Đỗ Xuân Tê – Gió Biển Đông đã đổi chiều
23/08/2009 | 1:12 sáng | 4 Comments
Category: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Công hàm của TT Phạm Văn Đồng > Jim Webb
Nếu Trường Sơn trở thành chốn giao tranh ác liệt của những kẻ coi nhau như nội thù trong chuỗi dài lịch sử “ba mươi năm nội chiến từng ngày” thì Biển Đông coi vậy mà hiền, được coi như dòng chảy đưa những con tàu xuyên đại dương băng ngang hải phận như lộ trình ngã tư quốc tế, tuyệt nhiên nước không tanh mùi máu, gió không khơi mùi tử khí, sóng vẫn vỗ đều êm ả như biển Thái Bình.
Chỉ có một lần vào năm 74, khi hai người anh em cùng cha khác mẹ đang quần thảo nhau trên rừng trên đất, thì đột nhiên nước Biển Đông sủi bọt. Tàu chiến của người “vừa là đồng chí vừa là anh em” của các lãnh đạo Hà Nội từ Hải Nam tiến chiếm Hoàng Sa. Lúc này Hoàng Sa là của Việt Nam, đất mẹ muôn đời phải gìn giữ, nên chính quyền miền Nam không chịu làm ngơ. Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã xuất trận. Rất tiếc lực lượng không đủ mạnh, khiến hạm trưởng Ngụy Văn Thà cùng 58 chiến sĩ đã ở lại với biển. Hoàng Sa tạm thời bị mất về tay địch. Đâu đây mùi tử khí đã vận hành theo gió, con tàu HQ 400 như con chim báo bão cho một ngày không xa sẽ có những tranh chấp lớn tại Biển Đông.
Thế rồi vận nước đổi thay, Biển Đông đột nhiên trở thành một địa danh hãi hùng, mồ chôn của bao sinh linh con dân đất Việt bất kể già trẻ lớn bé tự chọn con đường liều chết rời bỏ quê hương, lênh đênh trên những chiếc thuyền nan, thuyền gỗ phó mặc cho số mệnh nổi trôi đẩy đưa đến những bến bờ vô định với hi vọng tìm được tự do no ấm, nhân phẩm cho kiếp người. Cũng từ đây, một từ mới ra đời trong từ vựng quốc tế: “thuyền nhân” (boat people), đánh dấu một thời kỳ khổ nạn, lịch sử Việt Nam và thế giới chưa có một cuộc xuất dương bỏ nước ra đi nào vĩ đại như vậy.
Ba mươi năm sau, lịch sử lại lặp lại. Hoàng Sa! Trường Sa! Những tiếng vọng uất ức tha thiết vang lên chẳng phải chỉ trong nước, trớ trêu thay hăng hái nhất lại là từ những kẻ một lần phải bỏ nước ra đi. Những người đã “dạy cho Việt Nam một bài học” đã vẽ lại bản đồ cho vùng lãnh hải của họ, cái “lưỡi bò” xuất phát từ Hải Nam thè ra liếm trọn một vùng xuống tận cực nam tiếp giáp lãnh hải Philippines/Indonesia, nuốt chửng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà họ ngang nhiên tuyên bố là ao nhà của dân tộc Hán. Bản đồ này không phải chỉ là tài liệu tung ra trên mạng, mà gần đây đã trở thành văn bản phụ đính cho tập hồ sơ của phía Trung Quốc công khai gởi Liên Hiệp Quốc để biện minh cho chủ quyền lãnh thổ của mình, khi người đồng chí của họ thất thế phải kiện cáo cơ quan trọng tài tối cao này dựa theo Công ước Luật biển 1982 mà cộng đồng quốc tế cùng thừa nhận ký kết.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc làm như vậy. Từ nhiều thập niên qua, khi phong trào thuyền nhân đi vào yên nghỉ, mùi tử khí nhạt dần thì mùi… dầu khí lại được các bên hữu quan đánh hơi bén tiếng. Biển Đông không còn đơn thuần là dòng chảy giao lưu quốc tế mà trong cách nhìn chiến lược nào đó, nó trở thành tiềm năng vô tận cho những giếng vàng đen của các thập niên sau. Các nước quanh vùng đua nhau tuyên bố chủ quyền, thậm chí Đài Loan không có một chút biển nào dính liền với Biển Đông cũng đem quân đến ăn một vài đảo quanh vùng Trường Sa, chưa kể mấy nước ASEAN cũng nhận lãnh hải quanh một quần thể gồm nhiều đảo nhỏ mà chánh quyền VNCH đã phái một đại đội địa phương quân của tiểu khu Bà Rịa – Phước