talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Buồn vui đời tỵ nạn (2)

12/09/2009 | 10:21 chiều | 18 Comments

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Category: Lịch sử, Tổng hợp
Thẻ: > >

(Xem kì 1)

Trại Khải Đức Đông

Chẳng qua chỉ tại Vua Hùng

Sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên.

Thằng khôn nó đã vượt biên

Còn lại một lũ vừa điên vừa khùng.

(Đồng giao)

Sáng sớm 31 tháng 8, chúng tôi được lệnh chuyển trại đột ngột. Tất cả rộn ràng, nhốn nháo chuẩn bị đồ đạc mặc dù chẳng có thứ gì đáng giá. Một đoàn xe tải chở tù, màu sơn đen, thùng xe không bịt, vải bạt được cuốn lên. Chúng tôi ngồi trên hai hàng ghế băng sát thành, một số đứng, đồ đạc để dưới chân. Đoàn xe từ từ lăn bánh ra khỏi Kho Đen.

Như vậy chúng tôi đã được công nhận là người tỵ nạn cộng sản hay còn gọi là “thuyền nhân” (boat people), không còn là kẻ nhập cảnh bất hợp pháp, nay chuyển trại, chờ định cư ở nước thứ ba.

Xe đi quanh co qua những phố xá đông đúc, những dãy nhà cao tầng, những biển quảng cáo bằng điện nhấp nháy, nhảy múa, các cửa hàng bày bán la liệt đủ các mặt hàng làm chúng tôi hoa cả mắt. Lần đầu tiên mọi người nhìn thấy những sạp bán hoa quả bày từng đống táo, cam, lê, nho, mận… cao như núi. Nhìn cũng thấy sướng cả con mắt, tất cả chúng tôi ai cũng nuốt nước bọt. Có gì đâu, 25 năm dưới ‘‘chế độ XHCN tươi đẹp’’ làm gì trông thấy của ngon vật lạ mà chả thèm!

Đúng là số phận thuyền tôi hẩm hiu, đang hí hửng nghĩ đến chỉ lát nữa là người tự do, không ngờ trại Khải Đức Đông hôm ấy không làm việc. Ngày 31-8-1979 là thứ Sáu, chả biết ngày gì, văn phòng trại đóng cửa, không có người nhận bàn giao. Đoàn xe lại vòng vo tam quốc đưa chúng tôi về Kho Đen. Tất cả đều thất vọng và tự nguyền rủa số phận, đi đâu chết trâu đến đấy. Mọi thuyền thường chỉ phải ở Kho Đen 2 đến 3 tuần, thuyền tôi đúng một tháng, ấy thế mà lại “tái hồi Kim Trọng” ngoài ý muốn, làm sao chả buồn thúi ruột. Xuống xe lại chui vào kho I, bao nhiêu người kho khác xúm lại hỏi duyên cớ. Nào ai biết, chỉ biết ngày mai thứ Bảy, trại nghỉ tiếp, chúng tôi phải chờ thứ Hai tuần sau.

Buồn ơi là buồn! Ấy thế mà chiều thứ Bảy, một trận cuồng phong ập đến. Gió rít, giật từng hồi, những đợt mưa như dội nước xuống mái tôn ầm ầm như tiếng trống. Kho I run lên bần bật tưởng chừng bị gió cuốn phăng đi. Trẻ con co rúm lại túm chặt cha mẹ khi những tiếng sấm nổ vang trời, chớp ngoằn ngoèo sáng rực qua khe hở. Cả kho I bị mưa hắt và dột, nuớc chảy lênh láng, chúng tôi ai kiếm được tấm gỗ kê lên cao thì còn hy vọng cho đàn con ngả lưng, còn không đành chịu trận. Mãi đến gần 7 giờ, mưa ngớt, gió bớt giật, xe cơm của nhà thầu mới đến. Tối ấy chúng tôi được bữa thật no, vì một thuyền cùng kho đã ra tự do, nhà thầu không biết, cứ thế giao như cũ. Chúng tôi cũng tham, nhận luôn chẳng chê, được 2 thùng cơm, 4 nồi thịt và rau chứ không phát bánh mỳ thịt hộp như thường lệ. Mưa rét, lại đói nên chúng tôi ăn hết chẳng thừa chút nào. No dồn đói góp!

Sáng thứ Hai (03-9-79) chúng tôi mới được chuyển trại. Lần này xe vẫn đi vòng qua những phố xá nhưng không còn háo hức, hồi hộp như ngày 31-8 nữa. Đoàn xe vào cổng, tất cả chúng tôi tay đùm tay xách, xuống xe và được lệnh xếp hàng đợi trưởng trại. Không chỉ có thuyền tôi, nhiều thuyền khác cũng chuyển tới. Khoảng nửa giờ thêm gần chục xe vào trại.

Hóa ra ngoài trại cấm Kho Đen (detention camp) người tỵ nạn còn bị nhốt ở nhà tù Victoria, nhà tù Chi-Ma-Wan và trại cấm A-Cai-Lau-Cai. So với ba trại kia, người ở trại Kho Đen còn sướng chán. Anh Hà Quang, một người từng bị nhốt ở nhà tù Victoria (nơi ông Hồ đã ngồi tù) kể, thuyền anh vừa vào lãnh hải Hong Kong là bị xuồng cảnh sát kéo vào và tống ngay vào tù sau khi làm thủ tục nhập cảnh bất hợp pháp. Một buồng giam bé tí, họ tống 3 bố con anh và 4 người lớn rồi đóng sập cửa. Phòng bỗng nhiên tối om, hai đứa con anh sợ quá xón đái, tìm nhà cầu không có. Anh đấm cửa ầm ầm, một tên cảnh sát mở lỗ kiểm tra hình chữ nhật ở cánh cửa, quát:

“Chúng mày muốn gì?”

“Con tôi muốn đi vệ sinh nhưng không có nhà cầu.”

“Chờ đấy.”

Khoảng mấy phút sau, cửa hé ra, nó đưa vào một thùng gỗ. Tất cả không chịu, vẫn hò hét. Nó giơ dùi cui ra dọa, tuy sợ nhưng mọi người vẫn la, nhất là trẻ con khóc ầm ĩ, nó đành mở cửa.

