy một ông lão râu bạc đến bên bệ rồng hô vạn tuế chúc mừng nhà vua. Vua cười hỏi: “Tôn thần cũng giữ được hương lửa trăm năm hay sao?” Ông liền đáp: “Mong muốn hoàng đồ như Thái Sơn bàn thạch, thánh thọ vô cương, trong triều ngoài quận thái hòa, bọn thần không chỉ hương hỏa một trăm năm mà thôi.” Sau khi tỉnh dậy, bèn sai quan Thái chúc đem rượu tế, phong thần làm Quốc đô Thăng Long Thành hoàng Đại vương.
Đến niên hiệu Trùng Hưng năm đầu (1285), Trần Nhân Tông sắc phong cho thần Tô Lịch hai chữ “Bảo quốc”; năm Trùng Hưng thứ tư (1288) lại gia phong hai chữ “Hiển linh”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), Tô Lịch được phong thêm hai chữ “Định bang”.
Do nhiều khi bị đồng hóa với thần Long Đỗ, nên theo Từ điển bách khoa Việt Nam, nơi thờ chính của thần sông Tô Lịch là ở đền Bạch Mã, trấn Đông trong “Thăng Long tứ trấn” (gồm đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Kim Liên và đền Quán Thánh). Tuy nhiên cũng có nơi như đình Tân Khai, thờ riêng cả hai vị thần Bạch Mã (Long Đỗ) và Tô Lịch.
Đấy là sử sách nói vậy. Còn lời người sống nói gì?
Theo lời cụ Cao Minh Bạch (1912 – 2001), một nhà địa lý – phong thủy nổi danh Đông Nam Á, người đã từng làm phong thủy cho Hoàng cung Thái Lan, thì việc Cao Biền xây thành Đại La là cả một kỳ công với những sáng tạo độc đáo về khoa học phong thủy. Vốn được phong là đệ nhất thiên hạ về phong thủy, và quả không hổ danh, Cao Biền đã thiết kế thành Đại La theo định hướng tạo thế phát triển thành một quốc gia độc lập. Ngay từ thế kỷ IX trong đêm dài Bắc thuộc họ Cao dù là người Hán đã có cái “nhã ý” thoát khỏi vòng kiềm tỏa của phương Bắc, muốn làm vua riêng một góc trời ở phương Nam này vậy.
Có thể tóm tắt cái “quy hoạch tổng thể” của thành Đại La thế này: Sau khi thăm thú khắp nơi Cao Biền thấy nơi đây có cái thế lý tưởng để xây dựng một kinh đô cho một quốc gia độc lập. Thành Đại La có tay “long” vươn đến dãy Đông Triều – Yên Tử, tay “hổ” vươn đến Tam Đảo, thế là thuộc cách “long bão hổ” quý vô cùng. Họ Cao lại tìm ra những thế rất hiểm và cao tay. Thứ nhất, ông cho kinh thành tựa vào Hồ Tây, một điều khó có thày địa lý nào dám làm vì người ta thường chọn thế tựa vào đất hay núi cao, nhưng Cao Biền đã dựa vào “não thủy” Hồ Tây để làm thành cách “hậu đầu xung thủy xuất thần tiên”, đảm bảo cho xứ này “hào kiệt thời nào cũng có”. Để giữ được cách này thì Hồ Tây không được phép thu hẹp và ý tưởng làm đường giao thông ngầm xuyên lòng Hồ Tây như tôi đã đọc trên các báo là cực kỳ tai họa. Thứ hai, Cao Biền cho làm một con đường xuyên thẳng vào giữa thành (đường Lê Duẩn bây giờ), ai trông cũng tưởng là hung họa ghê gớm nhưng có ai biết đó là cách “hồng tiễn xuyên tâm” kích thích nội lực cho thế đất. Ông còn lập “tứ trấn” để bảo toàn an ninh cho kinh đô. Đặc biệt, toàn bộ thiết kế phong thủy của ông đều dựa trên “long mạch” xuất phát từ núi Nùng của thần Long Đỗ chạy theo hướng tây-tây bắc và sự điều tiết tổng thể của thần sông Tô Lịch. Hỡi ôi, những địa danh ấy nay thật thảm hại mà sao chưa có người lo xây đắp lại? Như vậy, có thể các thần thiêng đất Thăng Long không dung chứa họ Cao nhưng lịch sử không thể không ghi nhận công lao tạo dựng Đế Kinh cho đất nước này của ông.