Tuy thường xuyên trú đóng để bảo vệ hải phận tiền đồn của Tổ quốc. Kẻ viết bài này có một dịp đã theo tàu tiếp tế lương khô, đem toán văn nghệ dã chiến ra khơi giúp vui cho chiến sĩ và gia đình trên đảo, sau đó vòng về Côn Đảo cách đó không xa. Ngày ấy chẳng có ma nào nhòm ngó đến chốn khỉ ho cò gáy này, báo chí quốc tế thì mải lo khai thác chuyện chuồng cọp bôi xấu chế độ miền Nam. Ngay Hoàng Sa khi đó cũng chỉ là hòn đảo nhỏ hơn Lý Sơn (Quảng Ngãi) với thổ sản duy nhất là phân chim chẳng ai buồn khai phá, có chăng là một thời, các đội thuyền buồm của quan quân triều Nguyễn vãng lai ra cắm cọc mốc như một hình thức minh xác chủ quyền tuần duyên quanh đảo hoặc các tàu đánh cá viễn khơi của ngư dân vùng Quảng táp vào tránh bão mỗi khi gặp nạn trên Biển Đông. Sau này, ông Thủ tướng miền Bắc vì lý do “nhạy cảm” đã ký văn bản nhường “quyền” cho Mao Chủ tịch, có lẽ vì nghĩ rằng xá gì một đảo nhỏ xa xôi khi tình hữu nghị anh em là điều kiện sống còn cho mối quan hệ quốc tế vô sản. Ngờ đâu chỉ nửa thế kỷ sau Hoàng Sa trở thành một phần của huyện đảo Tam Sa, nối dài cho sân sau của bá quyền Đại Hán, trở thành tâm điểm cho một đường kính hàng ngàn hải lý quét đủ một vòng ôm trọn Biển Đông!
Rồi đến một ngày, một tấc đất là một tấc vàng trong thời hội nhập, một hải lý trên biển trở thành một kho báu đô la, thế là tranh chấp nổ ra giữa những người mang tiếng là láng giềng gần trên đất. Xấc xược nhất, sống sượng nhất vẫn là quốc gia bá quyền Trung Quốc. Khiếp nhược nhất, né tránh nhất lại là quốc gia tự xưng một thời đã ba lần thắng ba đế quốc sừng sỏ nhất thế gian. Chuyện tuy chưa có gì lớn, nạn nhân “mới chỉ là” những ngư dân vô tội vì miếng cơm manh áo đi đánh bắt cá tôm trên vùng biển vùng ven mà từ đời này qua đời kia cha ông họ vẫn thường làm. Chính hải phận quen thuộc như ao nhà bỗng dưng trở thành “đất lạ”, bị “tàu lạ” đâm, bị “người lạ” bắt, bị giam bị giữ, bị đòi tiền chuộc nộp giao cho những kẻ hành xử như bọn thảo khấu trên biển khơi. Bất giác người viết lại nhớ mấy câu thơ mà Chủ tịch Giang Trạch Dân tặng phái đoàn gồm bộ ba lãnh đạo Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười tại Hội nghị Thành Đô (tháng 11/1991) khi hai nước cộng sản anh em nối tình hòa khí:
Qua hết sóng dữ, anh em vẫn còn
Gặp nhau cười một cái là rửa sạch ân oán!
(Đô tận kiếp ba huynh đệ tại
Tương phùng nhất tiếu mãn ân cừu)
(Nhật ký Lý Bằng – tháng Giêng 2008)
Chuyện ngày nay (Đỗ Mười còn sống) chẳng phải “cười một cái” là xong, ân oán chẳng phải một ngày mà rửa sạch khi tình đồng chí chỉ là vỏ bọc, nghĩa láng giềng là chuyện xa xưa. Nếu quả “anh em vẫn còn” như các nhà lãnh đạo Việt Nam khẳng định thì “sóng dữ” vẫn chưa qua, nếu cứ nhìn hình ảnh mấy ngư phủ già vái lạy quân cướp biển, nỗi bức xúc với thời cuộc trên Biển Đông vẫn là niềm trăn trở của những người còn nặng lòng với Tổ quốc. Bùi Chí Vinh, một nhà thơ “Zăng-gô” của thành phố mang tên Bác đã than thở, máu bầm đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo/ai cho phép Hoàng Sa, Trường Sa thành Tam Sa lếu láo/tội nghiệp rừng cọc nhọn Hưng Đạo Vương trên sóng Bạch Đằng…