Theo anh Hà Quang, ai ở nhà tù Victoria số phận còn may hơn ở nhà tù Chi-Ma-Wan. Trại tù này nằm trên một hòn đảo nhỏ, quản lí chặt chẽ, rất khó trốn, trốn ra cũng không thể bơi qua eo biển sang đất liền. Bị nhốt ở trại này, số phận cầm chắc về ông nội (Đại lục), bởi vì thấy người từ Việt Nam sang Hong Kong, dân Trung Quốc cũng té nước theo mưa. Người Việt gốc Hoa về “ông nội” không kham được việc nông trường, đua nhau bỏ chạy. Chính phủ Trung Quốc mắt nhắm mắt mở, làm căng, con ruồi cũng không lọt chứ đâu hàng ngàn người sang Hong Kong dễ đến thế. Anh Hà Quang cũng từ nông trường, may còn đủ giấy tờ kể cả bằng lái xe, chứng minh thư nhân dân Việt Nam, nên được ra Khải Đức Đông.

Thuyền Việt Nam mũi thường nhọn, hai đầu trông giống hình vỏ trấu. Thuyền Trung Quốc phía đuôi gần như phẳng, nên cảnh sát Hong Kong nhìn là biết. Thuyền nào của Trung Quốc tống ngay vào nhà tù Chi-Ma-Wan. Bị nhốt trại này khó hy vọng ra tự do.

Từ sau ngày 16-6-1988 (hạn cuối cùng), tất cả người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp đều bị nhốt ở nhà tù này. Họ được gắn tên “tỵ nạn kinh tế”, không được hưởng quy chế tỵ nạn. Có người bị nhốt rất lâu vì Việt Nam không nhận về. Trung Quốc yêu cầu giải quyết số tỵ nạn này trước khi Hong Kong trở thành Đặc khu của Đại lục. Năm 1992, chính phủ Anh phải nhận thêm người tỵ nạn ở Hong Kong, đa số là người miền Bắc trong đó người Hải Phòng và Quảng Ninh là chính. Có dịp tôi sẽ viết riêng, vì quen người có ‘‘thâm niên 4 năm’’ ở trại tù khắc nghiệt này.

Thân phận tù đã là khổ, nhưng tù ở Việt Nam còn bị cai tù lợi dụng, ít nhất bị bóc lột sức lao động. Năm 1971, viên đại úy trưởng trại giam tỉnh tôi nhân một tháng đầy cữ con trai, mời bác sĩ Kh. và tôi đến nhà liên hoan. Chả là vợ anh đẻ bị ngôi ngang sa tay nên bác sĩ Kh. là người trực, mổ cấp cứu và tôi là trợ thủ, nay sau một tháng “mẹ tròn con vuông” anh mời chúng tôi, gọi là chút ân tình của gia đình đối với thầy thuốc.

Từ thị xã, chúng tôi đạp xe gần 7 km vào sâu bìa rừng gần trại giam. Thấy chúng tôi, anh ra tận cổng bắt tay thân mật, mời vào. Nhà anh là một nếp nhà gỗ 5 gian lợp ngói hoành tráng, tất cả các cột nhà tròn to toàn gỗ sến, táu, trai, đã lên nước bóng nổi rõ từng đường vân thật đẹp. Tủ chè, bàn ghế, giường model Hong Kong đều bằng gỗ lát hoa và lát chun, lát toàn loại quý hiếm và thuộc hàng cấm khai thác và mua bán theo văn bản của nhà nước.

Anh thân chinh bóc gói chè Hồng Đào mới nguyên, pha nước mời. Vài câu chuyện xã giao, vợ anh bế con ra chào, anh dẫn chúng tôi ra xem vườn và ao cá. Vườn anh thật đẹp, toàn cây lưu niên: cam, chanh, hồng bì, nhãn, vải, trồng theo thứ tự từng hàng thẳng tắp và chiếc ao cá đến hơn trăm mét vuông. Xung quanh là hàng tre bao bọc, cơ ngơi vài héc-ta, một kiểu nhà vườn sinh thái đầy mơ ước.

Thấy chúng tôi trầm trồ và có ý hỏi với gia cảnh chỉ có hai vợ chồng và 3 đứa con dại làm sao mà chăm sóc nổi. Anh cười, nháy mắt, nói nhỏ:

“Các cậu ấy giúp đấy.”

Chúng tôi hiểu, “các cậu ấy” nghĩa là các tù nhân làm không công cho trưởng trại, bởi vì mỗi lần lễ Tết, nhà nước đặc xá, người đưa danh sách chính là trưởng phó trại giam.

Anh chỉ sang góc bên trái, cũng một hàng tre xanh mướt bao quanh khu vườn, một nhà ngói 5 gian, anh bảo:

“Nhà cậu phó trại M. đấy.”

Ngày 31-8-1975, tôi đang ngồi chơi nhà anh bạn ở thị xã, bốn người măc áo phạm nhân đến hỏi mua lợn, chủ nhà dẫn họ ra chuồng. Người phạm nhân lớn tuổi bảo:

“Tưởng bác có lợn dái (lợn đực giống) hay lợn sề chứ lợn này chúng em chả mua.”

Anh bạn tôi cười:

“Mấy anh này lạ thật, lợn dái ăn làm sao được. Nấu xong, gắp lên khác nào đưa tất (vớ) vào mồm, hôi mù mù nuốt không trôi. Lợn sề đẻ dăm lứa dai như da trâu, nhai mỏi quai hàm ăn sao nổi. Các cậu tham rẻ hay sao, toàn hỏi những hàng ‘đặc sản’ như vậy?”

Nhìn trước nhìn sau, anh phạm nhân nói nhỏ:

“Các anh tính, cả năm có 2 dịp lễ (02-9), Tết (nguyên đán) mới được ăn tươi. Có thế tụi tôi mới có miếng mà bỏ mồm, vả lại rẻ, mua một thành hai, chứ thịt ngon các cán bộ coi tù không những ăn, còn đem về cho vợ con, chỉ còn ăn lòng, thủ và dăm miếng bèo nhèo là hết cỡ.”

