Trương Nhân Tuấn – Vấn đề Biển Đông: Việt Nam đã hứa hẹn điều gì với Trung Quốc? Hệ quả và trách nhiệm
28/07/2009 | 12:52 chiều | 9 Comments
Category: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Dương Danh Dy > Hồ Chí Minh
Trong bài phỏng vấn ông Dương Danh Dy của RFA «Điều gì đang xảy ra trong bang giao Việt-Trung?», ký giả Mặc Lâm đặt câu hỏi, ông Dương Danh Dy trả lời, nội dung phần trả lời có vài điều đáng chú ý như sau:
Mặc Lâm: Dư luận cho rằng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc đã viện trợ cho Miền Bắc rất nhiều và có lẽ sự trợ giúp quân sự này đã khiến cho Hà Nội tỏ ra quá mềm yếu trong khi đàm phán về biên giới giữa hai nước, phải không ạ?
Ông Dương Danh Dy: Bây giờ cũng không thể kết tội ai được bởi vì nó là chuyện lịch sử rồi. Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả.
Tôi xin nói thật, tôi đã từng đi điều tra biên giới trên bộ nhiều lần và tôi thấy có những cái đúng là sự ngây ngô khờ dại, có những cái do lúc bấy giờ người ta giúp mình nhưng mà mục đích là đưa hàng hoá sang nhanh chẳng hạn.
Như tôi nói làm một con đường đi qua lãnh thổ của Trung Quốc thì là phải qua đèo cao, thế thì đi vòng chân đồi mở rộng sang chỗ đường bằng phẳng đi vòng trên đất nước Việt Nam thì đường ô-tô dễ đi. Lúc không có chuyện thì không sao, nhưng bây giờ anh nói đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy.
Thế là mình mất toi mấy chục hecta trở lên. Làm thế nào được! Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân. Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi.
Như thế những hứa hẹn của Đảng CSVN về Biển Đông với Trung Quốc không còn là đồn đại hay nghi vấn. Ông Dy là viên chức cao cấp ngành ngoại giao của chế độ, theo giới thiệu của RFA, ông Dy là «một nhà ngoại giao kỳ cựu có nhiều chục năm làm việc tại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc». Ông Dy có đầy đủ tư cách của nhân chứng. Lời nói của ông Dy khả tín: Đảng CSVN có một số điều hứa về Biển Đông với Trung Quốc.
Điều đáng tiếc, ký giả Mặc Lâm đã không hỏi tới để biết «các điều hứa» đó là các điều gì? Ông Dương Danh Dy đã nói rằng ông «biết rất rõ» các điều hứa đó. Biết rất rõ, nếu hỏi thì sẽ nói thôi!
Về những trường hợp mất đất trên đường biên giới, ông Dy cũng đã nói một cách rất rõ ràng: mất đất cho Trung Quốc là việc có thật. Ông có kể trường hợp ông là người đi giám sát một địa điểm trên biên giới và xác nhận có mất đất. Có thể ông Dương Danh Dy còn biết các địa điểm khác mà đất của Việt Nam bị mất cho Trung Quốc?
Cũng vậy, ký giả Mặc Lâm đã không hỏi tiếp ông Dy để biết vùng đất bị mất đó ở đâu? Mất chính xác là năm nào? Còn các vùng đất nào khác không? Nếu còn thì các vùng đó ở đâu?
Nói theo ngôn ngữ bình dân thì ông Dy đã «đưa banh» vào chân ký giả Mặc Lâm, nhưng ông này không «sút» vào lưới. Có lẽ do vấn đề kỹ thuật, phỏng vấn trên một «plan» có sẵn nên không đặt những câu hỏi ngoài lề. Những gút mắt về chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam và Trung Quốc đã có thể bạch hóa nếu ký giả đặt thêm vài câu hỏi phụ.