Gần đây hình như gió đã đổi chiều. Người Hà Nội lên tiếng, người Sài Gòn lên tiếng, thanh niên, sinh viên, trí thức lên tiếng, nhiều dân mạng lên tiếng. Tất cả như tiếng vọng đồng thuận cùng lên tiếng với những người hải ngoại sống xa quê hương. Điều đáng ngạc nhiên và lý thú là… Mỹ cũng lên tiếng. Jim Webb, một ứng viên sáng giá của Đảng Dân chủ, chủ tịch Tiểu ban Đông Á của Thượng viện Mỹ, nơi định hình cho các chính sách lâu dài của Á châu, một thời là cựu binh cuộc chiến Việt Nam, từng là Bộ trưởng Hải quân thời Reagan, ra vô Biển Đông như đi chợ, trong chuyến viếng thăm Hà Nội mới đây sau khi đi một vòng Đông Nam Á đã lên tiếng khi đươc hỏi quan điểm của Mỹ liên quan đến tranh chấp của 5 quốc gia tại Biển Đông (trong đó Trung Quốc tuyên bố 80% diện tích là chủ quyền của họ). Thượng nghị sĩ Mỹ có vợ gốc Việt này trả lời, “Quan điểm của tôi là Mỹ nên có thái độ cụ thể hơn về việc bảo vệ chủ quyền của khu vực này, không nhất thiết bằng biện pháp quân sự, mà cần thể hiện bằng ngoại giao. Mỹ sẵn sàng là lực lượng cân bằng đối với Trung Quốc trong khu vực. Đã có sự tranh cãi chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Cần có sự giải quyết công bằng và Washington cần tham gia” (VietNamNet 20/8/09)
Cùng lúc với việc trải thảm đỏ đón khách quí từng là kẻ đối đầu trong cuộc chiến một thời, báo chí lề phải của Đảng cuối cùng cũng đã lên tiếng về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam phụ họa cho lời minh xác của phát ngôn viên Lê Dũng đang muốn tranh thủ sự đồng tình của dư luận quốc tế về một giải pháp công bằng cho những “lưỡi bò”, “lưỡi rắn” tại Biển Đông.
© 2009 Đỗ Xuân Tê
© 2009 talawas blog
Bình luận
4 Comments (bài “Đỗ Xuân Tê – Gió Biển Đông đã đổi chiều”)
11.7.2008
Theo bài “Nội tình cuộc gặp gỡ Thành Đô của các nhà lãnh đạo Trung – Việt: Nguyễn Văn Linh bỏ qua Nguyễn Cơ Thạch gặp Giang Trạch Dân” công bố trên báo chí Trung Quốc được Lý Nguyên dịch ra Việt ngữ đăng trên talawas ngày 11.7.2008 thì sự việc liên hệ tới hai câu thơ của Giang Trạch Dân (do tác giả Đỗ Xuân Tê trích dẫn) là như sau:
“Sau khi kết thúc gặp gỡ, những người lãnh đạo hai nước ký “Kỷ yếu hội đàm”. Với suy nghĩ sâu xa, Giang Trạch Dân trích dẫn hai câu thơ của nhà thơ Giang Vĩnh đời nhà Thanh: “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại; tương kiến nhất tiếu mân ân cừu” (dịch nghĩa: qua hết sóng gió anh em vẫn còn; gặp nhau cười một cái [là] quên ân oán). Tối hôm đó Nguyễn Văn Linh cũng xúc động viết bốn câu thơ: “Huynh đệ chi giao số đại truyền; oán hận khoảnh khắc hóa vân yên; tái tương phùng thời tiếu nhan khai; thiên tải tình nghị hựu trùng kiến” (tạm dịch nghĩa -vì không có nguyên bản: anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ, trong khoảnh khắc oán hận biến thành mây khói; gặp lại nhau cười rạng rỡ, tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại).”
Bản tiếng Việt © 2008 talawas
Nguồn: Hà Bắc tân văn võng ngày 30/10/ 2007 (theo báo Cuộc sống người già) và http://www.singtaonet.com
Về bài thơ của Giang Trạch Dân
Nguyên văn bài thơ như sau:
人情妄念無兼愛
世事空懷莫共憂
度盡劫波兄弟在
相逢一笑泯恩仇
Phiên âm:
Nhân tình vọng niệm vô kiêm ái
Thế sự không hoài mạc cộng ưu
Độ tận kiếp ba huynh đệ tại
Tương phùng nhất tiếu dận ân cừu
Thông thường, những người am hiểu tiếng Trung lúc đó như Đinh Nho Liêm cũng chỉ hiểu nổi hai câu sau, theo nghĩa nông cạn là một lời hòa giải, nghĩa là “qua sóng gió rồi, nay tình anh emvẫn còn. Ta gặp nhau, cười với nhau một tiếng là xúy xóa hết cái ân cái oán.” Bởi lúc đó các vị lãnh đạo ta gặp Giang ở Thành Đô (không được tiếp ở Bắc Kinh), đã vồ vập và ôm lấy Giang mà bảo đại ý là “… nay Liên Xô đã sụp đổ, phe XHCN chỉ còn anh với tôi nữa mà thôi”. Nên nhớ là sau mấy năm chửi nhau thậm tệ, cạn tàu ráo máng và choảng nhau… nay ta hết chỗ dựa ở LX mà ta thì nông cạn, hiểu biết thấp… còn họ thì rất thâm thúy, mới có cái cảnh này.