Cai tù Victoria, Chi-Ma-Wan, Kho Đen ở Hương Cảng tuy đểu cáng, ma cô nhưng cũng chưa bót lột sức lao động hay tranh cả miếng thịt của người tù, còn cai tù XHCN rất sành điệu kiểu bóc lột gian manh này mà không phạm luật.

Vị trưởng trại Khải Đức Đông nói tiếng Quảng, có người thông dịch sang tiếng Việt rõ ràng mạch lạc, ai cũng hiểu. Chúng tôi được lần lượt làm thủ tục nhận vật dụng trại cấp: phiếu lĩnh cơm, số giường (hai người một giường đơn kèm chiếc chiếu), hai người một xô nhựa, một chậu nhựa, mỗi người một đôi dép lê, một bát nhựa, đĩa nhựa. Chúng tôi được xếp vào kho A12, đến đây coi như thuyền giải tán, chủ thuyền không còn là vị chỉ huy tối cao của chúng tôi. Nói thế, nhưng y vẫn lải nhải đòi tiền bà con, y bảo tiền sửa thuyền ở Bắc Hải quá nhiều, số 22 người nhận thêm vẫn chưa đủ. Thỉnh thoảng y lại triệu tập bà con để họp (họp con mẹ gì?), sau khi kể lể con cà con kê, y lại nhai nhải yêu cầu bà con đóng góp trả nốt số tiền mà y cho chịu (sao lại là chịu?). Nhiều người không họp, lý do ông chẳng là cái đinh gì có quyền bắt chúng tôi họp. Vài lần chán, y đành chửi thầm quân ăn cháo đá bát.

Sân bay Khải Đức là sân bay lớn nhất của Hương Cảng, không biết vì lý do gì nhường hẳn một phần để lập trại tỵ nạn. Đứng ngay trong sân, nhìn qua hàng rào chúng tôi trông rõ máy bay chạy trên đường băng. Đầu năm 1979, một khu nhà 4 tầng (thuộc sân bay) ngay sát đường lộ đã được trưng dụng làm trại, gọi là Pắc Dzềnh (trại Bắc), phân biệt với trại chúng tôi Tống Dzềnh (Trại Đông). Khi chúng tôi đến mới dựng xong A12, cuối năm 1979 có A25 sau đó lại chia ra Khải Tắc Đông A và Khải Tắc Đông B bằng một hàng rào dây thép.

Một nhà (gọi là A, đánh dấu sơn đỏ ngoài cửa) khá lớn, tất cả đều bằng tôn lá ghép lại, từ mái đến 4 bức tường và 2 cửa ra vào. Các cột cũng bằng sắt, nóng ơi là nóng, ngang trong lò nướng thịt. Chiều ngang kê được 4 dẫy giường 3 tầng, sát hai bên, lối đi ở giữa, khoảng 2 mét, thông hai đầu, chiều ngang chừng 10 mét. Cứ 2 giường sát nhau chừa một khoảng trống hơn một mét làm lối đi và cho người tầng trên lên xuống. Gia đình tôi được 2 giường gần ngay cửa nên đỡ nóng, rất may được ở tầng 2, tầng lý tưởng nhất. Tầng một thường dành cho người già và gia đình có cháu bé dưới 2 tuổi. Tầng này tuy tiện lợi không phải trèo, nhưng là tầng bị bọn xấu để ý, thường xuyên bị mất đồ. Tầng 3 dành cho người lớn, rất bất tiện, làm bất cứ điều gì ai cũng nhìn thấy. Chuyện riêng tư như phụ nữ thay quần áo cũng thật khó khăn. Mưa, dàn nhạc hỗn loạn gõ lên đầu, mắc bệnh khó ngủ chắc khó chợp mắt, hơn nữa gần mái tôn nên hè nóng, đông lạnh. Tầng 2 lý tưởng nhất, trèo không cao, có cột giường bốn bên, khi cần lấy vải che lại, gia đình có một khoảng tự do không bị ai nhòm ngó trong cuộc sống xô bồ hỗn loạn, chung chạ.

Sự khác biệt giữa trại Khải Đức và Kho Đen như sau:

– Chúng tôi được tự do đi lại, không bị cảnh sát nhòm ngó, chặn ngang hỏi bất chợt. Số lượng cảnh sát ít, thường đứng ở khu văn phòng, khu ra vào, đi kiểm tra quanh trại.

– Nhà tắm, nhà vệ sinh nhiều. Có khu nam nữ riêng biệt.

– Thường xuyên có đại diện của các tổ chức đến thăm, tìm hiểu, lắng nghe những ý kiến và tìm cách giúp đỡ, trong số đó có sơ (sister) Liên. Sơ có khuôn mặt phúc hậu, dễ mến. Những gì đã hứa lần sau quay lại, sơ thông báo được hay không. Ra trại tự do, nhưng chưa đi làm, không có tiền mua tem, chúng tôi nhờ sơ gửi thư về Việt Nam. Chuyện này tuy nhỏ nhưng khá tốn kém, mỗi lần sơ đến, vài chục người chuẩn bị thư chờ sẵn. Nhờ lòng hảo tâm của sơ, chúng tôi đã thông tin được cho người thân. Ơn này thật lớn, chúng tôi không bao giờ quên, xin cầu phước cho bà. Cũng nhờ sơ mà bố vợ tôi, sau khi nhận được thư, lên tận UBND xã tế cho chúng một trận. Chúng tung tin tôi là gián điệp nhị trùng (Mỹ và Trung Quốc), bị đụng xe ô-tô chết ở Hải Phòng, còn vợ con tôi đi bộ sang Thái Lan (từ Hải Phòng) viết thư gửi bỏ dọc đường có người nhặt được gửi về xã. Chủ tịch xã là cháu, gọi bố vợ tôi là cậu ruột, dám làm chuyện động trời như vậy huống chi những người khác.

–  Trại có phòng chờ, phòng khám bệnh và phát thuốc do bác sĩ và y tá Hong Kong làm việc, đồng thời thuê người tỵ nạn biết tiếng Quảng và tiếng Việt làm thông ngôn.