Như thế Tô Lịch chính là đường “long mạch” không những của thủ đô mà còn của cả đất nước này vậy. Và nguồn linh khí ấy đến giờ ra sao thì ai cũng biết. Do xưa kia sông Hồng hung dữ dẫn nước vào nên sông Tô cũng hay gây nên cảnh lụt lội, đó là lý do để người Pháp lấp sông này. Rồi Gia Long và Minh Mạng phá Hoàng Thành để xây Bắc Thành, cho nên Bà Huyện Thanh Quan mới cảm tác:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Rồi vào nửa sau thế kỷ XIX người Pháp san phẳng Thành nội, phá điện Kính Thiên, “giải tỏa” tháp Báo Ân, đổ bê tông lên để xây “phố Tây”, khu nhà binh, sân vận động Mangin (nay là CLB Quân đội) và thế là sông núi ấy giờ ra như thế đấy. Nhà sử học Trần Quốc Vượng tóm lược:
Trên mặt đất, coi như là sạch bách! Nhà khảo cổ muốn tìm di tích thì quả thật rất hiếm hoi.
(Trần Quốc Vượng, “Những vết tích của Hoàng thành Thăng Long trên mặt và dưới lòng đất”)
Sau bao năm lấp và phá, “long mạch” mang uy thần Tô Lịch giờ đây như một cái cống hôi thối, bẩn thỉu, ô nhiễm vô cùng. Đến mức có người làm câu ca:
Sông Tô Lịch vừa trong vừa mát,
Hai bên bờ bát ngát “vàng thoi”.
(Lê Ki Ma)
Như vậy, về mặt địa lý – phong thủy cũng như đời sống xã hội và giá trị lịch sử, sông Tô Lịch đóng vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ với Thủ đô này vậy. Dòng sông bị chặn lấp rồi chết dở sống dở vào thời Việt Nam mất nước vào tay người Pháp không biết có phải là vô tình? Trải qua hơn trăm năm tù đọng dòng sông vẫn như một vết nhơ, hay chính xác hơn, một vết thương dài lở loét mưng mủ, trên mặt Thủ đô.
Vì vậy tôi cũng đã thường nghĩ chúng ta phải làm sao để đem lại cuộc sống vốn có của dòng sông. Phải chăng chỉ có cách là hãy khai thông và nối lại Tô Lịch với sông Hồng, để cho rồng lại là rồng? Với trình độ của khoa học kỹ thuật hiện nay thì chắc chắn rằng chúng ta không phải lo gì chuyện lũ lụt trên sông Tô Lịch. Có một dịp may lắm trong một lần có công việc với Bộ Xây dựng vào đầu năm 2003 tôi có gặp Bộ trưởng Nguyễn Hồng Quân. Ông tỏ ra rất quan tâm và lắng nghe kiến nghị của tôi (may thay, bản kiến nghị này tôi vẫn còn giữ) về sông Tô Lịch. Ông hứa sẽ chuyển ngay kiến nghị này sang Viện Quy hoạch của Bộ, và sẽ đề nghị Viện hợp tác với các nhà phong thủy. Kết quả công việc bên Bộ Xây dựng thế nào thì cho đến nay tôi vẫn không rõ. Một lần khác trong cuộc gặp gỡ ngoài lề tôi có trao đổi việc sông Tô Lịch với một thư ký của Tổng bí thư ĐCSVN. Ông rất lắng nghe nhưng cũng chỉ cho ý kiến đại ý là hiện nay đang có những việc nghiêm trọng hơn phải quan tâm.
Nhưng tôi nghĩ chắc chắn là mình không đơn độc. Các bạn trẻ trong một tập hợp vì môi trường lấy tên là “Go Green” đã từng đưa ra ý định tổ chức một cuộc “Bơi tiếp sức trên sông Tô Lịch” với mục đích đưa ra thông điệp: đừng bắt chúng ta phải bơi trong những dòng sông như thế này. Họ loan báo trên trang web của mình về công tác tổ chức hết sức công phu: một đội bơi 4 người hoặc hơn (mỗi bộ đồ bơi đặc biệt sẽ có giá lên đến 250.000 đồng) sẽ bơi tiếp sức từ Cầu Giấy đến Ngã Tư Sở; tổ chức họp báo, mời các báo VietNamNet, vnExpress, Dân trí, DTH Việt…; có quay phim chụp ảnh, dự trù kinh phí…
Và đã có những hành động cụ thể hết mình. Từ năm 2004 Trung tá Đào Văn Hà (cái tên của anh nghe đã đầy ý chí “đào sông”), công tác tại PA36 Công an Hà Nội đã dành trọn những ngày nghỉ để đi đến với những mương nước đen, những con sông đang bốc mùi hôi thối ở Hà Nội để đo đạc, tính toán. Từ đó anh nảy sinh ý tưởng đào kênh đưa nước sông Hồng vào sông Tô Lịch:
Theo tính toán của anh, đoạn kênh nối này dài 4,5km. Mở đầu từ cửa sông Nhuệ (cống Chèm), dẫn nước qua cánh đồng xã Đông Ngạc, Xuân La vào thượng nguồn sông Tô Lịch. Nguồn nước này sẽ “rửa” dòng chảy vốn ô nhiễm nặng ở sông Tô Lịch, làm cho sông trong xanh trở lại. Anh cũng lường trước việc vào mùa khô, mực nước sông Hồng thấp sẽ không chảy vào kênh đào nên tận dụng hệ thống trạm bơm Thụy Phương. Con kênh này sẽ được xây dựng trên nền sông Thiên Đức (nay biến thành mương thoát nước) và một phần trên cánh đồng nên không phải nặng công tác giải phóng mặt bằng.