Lúc đó, trong một buổi giỗ bà mợ bên ngoại, gặp Đinh Nho Liêm, tôi có bóc tầng ngữ nghĩa thứ hai thứ ba của bài thơ này. Ông ấy cãi. Nay thấy Đỗ Xuân Tê vẫn chỉ dùng hai câu cuối, tuy đa sâu hơn nhưng vẫn theo tầng ngữ nghĩa 1, nên mới xin có đôi lời bàn.
Xin nói: phải hiểu được mấy tầng ngữ nghĩa của những chữ như “nhân tình”, “kiêm ái” (thuyết của Mạc tử), “kiếp ba” là kiếp luân hồi của Phật dài đến 84000 năm và chữ “dận”, ngoài nghĩa là xuy xóa còn có nghĩa là hồ đồ, lẫn lộn… thì ta mới dịch thoát được mấy câu thơ trên.
Hai câu đầu là một lời trách móc, cho rằng anh lầm tưởng là trên đời này không còn tình yêu thương nhau, chung lo với nhau… nặng hơn là lời chửi khéo “mày là đồ vô ơn”…
Hai câu sau vì thế phải hiểu theo thể phủ định:
Vì vậy, “Nay thì còn lâu mới có tình ‘hữu nghị’ như trước kia. Đâu chỉ có thể gặp nhau cười với nhau một tiếng mà có thể hồ đồ, xúy xóa được cái ân cái oán”.
Đấu tranh ngoại giao với TQ mà không hiểu cái thâm thúy của họ thì chỉ bị họ cười thối mũi. Bởi vậy, những cán bộ ngoại giao VN phụ trách ĐNA không thể không biết Hán văn (người TQ hiện nay phần lớn cũng chỉ biết tiếng phổ thông). Nhưng những nước ĐNA như TQ, Triều Tiên, Nhật, VN, Đài Loan, Singapore… thì còn phải chịu cái triết lý Khổng Mạnh, Tôn tử… là “binh khả yếm” còn lâu dài, như nói A mà là B, nói phải là trái, nói có là không… gật là lắc, ký thỏa ước là không ký, đoàn kết là tiêu diệt… lập lờ, giả trá.
Bài học này không chỉ có đối ngoại mà cả đối nội, vì có vẻ như ta đang đi theo quỹ đạo của TQ.
Bệnh viện hạm Hát Giang HQ 400 không tham dự hải chiến Hoàng Sa 1974.
Thiệt hại của hải quân Việt Nam Cộng Hoà, với 4 chiến hạm xáp trận:
Khu trục hạm Trần Khánh Dư – HQ 4: 2 tử trận, 8 bị thương.
Tuần dương hạm Trần Bình Trọng – HQ 5: 3 tử trận, 11 bị thương.
Hộ tống hạm Nhật Tảo – HQ 10: 7 tử trận, 55 mất tích.
Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt – HQ 16: 2 tử trận, 3 bị thương.
Hải kích: 2 tử trận, 3 bị thương.
Tổng kết: 71 tử trận và mất tích, 25 bị thương.
(tham khảo Tuyển tập Hải Sử, Tổng hội Hải quân & Hàng hải 2004).
Xin tri ân những anh hùng vị quốc vong thân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đã bỏ mình để bảo vệ chủ quyền đất nước tại Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988.
Tôi cũng rất mong là gió đã đổi chiều ở Biển Đông như tác giả Đỗ Xuân Tê gợi ý. Tuy nhiên, khách quan và công bằng mà nói, điều mong ước này xem ra khá mong manh. Lý do rất giản dị là, trừ phi ngọn gió đổi chiều được xảy ra trên đất liền từ Nam ra Bắc để thay đổi toàn diện bộ mặt của đất nước, xóa tan những tàn tích lệ thuộc ngoại bang từ nhiều thập niên qua, thổi sạch nỗi nhục đè nặng tâm hồn 85 triệu con dân nước Việt từ đầu thế kỷ này, thì ngọn gió Biển Đông may ra mới đổi chiều được. Còn bằng không tất cả đều chỉ là ảo vọng (hay hão vọng). Bởi vì, để bảo vệ đất biển thiêng liêng của Tổ quốc cần có sự đồng lòng của toàn dân, được lãnh đạo bằng những người vì dân vì nước chứ không thể và không bao giờ thực hiện thành công được qua một nhúm người trong quá khứ đã đang tâm triều cống lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của tổ tiên cho ngoại bang, không phải chỉ mới gần đây thôi, mà mãi từ những năm 1950 (như qua Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 và qua việc mất Ải Nam Quan).