Bữa cơm đầu tiên mà chúng tôi cảm thấy ngon miệng nhất kể cả đến nay, sau 30 năm định cư, từng dự biết bao bữa tiệc thịnh soạn ở nhà hàng, cuộc đại lễ… mà mỗi khi hỏi đàn con, bữa cơm nào ấn tượng nhất, chúng đều bảo: bữa cơm hộp đầu tiên ở Khải Tắc Đông.

Giấc ngủ ngon nhất đối với tôi là đêm 01-8-1979. Từ khi xẩy nhà ra thất nghiệp, lang bạt kỳ hồ (30-4) sau hơn 3 tháng nằm vật nằm vạ khắp nơi và lênh đênh trên biển, lúc nào cũng ngất ngư, say sóng, cả nhà năm mạng trong một khoảng rộng bằng chiếc chiếu đơn, tôi thường ngủ ngồi hoặc nằm co con tôm. Đêm 01-8 lần đầu tiên ngủ được duỗi thẳng chân, tuy vẫn còn cảm giác bồng bềnh, lắc lư say sóng.

Trưa 03-9-1979, nhà thầu đưa cơm hộp đến, từng hộ gia đình đem phiếu cơm ra nhận phần, mỗi người một suất không kể lớn bé già trẻ trai gái, món ăn lại có 5 món khác nhau. Mấy xe tải có nữ nhân viên phục vụ mặc áo đồng phục, sạch sẽ, nét mặt tươi cười, đon đả, tử tế yêu cầu mọi người xếp hàng trước xe rồi thông báo có 5 loại món ăn và tùy ý lựa chọn. Mỗi xe đưa cơm có hai cảnh sát đứng quan sát, không nói, nhưng nét mặt thân thiện khác hẳn những nét mặt hầm hầm cau có của những tên cai tù ở Kho Đen. Nhà tôi 5 suất, lấy 5 món khác nhau, không phải chia chác nhiều ít, hơn nữa chất lượng nhà thầu tốt hơn nhiều so với Kho Đen, có nghĩa là rất ngon (so với lũ chết đói chúng tôi). Suất cơm khá nhiều, người lớn ăn cũng cảm thấy no, thế mà các con tôi (đứa bé gần 4 tuổi) vét sạch không thừa một hạt nào.

Thời bấy giờ Hong Kong có rất nhiều trại tỵ nạn vì con số người tỵ nạn lên đến hàng trăm ngàn, nhưng tiêu chuẩn và chế độ ở từng trại lại rất khác nhau. Đến nay sau 30 năm tôi vẫn chưa hiểu tại sao cùng dưới sự bảo trợ của cơ quan Liên Hiệp Quốc mà mỗi một trại tỵ nạn lại có những quy chế riêng.

Sát bên trại tôi là trại Bắc Khải Đức, thuyền nhân ở đây đa số là người Quảng Ninh, đến Kho Đen từ sau Tết nguyên đán 1979. Họ ở hơn sáu tháng, ngày ngày vẫn 2 bữa cơm hộp, nhìn sang trại tôi ra vào tấp nập, người đi chợ lũ lượt tay xách nách mang nào gà, thịt, rau quả… cười đùa, họ uất lắm. Một cuộc bạo động nổ ra, đốt giường, đốt trại… loạn xì ngầu. Cảnh sát khu vực can thiệp. Cuối cùng họ được tự do.

(còn tiếp)

© 2009 Lâm Hoàng Mạnh

© 2009 talawas blog

Bình luận

18 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Buồn vui đời tỵ nạn (2)”)

  1. Lê Thượng viết:

    Tôi nhận thấy rằng bài đồng dao trên có giọng điệu xúc phạm đến bản thân riêng tôi, một độc-giả của Talawas và con dân vua Hùng. Hợp với điều lệ Talawas đưa ra, tôi xin đề nghị ban điều hành, xóa bỏ những câu đồng dao nói trên kể cả trong bài lẫn phần phản hồi. Cám ơn.

  2. hungquoc viết:

    Chán thật, “anh em khoa học trẻ” nào lại truyền miệng những bài như thế hả bác chanqua. Xin định nghĩa lại cho họ rõ về đồng giao: Đồng giao là những bài hát của trẻ con, ví dụ như bài “Ông giẳng ông giăng”, hay “Xúc xắc xúc xẻ”. Theo truyện Đông chu liệt quốc, tương truyền có một ngôi sao huyền hoặc sa xuống thành đứa trẻ hát truyền những câu sấm, và do đó gọi là đồng dao (Việc này có ý nghĩa mượn lời trẻ con để truyền sấm, có mục đích chính trị). – Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 phần II, NXB Giáo Dục 1978.
    Mấy câu của bác Lâm và của chanqua đưa ra có cái gì là “sấm truyền”? Bọn trẻ con nào nó thích đọc mấy thứ mách qué như thế? Sao “anh em khoa học” trẻ lại thích thế? Phải chăng chỉ vì mục đích chính trị? Nếu đúng chỉ vì mục đích chính trị thì nó thô kệch, lỗ mỗ quá.
    Xin chanqua thứ lỗi vì tôi không đọc hết phản hồi, vì chanqua nói đẩu đầu đâu ấy, đầu tôi không thu nạp nổi.

  3. Phùng Tường Vân viết:

    @Lê Quốc Trinh

    Tôi xin có một chút ý kiến “gia phụ” cùng ông về chuyện những người gốc Hoa ở Việt Nam. Theo tôi những Hoa Kiều sang sinh sống và lập nghiệp ở miền Nam Việt Nam trước 1975 nhận được một chính sách ngoại kiều khá khoan đãi, họ có những bang hội riêng, trường học, bệnh viện, nghĩa trang riêng… nghĩa là họ có một mạng lưới xã hội dân sự khá sâu rộng ngay giữa lòng một dân tộc khác; khi nạn lớn năm 1975 xảy ra đối với miền Nam thì cũng chính họ nhờ những của cải tích lũy lại là những người đầu tiên “mua” được quyền vượt biên an toàn và nhanh chóng hơn cả. Ở miền Bắc, người Hoa không có được những đặc quyền như vậy, thí dụ cụ thể và ý nghĩa nhất là đa số những con cháu họ không còn nói, viết được tiếng Tàu…, vấn đề có những phức tạp, cần đào sâu để tránh nhãn “bài Hoa”, tuy nhiên theo thiển kiến và lại là người có chút ít tham dự vào việc soạn thảo một số văn bản ấn định quy chế hành nghề của người Hoa ở miền Nam ngay từ giữa những năm 1950 của thế kỷ trước, tôi phải nói là chính sách của miền Bắc đối với Hoa Kiều không phải là không có những điều thích đáng, thực tế và hợp lý.

