talawas blog

Chuyên mục:

Những bức tường lòng

15/08/2009 | 1:02 sáng | 11 Comments

Tác giả: Tưởng Năng Tiến

Category: Tạp văn, Tổng hợp
Thẻ: >

Khi còn bị phân chia bởi bức tường Bá Linh, dân Ðức hay kể câu chuyện giễu này:

“Có một con chó chui tường từ Ðông sang Tây. Thấy khách lạ nên lũ chó bên Tây Ðức xúm xít lại, tíu tít hỏi thăm:

– Bên ấy có hội bảo vệ súc vật không?

– Có chứ.

– Có bác sĩ thú y không?

– Có luôn.

– Có thẩm mỹ viện và nghĩa trang dành riêng cho chó không?

– Có tuốt.

– Thế thì việc gì đằng ấy phải vất vả chui tường sang đây?

– Tại vì bên ấy chúng cấm không cho… sủa!”

Tháng 11 năm 1989, bức tường Bá Linh bị đập đổ. Dân Ðông Ðức được giải phóng. Từ đây, người được quyền ăn nói tự do, và chó có quyền… được sủa.

Sự thống nhất nước Ðức về thể chế, cũng như về nhân tâm, tuy không phải là một tiến trình toàn hảo nhưng có thể được coi như là ổn thỏa – ngoại trừ đối với một số người. Họ là những di dân đến từ Việt Nam, theo như tường thuật của Alisa Roth – qua bài báo “Bức tường ô nhục vẫn ngăn chia người Việt,” như sau:

“Người Việt vẫn đang là nhóm Á Châu lớn nhất tại thành phố Bá Linh. Những người được mệnh danh là người Việt miền Tây là những người miền Nam Việt Nam, hầu hết là thuyền nhân mà trong những năm tiếp theo chiến thắng 1975 của cộng sản, họ đã đổ đến những vùng bây giờ là Tây Ðức.

“Còn nguời Việt miền Ðông là những nguời đến Ðông Ðức vào thập niên 1960 và 1970 cùng với các công nhân xuất khẩu từ những quốc gia cộng sản đang phát triển tới làm việc trong các nhà máy…”

“… Cái cộng đồng nhỏ bé này hãy còn duy trì sự chia cắt với hai thế giới, hai phương trời cách biệt. Những ý thức hệ – từng xé nát nước Ðức và nước Việt Nam ra làm đôi – hiện vẫn còn luân lưu mạnh mẽ tại nơi đây…”

Nó “mạnh mẽ” tới độ khiến một người dân bản xứ phải thốt lên rằng:”Bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây còn cao hơn cả bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức.” (“Berlin’s Divide Lingers For Vietnamese Expatriates Capital’s East – West Gap Reflects Cold War Past,” San Jose Mercury News, 12 Jul. 2002:A1/ Việt Mercury 12 Jul. 2002: 1 + 69. Trans. Nguyễn Bá Trạc”).

Nói như thế, nghe đã phũ phàng nhưng (vẫn) chưa… hết ý! Trong cuốn Tổ quốc ăn năn của Nguyễn Gia Kiểng – ấn bản 2001, Paris, nơi trang 70 – tác giả còn trích dẫn nhận xét của một người ngoại quốc khác về dân Việt – như sau: “Ils ne s’aiment pas” (Chúng nó không ưa nhau đâu).

Cha nội Parisien nào đó nói bậy bạ vậy mà… trúng phóc. Những phương tiện truyền thông và giao thông của thời hiện đại quả có làm cho trái đất nhỏ lại, và khiến cho loài người gần gũi với nhau hơn. Nhưng riêng với với dân Việt thì không. Nhất định là không.

Người ngoài có vẻ “hơi” ngạc nhiên về thái độ “rất kém thân thiện” của dân Việt đối với nhau, trên bước đường lưu lạc. Họ sẽ ngạc nhiên chết (mẹ) luôn nếu biết rằng những “bức tường ô nhục” tương tự hiển hiện khắp chốn, kể cả ở Việt Nam, chứ chả riêng chi ở Berlin.