Ký giả Mặc Lâm xem ra mắc nợ với độc giả RFA, mà tôi là một, một buổi phỏng vấn bổ túc ông Dương Danh Dy để khai thông các điều đáng lẽ ông Dy có thể nói. Xin cám ơn trước ký giả Mặc Lâm.
Một ý kiến của ông Dương Danh Dy có thể gây tranh luận trong giới học giả Việt Nam, về các lời hứa với Trung Quốc về Biển Đông, ông nói rằng: «Bây giờ cũng không thể kết tội ai được bởi vì nó là chuyện lịch sử rồi».
«Chuyện lịch sử» là chuyện thế nào? Phải chăng những người hứa hẹn đã không còn nữa?
Cá nhân tôi nghĩ rằng vấn đề không đơn giản như thế. Có nhiều việc cần phải soi sáng. Thí dụ: nội dung các hứa hẹn đó là thế nào? Hình thức ra sao (thỏa ước mật, công hàm xác nhận hay một hình thức giao kèo nào đó…) giữa lãnh đạo Đảng CSVN với lãnh đạo Đảng CS Trung Quốc hay là giữa đại diện quốc gia với đại diện quốc gia? Tùy theo hình thức của các hứa hẹn mà hiệu lực của chúng có ràng buộc hay không.
Tôi không nghĩ về chuyện «kết tội ai» mà ông Dy đã nói ra. Không ai có thể lấy tư cách cá nhân để luận tội ai. Đây là lãnh vực của pháp lý và lịch sử. Điều quan trọng, theo tôi, là hiệu lực pháp lý của các «hứa hẹn» đó sẽ thể hiện như thế nào? Các hứa hẹn này có (còn) ràng buộc quốc gia Việt Nam hay không? Việc bạch hóa do đó trở thành việc cấp bách. Chúng ta phải biết rõ hình thức và nội dung của các hứa hẹn này thì mới có thể có một thái độ tương ứng.
Về trách nhiệm pháp lý, e là việc này chỉ xảy ra ở một đất nước có một nền pháp lý vững chắc. Hiện nay luật gia Cù Hà Huy Vũ đâm đơn kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà không biết tòa án nào có thẩm quyền. Vấn đề «trách nhiệm pháp lý» do đó sẽ không có hy vọng gì được thiết lập trong tương lai gần.
Về trách nhiệm lịch sử của các «nhân vật lịch sử» là công việc của sử gia. Tôi không dám nhân danh «sử gia» để làm việc này. Ở đây chỉ xin đưa ra một vài dữ kiện liên quan và đưa ra kết luận chủ quan của mình. Mọi người đọc và tự có kết luận.
Theo các tài liệu do chính Đảng CSVN công bố, từ năm 1954, đã rất nhiều lần Trung Quốc lấn đất của Việt Nam. Nhà nước CSVN đã xuất bản cả cuốn sách để nói đến việc này, như cuốn Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc do NXB Sự Thật in năm 1979. Nhưng chúng ta chưa bao giờ nghe các lãnh đạo của Đảng CSVN lên tiếng bình luận về việc này. Chỉ đến năm 1979, tức lúc bắt đầu có xung đột với Trung Quốc, thì chúng ta mới thấy rải rác một số tài liệu xuất hiện, tố cáo Trung Quốc chiếm đất, chiếm đảo của Việt Nam, cuốn sách dẫn trên là một thí dụ. Nếu không có xung đột 1979, chắc chắn công chúng sẽ không bao giờ nghe nói đến việc việc mất đất.
Nhưng những phản đối của nhà nước CSVN từ 1979 đến nay cho thấy không có hiệu quả gì. Hiệp ước về biên giới trên đất liền ký năm 1999 là bằng chứng cụ thể.