  4. Lê Quốc Trinh viết:

    Chào các bạn trong Talawas,

    Tôi xin phép lặp lại bốn câu “đồng dao” mà ông Lâm Hoàng Mạnh đã trích dẫn trong loạt bài “thân phận người di tản” của ông:

    “Chẳng qua chỉ tại Vua Hùng
    Sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên.
    Thằng khôn nó đã vượt biên
    Còn lại một lũ vừa điên vừa khùng”.
    (Đồng dao)
    _________________________________

    Hưởng ứng nhắn nhủ của ông HưngQuốc tôi chỉ muốn biết ông Mạnh đăng lên bốn câu “đồng dao” đó với ngụ ý gì? Ông hiện đang là một công dân nước Anh, yên bề gia thất, sau một cuộc hành trình gian khổ đi tìm “tự do” giống như những người di tản khác. Tôi tha thiết muốn biết những “thằng khôn” như ông Mạnh (Thằng khôn nó đã vượt biên) giờ này đã học hỏi được những gì từ “đất nước tự do” và ông có giải pháp gì để giúp đỡ những thằng “điên và khùng” còn ở lại trong nước?

    Trên cương vị một kiều bào gốc Việt 100% sống tại hải ngoại như ông Mạnh, tôi cũng có ít nhiều tâm tư đau xót khi nghĩ đến quê hương đất nước mến yêu. Nhưng tôi cũng không thể chối từ nguồn gốc xa xưa của dân tộc, tôi không thể phủ nhận công lao vua Hùng ngày xưa đã có công dựng nước, và cha ông tổ tiên đã đổ xương máu để giữ nước cho đến ngày hôm nay. Sở dĩ ông Mạnh còn dùng chữ Việt để viết báo và giao lưu với hàng trăm ngàn Việt kiều khắp nơi trong Talawas, đó chính là nhờ công lao của tổ tiên, cha ông ta đã hy sinh tính mạng gìn giữ văn hóa, dòng giống Việt Lạc. Nay ông dùng bốn câu “đồng dao” nọ phải chăng để phủ nhận hết nguồn gốc dân Việt của ông? Nếu ông có can đảm dám nói rằng “ông là người mang quốc tịch Anh gốc Hoa (TQ), ông chỉ dùng tiếng Việt như là một phương tiện để vào Talawas nói chuyện với những người Việt Nam (trong và ngoài nước), ông không còn muốn dính líu gì đến tình hình chính trị hay kinh tế Việt Nam nữa (như ông đã từng long trọng tuyên bố ngay từ bài đầu tiên)”, thì tôi xem ông như là một người ngoại quốc thuần tuý, có chút ít văn hóa kinh nghiệm sống tại VN, thế thôi.

    Tôi cũng thường về thăm quê hương nhiều lần, nghe khá nhiều câu “đồng dao, tục ngữ, ca dao tân thời” chửi rủa chế độ CS hiện hành, nhưng tôi nghe để thấm thía những nỗi niềm đau xót, chứ không phải dùng nó như một phương tiện để chửi rủa dân tộc tôi, chối từ nguồn gốc tôi. Tôi biết hiện giờ VN đang đứng trên bờ vực thẳm phá sản, chính quyền CS đã và đang bị phê phán khắp nơi trong dư luận, tôi biết lịch sử cận đại đã để lại nhiều vấn đề phức tạp về quan hệ giữa VN và TQ, trong đó Hoa Kỳ cũng đóng một vai trò quan trọng không kém. Những vấn đề phức tạp gay go đó không thể một sớm một chiều giải quyết dễ dàng, nhưng nếu còn muốn mang thân phận người Việt thì phải biết cắn răng chịu đựng những đau thương và tìm cách giải quyết trong tinh thần hiểu biết và ôn hoà, tránh tang tóc cho đất nước.

    Do đó xuyên qua nhiều loạt bài ông Mạnh viết trên Talawas, tôi đoán được ý đồ của ông. Tấn công vạch trần sai lầm của lãnh đạo ĐCS VN thì quá dễ dàng, ai ai ở hải ngoại cũng có thể làm được, nhưng mục tiêu để làm gì? Có nhiều người vì mất mát hy sinh quá nhiều nên mang mối hận thù truyền kiếp, tôi hiếu, họ viết còn hay và nhiều hơn ông Mạnh, chỉ cần bước qua Little SaiGon bên Mỹ thì đọc cả một rừng sách của hàng trăm ngàn người di tản. Nhưng lịch sử VN và nhân loại giờ này đã sang trang, nhắc lại chuyện cũ để rút kinh nghiệm và giải quyết tốt đẹp cho tương lai.

    Suốt hơn một tháng trời, tôi theo dõi những loạt bài của ông Mạnh, chưa hề thấy ông nêu lên được một giải pháp nào cho tình hình VN, nơi mà ông và gia đình đã từng sinh ra và nương náu, trước khi di tản ra ngoại quốc? Nếu chỉ viết nhiều bài nhắc chuyện quá khứ để khơi dậy nỗi hận thù với chính quyền VN, và ca tụng những ơn huệ do người ngoại quốc ban cho, đối với tôi, chẳng mang lại được một tia hy vọng nào cho tương lai VN. Ông có kiên nhẫn viết thêm hàng chục bài nữa, đón nhận thêm hàng tá lời khen tặng, thì rốt cuộc cũng thế thôi, giống như một người lái xe, chỉ luôn đảo mắt nhìn vào kính chiếu hậu nhỏ xíu, trong khi trưóc mắt anh ta là một tấm kính to lớn. Chắc chắn anh chưa hề bị tai nạn đụng xe, bởi lẽ chiếc xe này là xe điện hiện đại đầy đủ tiện nghi, đã nằm trên đường rầy và chỉ chạy về một hướng duy nhất… do người ngoài quyết định.