Dù đất nước đã “thống nhất” hơn một phần tư thế kỷ, dân chúng giữa hai miền Nam/Bắc Việt Nam (rõ ràng) vẫn chưa gần nhau mấy. Đôi lúc, họ ăn ở cư xử với nhau cứ y như những kẻ phải sống trong một cuộc hôn nhân… cưỡng bách vậy.

Theo “truyền thống,” người Việt hay chia phe và họ thường nhìn nhau qua những “lỗ châu mai” từ những “pháo đài” của… phe mình. Họ hay gọi nhau là “tụi này” hay “tụi nọ” (tụi Công giáo, tụi Phật giáo, tụi Nam Kỳ, tụi Bắc Kỳ, tụi Trung Kỳ…). Gần đây, có thêm một “tụi mới” nữa – tụi… Bắc Cộng!

Và đó mới chỉ là những chuyện nhỏ, ở miền xuôi. Ở miền ngược, miền núi, hay còn gọi là miền cao, miền sơn cước (hoặc cao nguyên) thì còn nhiều chuyện… kỳ cục dữ nữa. Nơi đây, một phần dân tộc Việt vẫn chưa được nhìn nhận là người thường hay người Thượng. Họ bị coi là… “tụi mọi” và bị chính đồng bào mình (toa rập với cường quyền) cướp đoạt hết đất đai canh tác.

Nghèo đói quá hoá “sảng” chăng? Khổ cực quá, cùng quẫn quá, bị chèn ép quá nên đâm ra gấu ó, cấu xé lẫn nhau chăng? Không hẳn đã thế đâu.

Tại nước Ðức, ngay giữa một thành phố tự do và phú túc, “bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây (vẫn) còn cao hơn bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức” mà. Hơn nữa, như đã thưa, những bức tường lòng (ô nhục) tương tự hiển hiện ở khắp nơi chứ đâu có riêng chi ở Berlin.

Nơi đâu có người Việt quần tụ là tức khắc nẩy sinh những chuyện  đố kỵ, chia cách, phân hoá, và đánh phá lẫn nhau túi bụi. Mỗi cộng đồng vẫn thường cần đến hơn một ban đại diện (dù tất cả những ban đại diện “dường như” không đại diện được cho bất cứ ai và cũng không mấy ai – thực sự – cần người đại diện).

Tương tự, mỗi hội đoàn đều có tới hai hay ba ông (bà) chủ tịch, dù cả hội đoàn đều không mấy ai biết rõ là họ hội họp lại với nhau để làm gì. Mọi tổ chức (không chóng thì chầy) nếu không vỡ tan tành thì cũng bể thành vài mảnh!

Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, loài cừu không trở nên bầy đàn được. Cái khó của những cộng đồng người Việt hải ngoại là họ có dư loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là… chó dại!

“Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và bất lợi không lường này, đang diễn tiến kết thành hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt, chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng đồng người Việt ” (Phan Nhật Nam, “Lời khẩn thiết nhằm chấm dứt hiện tượng phân hoá”). Cũng theo tác giả bài báo vừa dẫn thì Cục Tình báo Hải ngoại, trực thuộc Ban Tổ chức Trung ương Ðảng Cộng sản Hà Nội, là nguyên nhân gây ra những hiện tượng phân hoá tiêu cực kể trên.

Những nhân viên của Cục Tình báo Hải ngoại e không tài ba đến thế. Chợ chiều rồi. Chúng nó (nếu có) cũng chỉ lo đánh quả mà thôi và chuẩn bị để chạy thôi.

Thủ phạm không đến từ bên ngoài. Chúng phục sẵn trong “thâm tâm” của tất cả chúng ta.

Khi còn nhỏ, tôi nhớ là đã đọc ở đâu đó – qua lời kể của Schopenhauer – một câu chuyện ngụ ngôn mà nội dung (đại khái) như sau:

Có một mùa Ðông lạnh đến độ muốn tồn tại muôn loài đều phải xích lại thật gần nhau để truyền cho nhau hơi ấm. Chỉ riêng có loài nhím vì lông quá nhiều, quá nhọn và không cách nào thu lại được nên đành… chờ chết!