Dòng kênh sẽ chảy vào sông Tô Lịch theo hai nhánh: Nhánh chính tiếp tục chảy vào cống thoát nước thải ven đường Nguyễn Văn Huyên – Nguyễn Khánh Toàn rồi đổ vào sông Tô Lịch đoạn cầu Quan Hoa; nhánh phụ chảy vào đường thoát nước thải từ đường Nguyễn Văn Huyên rồi đổ ra sông Tô Lịch ở dốc Bưởi.
Nhìn tổng thể, đường kênh đào sẽ thấp dần theo địa hình khu vực phía Bắc xuống phía Nam, từ Tây xuống Đông. Đây là địa hình dòng chảy của các con sông tự nhiên của miền Bắc Việt Nam, lưu vực biến đổi có độ cốt đảm bảo dòng chảy. Đặc biệt, độ cốt chênh lệch nhiều về mùa mưa khi nước sông Hồng lên cao.
Ngoài ra dòng kênh này còn có tác dụng tiêu nước mùa mưa lũ từ phía Bắc sang phía Nam thành phố. Tác giả của ý tưởng này còn đề xuất việc xây dựng hai nhà máy xử lý nước thải khu vực cuối sông Tô Lịch và khu vực Hoàng Quốc Việt.
Anh Hà cho biết, Trung tâm nghiên cứu và phát triển cộng đồng của Australia, tổ chức SIDA của Thụy Điển có quan tâm đến vấn đề này. Rất tiếc, phía chính quyền thành phố chưa ai đến hỏi anh về nó.
(Cao Hồng – Việt Hà, “Ý tưởng nối sông Tô Lịch với sông Hồng của một chiến sĩ an ninh”)
Xin cảm ơn anh vì tình yêu Hà Nội và Tô Lịch của anh thật là cháy bỏng thì mới làm được từng ấy việc. Ngoài công trình của anh Đào Văn Hà còn có lời rao bán ý tưởng cải tạo sông Tô Lịch của tác giả Nguyễn Văn Huân đăng trên mạng internet. Anh có ý định tạo ra một dòng chảy từ đầu nguồn đến cuối nguồn sông Tô Lịch tạo nên một hệ thống chảy ra sông Hồng. Nhờ đó, nước thải của thành phố từ các khu dân cư đưa ra các cống sẽ được thải nhanh nhất.
Giữa năm 2007, trong đề án “Cải tạo môi trường, cảnh quan, xây dựng các cơ sở dịch vụ công cộng, du lịch trên sông Tô Lịch” của Công ty cổ phần Nước và Môi trường Việt Nam, do một anh Hà khác (Nguyễn Như Hà) làm Chủ tịch HĐQT, cũng có hạng mục nối sông Tô Lịch với sông Hồng. Dù không trùng khớp về vị trí nối giữa hai con sông nhưng các ý tưởng trên đều đề xuất nối sông Tô Lịch với sông Hồng.
Với dụ trù kinh phí 240 tỷ đồng đề án trên còn đưa ra ý định tận dụng bề mặt các tuyến mương hở của Hà Nội để xây dựng các cơ sở dịch vụ công cộng:
Dự án sẽ tập trung cải tạo đoạn sông Tô Lịch từ Cầu Giấy đến Ngã Tư Sở với tổng chiều dài khoảng 3.700m (đặc biệt là đoạn từ phường Yên Hòa đến hết cầu Hòa Mục). Tại đoạn sông này, sẽ làm sàn bê tông (không phải cống hóa) trên 2 đoạn sông (rộng khoảng 300 – 500m2) để hình thành khu dịch vụ công cộng, bãi đỗ xe…
Khu dịch vụ có thể bao gồm chợ quê, nhà hàng, chợ hoa, công viên, cây cảnh, cửa hàng đồ lưu niệm, sân khấu ca nhạc ngoài trời, cụm vui chơi giải trí. Nhờ đó, tuyến sông Tô Lịch này sẽ trở thành một tuyến tham quan du lịch trên cạn, kết hợp các địa danh lịch sử hai bên bờ sông với các công trình dịch vụ mang đậm nét kiến trúc truyền thống.