    Chào thân ái,

    Lê Quốc Trinh

  5. chanqua viết:

    @PT Vân:

    Cám ơn ông vẫn xem tôi là bạn khi tôi có hơi bị “nóng đầu” trong comment vừa qua. Nếu ở VN, có lẽ tôi sẽ thử vào thăm lăng cho nó “mát đầu” tí!

  6. Phùng Tường Vân viết:

    @chanqua

    Thôi thì “không mách qué”, được chưa bạn hiền, hì hì…ngày xửa ngày xưa người ta nói “nôm na là cha mách qué” mà lịch sử văn học cũng chưa thấy có ai hơi bị nổi giận như chanqua đó nhe.
    Thân,

  7. chanqua viết:

    Thưa ông PT Vân: Tôi không có tài “xào nấu” nhanh tay như ông ban gán cho đâu. Version này là do một số anh em khoa học trẻ Hà Nội đến họp một hội thảo ở xứ tôi ở đọc cho tôi nghe đấy. Có lẽ sau dinner và vì vài cốc rượu vang ngà ngà nên câu đồng dao ấy nó trở nên “hàm hồ mách qué” chăng? Tôi không ở trong nước nên không đếm được “mấy ai nhắc tới”.

    Nhưng tôi cũng xin hỏi ông và ông hungquoc là đồng dao thì phải buộc như “văn học chính thống” (có trên báo chí sách vở nhà nước cho phép) nên không được mách qué? Hay nó phải có kiểu như “Thương cha, thương mẹ,… Thương ông thương mười”? Đồng dao là một phương tiện của dân thấp cổ bé miệng (ai ở VN mà có cao cổ to miệng thì ông biết rồi) để “chửi bố” (dùng từ gì cho nó khỏi mách qué đây? Phản biện?) những tên lãnh đạo lưu manh chính trị đang vò nát đời sống của họ trong lịch sử VN. Nay ta nên chỉ được dùng “súc sanh dòng dõi thế gia” thay vì “đồ chó đẻ” (như một nhà báo đã không kềm nổi bức xúc)?

    Đồng dao không có đủ sức (hay dài hơi) như “cung văn chính thống” để ngồi phân loại abc như báo chí của Đảng mà chia “khúc ruột ngàn dặm” ra ruột non, ruột thừa hay lỗ đ… Vì vậy từ “lũ” trong bài đồng dao trên có thể gây phản cảm cho những người hay bị nhột hoặc không đủ máu tếu (sense of humour). Người có đủ sức tếu thì sẽ không khi nào hiểu từ “lũ” đó chỉ toàn bộ những người đang là công dân (hay nhân dân) VN (mấy anh bạn khoa học trẻ từ Hà Nội của tôi chắc chắn hiểu rõ điều đó!). Các đồ đệ của ông Hồ chắc chắn là không điên hay rồ. Nếu đã rồ điên thì sao lại nắm được đầu các bác? Cái điên rồ ở đây nằm ở chỗ là chính mình đã biết mình điên rồ nhưng vẫn ráng “nhịn đò qua sông”! Vừa điên, vừa hèn!

    Khi ông hungquoc nhắc đến các nguyên thủ quốc gia vào lăng ông Hồ thì tôi thắc mắc cái “ngây thơ chính trị” của ông ấy! Các “con cáo già” từ các nước khác đến VN mà không vào “cúng Phật” một phát thì tốn cả cái vé máy bay! Họ không “mát đầu”. Bao nhiêu lần Mao và Chu Ân Lai ôm hôn cái xác sống ấy? Bao nhiêu lần, nguyên thủ TQ “hiếp dâm” VN? Họ không “mát đầu”!

    Bàn về cái mách qué: khi báo chí “chính thống” của Đảng CS và ngay cả Nguyễn Tuân dùng từ “thằng” để chỉ ông Diệm, Johnson thì các ông có bảo là mách qué không? Tôi chưa bao giờ dùng từ “thằng” với với ông Hồ dù rằng ông ấy là nguyên nhân cho rất nhiều đau thương mất mát cho gia đình tôi. Ai mách qué?

    Tôi bị nghe câu “cha già dân tộc” nhiều lần. Nếu ai đó bảo một ông nào đó mới là bố của anh thì xin hỏi ông PT Vân và hungquoc có nên cho cái thằng mách qué đó một đấm?

    Bàn về đả kích (bôi nhọ) cá nhân: Bài đồng dao không nói về đời tư của ông Hồ, nó chỉ nói về cái trạng thái tư duy của ông ấy và đồ đệ của ông ấy. Khi tôi đến cái đất nước mới này, chỉ vài tháng là tôi thấy ngay ai điên ai rồ. Không ai là thánh! History chanel công chiếu về những founding fathers của nước Mỹ (Washington, Jackson, Franklin, Roosevelt…) và ngay cả the best president của nước Mỹ là Lincoln với tất cả những yếu đuối của những con người đó: gái gú, không chung thủy, nô lệ … Đó có là đả kích cá nhân? Người Mỹ đánh giá các “cha già” của họ bằng những cái các “cha già” đã làm cho dân tộc. Còn ông Hồ? Thôi bỏ đi luôn cái cải cách ruộng đất, nhân văn… thì vẫn còn “đốt cả Trường Sơn (và máu thịt)” để thống nhất (không cần tự do) là cái gì cho dân tộc VN trong vị thế của thế giới? Công tội thì khó bàn nhưng tôi lấy cái chuẩn Nam Bắc Hàn mà trả lời là “khốn nạn cho dân ta”.

    Bàn về “bố lếu” và “bài vở thật” hay “học cái mách qué là nhanh” của ông hungquoc: Thú thật với ông là khi rời khỏi VN, tôi đã cố gắng vứt bỏ thật nhanh những “bài vở thật” (hay chính thống) về ông Hồ, lịch sử Đảng, CNCS “khoa học”, kinh tế CS “mách qué” ấy để khỏi bị rồ và điên. Tôi chọn đất nước mới này để con cái tôi không phải đi qua cái đoạn đường “truân triên” (từ của ông hungquoc) mà tôi đã trải qua (không bằng cái đinh gì so với đoạn đường của ông LHM). Cái “mách qué” mà tôi nhớ là bởi lẽ: sự thật nó sống lâu!