Dân Việt đang trải qua một mùa Ðông khắc nghiệt. Nếu chúng ta không vượt qua được những bức tường lòng hiện hữu, không xếp lại được những lông nhọn tua tủa tự mỗi người, và mọi phe nhóm đều nhất định “tử thủ” trong pháo đài của riêng mình thì (e) khó mà qua khỏi đuợc cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là mùa Ðông sẽ kéo dài vô tận mà vì đất nước (cũng như lòng người) sẽ bầm dập, te tua, và tan nát, tanh bành – sau đó.

Tưởng Năng Tiến

Bình luận

11 Comments (bài “Những bức tường lòng”)

  1. Thuỷ Vũ viết:

    Bởi vì các nước ấy có Tiền và có Quyền.

    Còn người Miền Nam nước Việt cũ có cái gì đâu mà nhà cầm quyền Việt Nam phải lưu tâm tới. Cần gì mà phải HÒA GIẢI với người VNCH.

    Cứ xem cách ứng xử của nhà cầm quyền Việt-Nam thì sẽ thấy.

    Tượng đài thuyền nhân VN ở Galang đã bị phá:

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2005/06/050615_boatpeoplemonument.shtml

    Malaysia axes boat people marker
    http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/4094370.stm

  2. Đỗ Xuân Tê viết:

    Truyện “Một cỗ xe trâu” của ĐXT mới đây có đoạn viết: “Người Việt mình ít khi nghĩ đến chuyện thống nhất, mà hay coi nhau như những kẻ nội thù. Từ ngày huyền thoại năm mươi trứng theo cha lên núi, năm mươi con theo mẹ ra khơi, rồi tích cổ Sơn tinh, Thủy tinh đất tràn núi lở, mẹ Việt Nam có lúc nào yên. Đến khi đi vào chính sử thì Lý Trần lại thanh toán nhau, Trịnh Nguyễn xua đuổi nhau, Nam kỳ Bắc kỳ chia rẽ nhau, cuối cùng quốc gia cộng sản tiêu diệt nhau để ba mươi năm nội chiến từng ngày, kết cuộc bây giờ anh em mình con cháu mình lãnh hậu quả âu cũng là do vận nước.”

    Ấy vậy mà sau ba mươi năm tàn cuộc chiến, TNT vẫn còn phải than thở qua NHỮNG BỨC TƯỜNG LÒNG. Âu cũng là do “vận nước”!

  3. Nam Phan viết:

    Nguyên nhân, nếu được kể ra, thì vô thiên lủng, đại để:

    – Văn hoá làng xã: đời sống cư dân quá gắn bó, thâu hẹp sau lũy tre, kinh tế thì nông vi bản lại manh mún làm phát sinh nhiều xấu hơn tốt như tranh chấp, ganh ghét giữa dòng tộc, giàu nghèo, chiếu trên chiếu dưới, dân bản địa với người ngụ cư…( một mảng văn học thời tiền chiến, nhất là ở miền Bắc, đã phản ánh thực trạng này).

    – Chính sách của thực dân Pháp: Ai đời một nước chia ra làm ba kỳ với 3 chính sách cai trị khác nhau, khuyến khích sự phân biệt, ưu đãi những người cộng tác với Pháp, triệt hạ thành phần chống lại hoặc không cộng tác gây mâu thuẫn… (cộng thêm sự đi lại, giao tiếp hạn chế giữa các miền đất nước làm cho sự hiểu biết, thông cảm nhau càng thu hẹp). Đặc biệt ở miền Nam, hình thành một tầng lớp “dân Tây” coi những thành phần còn lại là kém văn minh. Bọn “bản xứ” chửi lại “dân Tây” là chó Tây…