(Anh Phương, “Du lịch trên sông Tô Lịch: Ý tưởng hay nhưng cần cân nhắc vị trí cụ thể”)
Tất nhiên, việc “đậy nắp” sông Tô khó mà được mọi người đồng tình, chưa nói đến những vấn đề khoa học phong thủy khác. Vả lại, đã từng có nhiều nước “đậy” sông rồi lại phải mở ra. Sông không là cống bao giờ. Vì, một khi dòng sông đã được khai thông, chắc rằng ai cũng muốn con sông của đất thần kinh lại được trở về với cảnh như trong ca dao xưa:
Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh…
Tôi cũng mơ được như vậy quá.
Và chắc rằng ai cũng hy vọng câu chuyện sau mà các báo Tiền phong, VietNamNet, Hà Nội Mới… đã đăng tin sẽ thành hiện thực vào năm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long:
Hành lang bờ sông sẽ được thiết lập hệ thống cây xanh, chiếu sáng-nhằm chống việc đổ rác thải, tái lấn chiếm như hiện nay. Bên cạnh các hạng mục chủ yếu, hệ thống thu gom, xử lý nước thải chống ô nhiễm cho dòng sông sẽ được xây dựng mới. Dự án được thực hiện trong khoảng 3 năm – đến 2010 sẽ hoàn thành các hạng mục chủ yếu, cơ bản tạo ra kiến trúc cảnh quan mới cho dòng sông với tổng chi phí đầu tư giai đoạn này khoảng 255 tỷ đồng.
Giai đoạn tiêp đó, đề án cũng tính đến việc nối thông sông Hồng với sông Tô Lịch bằng việc khai thông dòng chảy cũ hoặc đấu nối thông qua sông Nhuệ nhằm cung cấp đủ nước cho Tô Lịch vào mùa khô, tạo thành dòng chảy như hơn 100 năm trước. Nhà đầu tư hy vọng, với việc cung cấp thêm nước cho sông Tô, có thể thiết lập các du thuyền, phục vụ du khách trên sông này.
(“Hà Nội: sẽ nối sông Tô Lịch với sông Hồng”)
Chỉ có khoảng 250 tỷ là xong bước một mà sao bao lâu nay chẳng có ai lo nhỉ, trong khi hàng năm thành phố này ngốn biết bao nhiêu tiền của của quốc gia (với những dự án khủng khiếp kiểu như “con đường đắt nhất hành tinh” Kim Liên – Ô Chợ Dừa đã tiêu hết hơn 800 tỷ đồng cho 1000m đường, cỡ 600 tỷ đồng lại sắp được chi cho đoạn đường hơn 500m Ô Chợ Dừa – Hoàng Cầu, và vô vàn những công trình đắt giá khác). Còn cái gọi là “giai đoạn tiếp đó” (nối thông sông Hồng với sông Tô Lịch) sẽ được thực hiện vào khi nào để cứu con sông của linh thần nước Việt đang dặc dài thảm nạn trong tình trạng “chết lâm sàng”?
28-29/4/09
________________
Ghi chú của tác giả: Phần chính của bài viết này đã đăng trên tạp chí Tia Sáng, số 18 – 20/9/09, bản đăng talawas là bản đầy đủ.
[1] Hay Long Độ, là tên gọi chung miền đất Long Thành – Hà Thành, tức nội đô Thăng Long. Tên gọi Long Đỗ là tên của núi Nùng – ngọn núi linh thiêng nằm ở trung tâm thành cổ Hà Nội.
[2] Tức nước sông Tô chảy vào sông Hồng, trên thực tế là do vào mùa mưa, nước từ đồng đổ vào sông Tô, khiến mặt nước sông Tô cao hơn sông Hồng.
Bình luận
2 Comments (bài “Đặng Thân – Có một dòng sông “chết lâm sàng””)
“Khi họ có tiền…”
Cái thê thảm của đất nước mình thì lại là “khi họ có tiền” là họ dông mất biến mất rồi, nên không phải là “có vấn đề gì đâu” mà là vấn đề những gánh nặng ghê hồn mà họ để lại cho “muôn đời con cháu mai sau”.
Nhìn Seoul mà biết học tập, biết xấu hổ thì còn gì đáng mong ước hơn.
Tôi nghĩ cứ làm tốt việc phát triển đi đã, rồi khi nào có tiền ta lại hoài cổ sau. Như Seoul đó, cứ bảo tồn mãi làm sao có được ngày hôm nay. Khi họ có tiền rồi thì hoàng thành và ngay cả con sông ‘tô lịch’ của họ cũng làm lại được (mới khánh thành 2-3 năm trước gì đó) có vấn đề gì đâu.