    Bàn về “điên hay rồ”: Obama được xem là một trong những Tổng thống Mỹ được nhiều phiếu nhất trong lịch sử Mỹ. Obama chỉ được khoảng 70% dân Mỹ khoái thôi. Khi tôi kể cho một bạn đồng nghiệp rằng lãnh đạo VN được 99% phiếu bầu, anh ta trợn mắt nhìn tôi, cười mà bảo “Are you guys crazy?”. Cho rằng 99% của Bộ Chính trị OK, bảo đó rằng 99% 3 triệu đảng viên OK, rồi bảo 99% hơn 80 triệu toàn dân OK? Are you guys carzy?

    Khi nào VN có quyền free speech như các nước dân chủ thì câu đồng dao đó sẽ không mang tiếng “mách qué” nữa!

  8. Dương Danh Huy viết:

    Về bài

    Chẳng qua chỉ tại Vua Hùng (1)
    Sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên (2)
    Thằng khôn nó đã vượt biên (3)
    Còn lại một lũ vừa điên vừa khùng (4)

    Tôi thiết nghĩ những người không tự cho là người Việt không nên rêu rao câu 1, 2; những người không phải là người trong nước không nên rêu rao câu 3, 4.

    Lý do là sự lịch sự tương đương với việc những người không phải da đen không nên gọi người da đen là nigger, mặc dù người da đen có thể gọi nhau là nigger.

  9. Vũ Hoài Nam viết:

    Tôi vẫn nhớ phản hồi đầu tiên (http://www.talawas.org/?p=8071) ở bài thứ hai của ông và từ đó ông rất kiệm lời, phần phản hồi phía dưới gần như là không bao giờ có mặt ông, chỉ có độc giả vào tán dương lối hành văn của ông, và chia sẻ về những gian khó về một quãng đời của ông, ông chỉ trả lời bằng những bài viết được đăng trên Talawas. Tôi xin có góp ý nhỏ về cách hành văn, có lẽ những gì ông viết nên được liệt vào thể loại ký, còn để thành truyện ngắn, tiểu thuyết thì còn phải học thêm nhiều “mánh lới” trong cách hành văn. Tôi xin ví dụ là những câu cảm thán cá nhân của ông thì không nên thêm vào, người đọc tự khắc có cảm nhận riêng, nếu ông nói sẽ là những “gợi ý thô” thậm chí có thể còn cho ông là cực đoan. Tất nhiên trong văn học là một thứ tuyên ngôn của cá nhân không thể chối cãi, nhưng văn sĩ càng giỏi thì họ càng giấu khéo trong những câu văn tả thực tưởng như rất bình thường. Ngay như truyện cho con nít thôi, ông ở nước ngoài thì biết các truyện tranh cho chúng nó rất tinh tế, nó kể chuyện 3 chú lợn (3 little pigs) xây nhà thế nào, muốn nhanh nên xây nhà rơm, nhà bằng que nên sói tấn công dễ dàng, cuối cùng các chú phải học anh xây nhà bằng gạch cho chắc, thế thôi, chả kết luận như là: “thế là anh nông dân thông minh, nhanh trí đã cho chú hổ tham lam và ngu si một bài học đích đáng”.

    Tôi vẫn thường đọc kỹ những bài viết của ông, thầm cảm ơn ông về những câu chuyện đời mà ông kể, được nghe câu chuyện về một đời người mà chỉ mất dăm tiếng đồng hồ thì tốt quá còn gì. Kể từ bài thứ hai mà tôi băn khoăn về cách nói: “người Việt Nam (xịn) ở trong và ngoài nước (dù có kém hiểu biết hay thiếu văn hóa) cũng xin đừng tham gia dàn hợp…” cho đến nay ông có viện dẫn bài “đồng giao” Hùng Vương mà ông hungquoc phát hiện thì tôi cũng đôi phần hiểu tâm sự của ông. Ông Lâm ạ, tôi nghĩ càng có tuổi thì con người ta phải càng hiểu đời, càng thương và tội nghiệp cho đời, cho thân phận làm người hơn, oán hận phỏng ích gì, ông theo y dược chắc cũng biết tức khí nó hại tì vị thế nào chứ? Nói vậy cũng là đôi lời tâm sự chân thành của tôi mà thôi, tôi hiểu trên đời có mấy ai như đức Jesus, bị đóng đinh trên cây thập tự mà miệng vẫn còn khẩn cầu đức chúa trời tha thứ cho kẻ thù của mình, họ “không biết họ đang làm gì”. Hẳn là thế, nếu không thì hàng trăm triệu người sao lại tôn thờ đức Jesus, phải không ông?

    Tái bút: Dù không mong được ông hồi đáp nhưng tôi vẫn rất mong được đọc bài của ông vào một ngày gần. Xin kính chúc ông và gia đình sức khỏe và may mắn!

  10. Arthur viết:

    Bài đồng dao này có trong khoảng cuối những năm 70, đầu 80 thế kỷ trước, những năm đầu của phong trào VƯỢT BIÊN. Vì vậy, mặc dù hai câu đầu,

    “Chẳng qua chỉ tại Vua Hùng
    Sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên,”

    không hợp lý (1), nhưng lúc đó bài này rất được nhiều người biết và thích vì hai câu 3 và 4,

    “Thằng khôn nó đã vượt biên
    Còn lại một lũ vừa điên vừa khùng.” (2)

    Hiện tại câu 3 và 4 nhiều người ở Hà nội sửa lại là:

    “Thằng ngu thì mới vượt biên
    Thằng khôn ở lại cướp tiền của dân.”

    (1) Vô lý vì nếu chỉ “sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên” thì làm gì có thằng khôn để VƯỢT BIÊN.

    (2) Có người đọc là: “Thằng khôn thì đã vượt biên. Còn lại trong nước toàn điên với khùng.”