    – Hoạ cộng sản: đây là nguyên nhân lớn nhất và để lại nhiều tác hại nhất do đấu tranh giai cấp mà ra, đảo lộn nề nếp đạo lý, văn hoá… dùng giai tầng thấp kém nhất trong xã hội để lãnh đạo xã hội, gây mất niềm tin, tạo thù oán… Đặc biệt khi CS thống trị cả nước, chính sách, chủ trương của giới lãnh đạo một phần “vô tình” thoả mãn mặc cảm tự ti nghèo đói, dốt… (bần nông lên làm ông), mặc cảm tự tôn anh hùng, chính nghĩa… của tầng lớp người dân phía chiến thắng càng làm cho hố ngăn cách trong lòng dân tộc thêm sâu sắc.

    Tôi không dám chắc, nhưng có thể hy vọng, nếu miền Nam thắng, lòng thù hận sẽ ít hơn và không dai dẳng lắm, căn cứ vào tâm lý con người (ít mặc cảm), cũng như yếu tố kinh tế tạo nên bản chất con người miền Nam (xuề xoà, ít tranh đua và cũng ít thù dai…)

    Đấy, lại vô tình rơi vào sự “chia rẽ” ba miền, dù rằng người viết đã không dám kể xấu hai miền kia. Rõ là vô thức với những định kiến, thiên kiến (xấu) nó mai phục đâu đó chỉ chờ dịp lộ diện.

    Tội nghiệp cho dân mình, thế mà khi có người nhìn xa trông rộng, đề xướng khai dân trí thì đại đa số coi là chuyện nhỏ. Thật đáng trách!

  4. Bắc Phong viết:

    ngoài bệnh bị bướu ego
    tim ta còn mắc bệnh ngờ kinh niên
    lại thêm xã hội đảo điên
    cho nên khó vượt đương nhiên tường lòng

    thôi cố tìm những điểm chung
    lúc có cơ hội ngồi cùng với nhau
    cái hố chia rẽ đừng đào
    thì mình tránh khỏi rớt vào thế thôi

    thực ra ngắn lắm kiếp người
    tranh nhau rồi cũng về nơi huyệt nằm
    tôi ngồi tự nghĩ nguyên nhân
    chữ nhẫn là chữ khó khăn học hoài

    sống như ốc đảo có ai
    chúng ta liên hệ người này người kia
    làm sao lông nhím nhổ đi
    không lẽ chịu chết chỉ vì sợ đau

  5. maida viết:

    Thở than về chuyện “Những bức tường lòng” là muốn những chú nhím xếp lông lại nằm chung với nhau nhưng cái khổ là “chính quyền” đang làm ngược lại! Cứ xem chuyện mới nhứt ở Tam Tòa hay Bát Nhã sẽ rõ. Ai chủ trương đánh ai và ai can thiệp để giải quyết và giải quyết kiểu nào?

    Nên, nếu đặt câu hỏi “Trước cuộc chiến Quốc-Cộng người Việt có ‘bức tường lòng’ hay không?” thì dễ tìm ra nguyên nhân. Khi đã thấy nguyên nhân mới hy vọng những chú nhím tự động xếp lông. Còn phán “phải xếp lông” thì ai ra lệnh? Cái khổ là người ra lệnh đang thích ngược lại. “Phải xù lông, càng xù nhiều càng tốt!” Vì, để dân tình xếp lông nằm sát nhau, hóa ra tự hủy “chính quyền” sao?

  6. Tôn Nguyễn viết:

    Những “bức tường lòng” không những có ở trong nước lẫn ngoài nước, Bắc-Trung-Nam, quốc gia-cộng sản như tác giả Tưởng Năng Tiến đã mô tả mà có lẽ còn xuất hiện ngay trong dòng họ thân thích, anh chị em ruột thịt của người Việt nữa.

    Chúng ta có lẽ đã thua nhiều dân tộc khác thí dụ Nhật, Do Thái, TQ… ở điểm then chốt này.