Theo tài liệu đã dẫn trên, biên giới vùng Nam Quan đã thay đổi từ năm 1955. Cột mốc 18 xác định biên giới tại Nam Quan đã bị phía Trung Quốc «ủi nát» và lấn về Việt Nam trên 400 m. Ðoạn nối đường rầy cũng bị Trung Quốc lấn 300 m. Thác Bản Giốc, đất vùng Trình Tường thuộc Hải Ninh, Trà Lĩnh, Bảo Lạc thuộc Cao Bằng, đất xã Bảo Lâm thuộc Lạng Sơn, nhiều khu vực mỏ quan trọng trên vùng biên giới v.v… cũng bị bị mất từ thập niên 50. Riêng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhà nước CSVN, qua Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc vào năm 1958.
Những phản đối của nhà nước CSVN từ năm 1979 đã không thành công đòi lại lãnh thổ bị mất. Hiệp ước đã ký năm 1999 thực ra chỉ nhằm hợp thức hóa những vùng đất đã bị Trung Quốc chiếm. Các tuyên bố của quí ông Lê Công Phụng, Vũ Dũng… trong thời gian qua cho ta thấy điều đó. Nam Quan, Bản Giốc v.v…
Phải chăng đây là hậu quả của các hứa hẹn, như ông Dương Danh Dy đã nói, ghi lại ở trên?
Những vùng đất chúng ta biết bị mất cho Trung Quốc có lẽ chỉ là phần nổi của một băng đảo. Khi các bản đồ của Hiệp ước 1999 được công bố, ta sẽ thấy có thêm bao nhiêu đất bị mất.
Về «trách nhiệm», ai là người có trách nhiệm trong việc để mất đất này?
Những vụ mất đất và có thể cả mất hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa cùng với vùng biển của chúng đã xảy ra dưới thời ông Hồ Chí Minh. Chắc chắn ông Hồ có tránh nhiệm phần lớn. Bây giờ ông Hồ đã mất. Trách nhiệm đó gọi là trách nhiệm lịch sử.
Về Biển Đông, ông Dương Danh Dy đã nói rất rõ: «Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả.»
Công hàm của ông Phạm Văn Đồng là một trong những điều hứa.
© 2009 Trương Nhân Tuấn
© 2009 talawas blog
Bình luận
9 Comments (bài “Trương Nhân Tuấn – Vấn đề Biển Đông: Việt Nam đã hứa hẹn điều gì với Trung Quốc? Hệ quả và trách nhiệm”)
Kính mời quý vị đọc bài dưới đây của ông Dương Danh Dy để biết thêm quan điểm của ông về liên hệ Việt Nam – Trung Quốc. Cá nhân tôi không đồng ý với ông trên khá nhiều điểm:
Vài suy ngẫm về Trung Quốc (Dương Danh Dy)
Gửi ông Trương Nhân Tuấn:
Đọc bài của ông tôi không bức xúc vì những gì còn ẩn khuất đằng sau bài trả lời phỏng vấn của ông Dương Danh Dy, mà tôi thấy bức xúc vì cách quy chụp, giọng văn hằn học của ông.
Các vấn đề về Biên giới, Hải đảo, Công hàm của ông Phạm Văn Đồng… được thảo luận và phân tích nghiêm túc, rất kỹ, kèm theo các tài liệu, bản đồ… trên các trang
mạng: http://ttvnol.com; http://hoangsa.org…
Xin ông và các quý vị độc giả hãy chịu khó vào đó đọc và tranh luận xem.
Tôi nghĩ, Trương Nhân Tuấn không nên “đoán mò”, speculate như vậy được (quan hệ huyết thống) vì:
1) Không công bằng cho người mình đang đối thoại
2) Lạc đề, không cần thiết và ăn nhậu gì đến đề tài đang được nói tới!
3) Không được đúng đắn cho lắm
Talawas như là một sân chơi đá banh, đối phương có thể tìm hiểu nhau về kỹ thuật, sảo thuật của nhau mà không cần thiết phải khai ra lý lịch gia đình. Ép, dụ, tò mò, khiêu khích hay chỉ là một câu hỏi lễ phép đi nữa về quan hệ huyết thống, thiết nghĩ, cũng không nên có.. very unprofessional!