  11. hungquoc viết:

    Ông chanqua,
    Thế ra ông cũng không biết cái version Vua Hùng, nếu biết chắc hẳn bác phải biết thêm được vài câu nữa chứ!? Thêm nữa, câu trả lời của ông chưa đủ nên việc “giúp ông LHM” có vẻ không được chu đáo lắm, nếu lần sau ông có mang tiếng giúp thì cũng nên giúp cho chót. Nhưng thôi, dù sao tôi cũng rất lấy làm cảm ơn về sự nhanh nhẹn của ông.
    Version về cụ Hồ nghe thì có chút hợp lý hơn, chỉ nói đến “đồ đệ” của cụ chứ không phải con dân nước Việt như Version Hùng vương. Tôi cũng xin nói cho ông được rõ là tôi không cảm thấy “đụng chạm” gì cả, chỉ thấy có chút buồn. Nói chung ở bài ông đưa ra tôi thấy chỉ do một số “đồ đệ” của “phản Hồ giáo” (nói theo các ông Phùng Quang Tuấn) rảnh chuyện ngồi bẻ vè bôi nhọ cá nhân cụ Hồ mà thôi. Chết chửa, đồ đệ cụ Hồ điên hết cả? Những người mang tâm sức giúp nước điên hết? Còn lại “nhân dân vượt biên” thì khôn chăng? “Nhân dân” ở đây dùng để chỉ mỗi “dân vượt biên”? Ông lại còn mở ngoặc cho rõ ý : (hay Vào lăng thăm Bác, vừa điên vừa rồ.). Thế thì hơi căng đấy, bao nhiêu nguyên thủ quốc gia các nước trên thế giới đến viếng lăng cụ mát đầu hết!? Mấy bài “đồng giao” kệch này làm tôi nhớ đến câu : “Bắt chuột chẳng hay, chỉ hay ỉa bếp!”.
    Đúng là thời đại đảo điên nên sinh ra nhiều chuyện lạ lùng lắm thay!!!
    Ngày bé tôi cũng hay học những bài hát chế lời, những câu vè “bố lếu bố láo”, vì nó có vần vè, học mấy cái đó phải nói là nhanh và dễ nhớ hơn bài vở thật, và bố tôi thường hay mắng “chỉ học ba cái mách qué là nhanh”. Tôi cũng thật không ngờ sau bao nhiêu năm được gặp lại ba cái mách qué ấy ở đây, trên một diễn đàn Talawas.

  12. Phùng Tường Vân viết:

    @chan qua

    Tôi ngờ rằng cái “version khác” của mấy câu đồng dao nói đến ở đây chỉ là một sự “xào nấu” nhanh tay của chanqua đó thôi, sự thực tôi cũng có được nghe mấy câu ấy được truyền tụng khỏang trên dưới mươi năm nay và chủ yếu là từ Hà nội truyền đi gần như đồng thời với các câu chuyện như “mã quy” “quy mã” v..v….Nhưng chính có lẽ vì tính chất hàm hồ, mách qué của nó cho nên đời sống của nó trong nguồn “văn học dân gian mới” là rất ngắn, đến nay không mấy ai mấy ai còn nhắc đến nữa.

  13. chanqua viết:

    Xin trả lời ông hungquoc giúp ông LHM nhé:

    Tôi đã nghe bài “đồng dao” mà LHM dẫn từ các bạn bè từ Hà Nội vào Sài Gòn sau 75. Nếu ông không muốn đụng chạm đến vua Hùng thì còn có một version khác nữa đây:

    Chẳng qua chỉ tại Bác Hồ

    Đồ đệ một đám vừa rồ vừa điên.

    Nhân dân lũ lượt vượt biên,

    Còn lại với Bác, lũ điên, lũ rồ.

    (hay Vào lăng thăm Bác, vừa điên vừa rồ.)

  14. Lê Quốc Trinh viết:

    Tôi hoan nghênh câu hỏi của bác HungQuoc với ông Lâm Hoàng Mạnh.

    Đã hơn một tháng nay bác Mạnh viết khá nhiều về thân phận nghiệt ngã và nỗi luân chuyên của “một người di tản buồn”. Tôi thiết tưởng đến lúc ông Mạnh cũng nên nói vài điều về tình cảm của ông với dân tộc Việt Nam, với đất nước Việt Nam, nơi mà ông và gia đình từng nương náu.

    Cám ơn ông nhiều,

    Lê Quốc Trinh

  15. hungquoc viết:

    Chào bác Lâm Hoàng Mạnh,
    Rất cảm ơn bác về các câu chuyện rất thú vị bác kể. Ở bài này của bác tôi có một thắc mắc nhỏ mong có lời giải đáp. Ở đầu bài bác mở bằng một đoạn đồng giao (như bác viết):

    Chẳng qua chỉ tại Vua Hùng
    Sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên.
    Thằng khôn nó đã vượt biên
    Còn lại một lũ vừa điên vừa khùng.
    (Đồng giao)

    Tôi thấy ở bài này có nhiều điểm không thấy hợp lý cho lắm. Chẳng lẽ Vua Hùng chỉ sinh ra một lũ vừa khùng vừa điên? Thế sao còn có “thằng khôn” để nó “vượt biên” (thời Hùng Vương đã có tệ vượt biên rồi sao)? Bây giờ thì còn lại toàn lũ “điên khùng” ở VN? Như vậy thì cứ phải “vượt biên” để thành khôn chăng? Hàng năm đến dịp giỗ tổ Hùng Vương thì hàng trăm ngàn người đổ về thì liệu trong đó có vài cái đầu khôn chăng hay không khùng thì cũng điên?

    Nói cho ngắn gọn, bài “đồng giao” này tôi thấy nó thiếu vắng tính tự tôn dân tộc, ngoài ra có vẻ mách qué. Đây là lần đầu tôi được biết đến, nếu bác Mạnh có thời giờ, xin bác chỉ cho bác nghe được ở đâu và ý của bác khi vận dẫn ở bài này là gì? Và xin thật lòng hỏi thêm bác một câu, bác có thể không cần trả lời, như đã biết về cuộc đời truân triên của bác, đến bây giờ bác còn cảm thấy chút gì “yêu mến” hay “thương” cho Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam không?

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>