  7. Thiên Nga viết:

    Tôi không dám nói người Việt hải ngoại ở những nước khác thế nào, nhưng ở xứ (tự mệnh danh là) của thi nhân và triết nhân vùng Trung Âu này thì tôi nghĩ “thủ phạm” kia đúng là đang trụ chặt trong thâm tâm thật. Mà hắn bản lãnh lắm, lại bất khuất kiên cường, nhất định trường kỳ kháng chiến cho nên đến nay đã tròn 20 năm mà có vẻ vẫn chưa mất đi chút tinh thần chiến đấu nào cả. Tệ hại nhất là hắn còn lây nhiễm, cấy nọc sang cả các thế hệ thứ hai và sau đó nữa. Và chẳng khác chi vi trùng cúm… lạ, hắn còn biết biến đổi thành thiên hình vạn trạng rất tài tình. Bớt phát tán ra tay chân hay ít nhất là miệng mồm như trong những buổi đầu, hắn chuyển sang gây dị ứng về lời ăn tiếng nói, cung cách hành xử, ngay cả với các món ăn hay …nước chấm. Mà chẳng phải chỉ ở Berlin, nơi từng mang vết nhơ của bức tường đã đổ đâu, ngày xưa tôi tận mắt thấy người ta xua đuổi một số bà con ra khỏi một ngôi chùa ở Bắc Đức với một lý do mà điều 3(c) của hiến pháp xứ sở tại nghiêm cấm, ngày nay thì ở một ngôi chùa ở Nam Đức người ta đang bàn treo ngay một lá cờ (không liên quan chi đến Phật giáo) ở chính điện.

    Cho nên không chừng một mùa Đông cực kỳ khắc nghiệt mới mong tiêu diệt được “thủ phạm” này (cùng với những trú thân cưu mang hắn), và hy vọng là vài con nhím miễn nhiễm biết thu lông cuộn tròn sưởi ấm cho nhau sẽ gầy nên được giống mới sau mùa đại nạn.

  8. Huy Tử viết:

    ÔI THÔI BẠN GIÀ ƠI!

    Ôi thôi bạn già ơi,
    Chuyện dài người Việt đã thế rồi,
    Nói ra thì dễ thôi,
    Cách nào để thoát khỏi, thật khó bằng trời
    Có ai nhắc nhở cho chúng tớ đôi lời,…

    Tưởng rằng chúng ta, người Việt Nam,
    Ví như những hột xoàn,
    Có khuynh hướng tách ra từng hột nhỏ nhoi,
    Và tự lấp lánh mỗi nơi,

    Ôi, mình là hột xoàn mà!
    Vinh hoa, phú quý,… phải không hà!

    Huy Tử, S&FR,…

  9. Phùng Tường Vân viết:

    (@mỗi hội đoàn đều có tới 2 hay 3 ông bà chủ tịch)
    Ở quê hương bây giờ người ta quý ghế lắm,
    Họ gìn giữ bảo vệ nó hơn giữ mả tổ
    (chẳng thấy sao:
    bao nhiêu kẻ bòn rút dưới gầm bàn
    về xây những tổ mộ, tổ đình to tướng)
    Nhưng ở xứ người, cái ghế có quý hóa nỗi gì
    Bạc tiền chẳng có chi
    mà cái danh thì tào lao, hão huyền
    họa chăng chỉ có cơ hội nói huyên thiên
    chẳng ai buồn nghe
    vậy sao mà ham hố khổ thế.

  10. Nguyễn Mai Sơn viết:

    @ Tưởng Năng Tiến:
    – “Bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây (vẫn) còn cao hơn bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức”.
    >> Sống trên nước Đức mà sự “ghen ngược” còn cao hơn cả người Đức. Điều đó chứng tỏ lòng thù hận của người Việt là đáng (“thán” phục).

    – “Nơi đâu có người Việt quần tụ là tức khắc nẩy sinh những chuyện đố kỵ, chia cách, phân hoá, và đánh phá lẫn nhau túi bụi. Mỗi cộng đồng vẫn thường cần đến hơn một ban đại diện (dù tất cả những ban đại diện “dường như” không đại diện được cho bất cứ ai và cũng không mấy ai – thực sự – cần người đại diện)”.
    >> Câu trên bổ sung ý nghĩa cho câu dưới. Vì “ta là một là riêng là thứ nhất”… “Ta” chỉ cần những đại diện “nghĩ”, “nói” và “làm” giống ta thôi, như đầu óc ta đã nuôi dưỡng và tôn sùng sự “đố kỵ, chia cách, phân hoá, và đánh phá lẫn nhau túi bụi”, vì khác ta là không có “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “công lý”, “hoà bình” gì ráo chọi. Tất cả những “đại diện không thể đại diện cho bất cứ ai được” vì họ chưa thực sự làm đại diện đúng nghĩa cho những mỹ từ đó. Bởi khi họ từng, đang “đại diện”, nhiều người thấy những khái niệm cao đẹp trên lại vô cùng xa xỉ với họ. Họ cũng tích cực “bịt miệng” người khác không kém bằng những từ “phản động”, “Hán gian”… và cả công cụ “lề trái”, “lề phải”. Đó chẳng phải dấu hiệu sự lặp lại của những chu kỳ “phát triển”, “khủng hoảng” và “suy thoái” trong tư tưởng loài người là gì?

    – “Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, loài cừu không trở nên bầy đàn được. Cái khó của những cộng đồng người Việt hải ngoại là họ có dư loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là… chó dại!”.
    >> Không biết khi sử dụng câu ngạn ngữ này, người Nga có muốn bổ sung thêm nhiều “cho săn” để “cừu” có tâm lý bầy đàn hay không? Còn người Việt thì “có dư”, liệu có cần giảm đi hay không? Ông Tưởng Năng Tiến cho biết đó là “chó dại” vậy thì rất đáng quan ngại, điều trước tiên là nên sử dụng “biện pháp tránh thai” để tránh cho “người mẹ”, nếu “người mẹ” nào bị lây rồi thì phải tiêm thuốc ngừa để tránh lây từ “mẹ” sang “con”…

    – “Dân Việt đang trải qua một mùa Ðông khắc nghiệt. Nếu chúng ta không vượt qua được những bức tường lòng hiện hữu, không xếp lại được những lông nhọn tua tủa tự mỗi người, và mọi phe nhóm đều nhất định “tử thủ” trong pháo đài của riêng mình thì (e) khó mà qua khỏi đuợc cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là mùa Ðông sẽ kéo dài vô tận mà vì đất nước (cũng như lòng người) sẽ bầm dập, te tua, và tan nát, tanh bành – sau đó”.
    >> Việt Nam đã “chơi” được với Pháp và Mỹ (kẻ thù số một) và “chơi” được cả với Trung Quốc (kẻ thù lâu dài và thường trực). Nhưng không thể chơi được với “người Việt” (chống Cộng – phần lớn là của Việt Nam Cộng Hoà cũ hay những người có tư tưởng “xét lại đại diện” nên bị xa thải, ghẻ lạnh…). Khi “chơi” thì ca ngợi, khi “thù” thì bới bèo ra bọ. Đó mới là “định luật nghìn thu”.
    >> Tưởng Năng Tiến: Chơi được hay không chơi được không liên quan gì đến bộ lông nhím tua tủa gai nhọn mà là “bức tường lòng (người)” mà người ta có biết xếp lại hay không những gai nhọn ấy. Nhưng ai là người “xếp đi” gai nhọn bên ngoài, khi cái gai nhọn ở trong lòng còn sắc nhọn và lợi hại hơn bất kỳ thứ “giết người” nào khác?
    >> Mong mỏi người Việt thôi “bầm dập, te tua, và tan nát, tanh bành” trên đất nước Việt Nam nói chung hay trên diễn đàn này nói riêng có thể vẫn bị xem là một thái độ “lạc quan tếu”. Thù hận là “mục đích sống” nếu bỏ cái đó đi chỉ e một số người sẽ buồn bã bỏ ăn, bệnh nặng và mất mạng. Ôi thôi “lòng người”!

  11. vantruong viết:

    Hề hề, four-letter word: THUA

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>