Xin chào các bác
Phần lớn những gì tôi biết đều đã được công bố. Tôi không có dữ kiện gì về “mật sử”.
Tôi cũng nghĩ là CPVN cần để các nhà luật học VN nghiên cứu xem có v/d nào có thể gây khó khăn pháp lý thế nào cho VN.
Còn công bố thông tin thế nào, thế nào là để “bảo vệ Đảng”, thế nào là để “tránh TQ lợi dụng” (mà rất có thể là TQ cũng có những thông tin đó rồi), thì cũng là một vấn đề.
Và tôi cũng ao ước là ông Võ Nguyên Giáp viết vài bứi thư về HSTSBD, như ông đã viết về vụ bô xít.
Có thể tôi thiên vị, nhưng tôi nghĩ v/d HSTSBD quan trọng hơn và nguy trọng hơn v/d bô xít nhiều.
Tôi chưa già mà lẩm cẩm rồi : Dương Danh Huy, Nguyễn Quang Duy, xin được sữa lại cho đúng. Các bác thứ lỗi tại vần uy nhiều quá.
Thưa bác Nguyễn Quang Duy và bác Hoàng Trường Sa,
Tôi vừa được hồi đáp của RFA, theo đó tôi biết được ký giả Mặc Lâm có hỏi ông Dương Danh Dy về các việc này nhưng ông Dy không thể trả lời « vì lý do an ninh bản thân ». Ký giả Mặc Lâm là một ký giả lão luyện, làm thế nào mà không thấy ? Ông không thể « sút » trái banh này vô lưới là do kỹ thuật ngoài ý muốn.
Tôi cũng có ý như bác Nguyễn Quang Huy, có thể ông Dương Danh Dy và anh Dương Danh Duy có quan hệ huyết thống. Hổ phụ sinh hổ tử, hy vọng anh Huy sẽ thay cha bạch hóa các việc này.
“Những vụ mất đất và có thể cả mất hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa cùng với vùng biển của chúng đã xảy ra dưới thời ông Hồ Chí Minh. Chắc chắn ông Hồ có tránh nhiệm phần lớn. Bây giờ ông Hồ đã mất. Trách nhiệm đó gọi là trách nhiệm lịch sử.” (Trích lời tác giả Trương Nhân Tuấn)
Hoàn toàn đồng ý với bác TNT là ông Hồ chịu trách nhiệm LỚN NHẤT trong việc mất đất mất biển của Tổ tiên vào tay TQ.
Điều mà tôi buồn nhất là việc ông Hồ đã để mất Ải Nam Quan vào năm 1956 chỉ hai năm sau ngày giành được nửa nước từ tay thực dân Pháp vào năm 1954. Điều oái oăm và chua xót nhất là ông Hồ đã suýt làm mất luôn đảo Bạch Long Vĩ khi ông đem giao đảo này cho TQ quản lý hộ ngay khi chiếm được Miền Bắc năm 1954 như được thú nhận trong tài liệu “THE HOANG SA (PARACEL) AND TRUONG SA (SPRATLY) ARCHIPELAGOES AND INTERNATIONAL LAW” xuất bản bởi MINISTRY OF FOREIGN AFFAIRS SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM, HANOI — APRIL 1988 (trang 23):
“Vietnam, trusted China in all sincerity and believed that after the war all territorial problems would be suitably resolved between those who were “at the same time comrades and brothers”.
During the war of resistance against the French, in 1949 the Vietnamese armed forces drove the Kuomintang troops out of Chusan (Chinese territory), liberated this region and handed it over to the Chinese People’s Liberation Army afterwards. In the same spirit, entitled to take over Northern Vietnam under the 1954 Geneva Agreements on Indochina, the Vietnamese Government asked China to administer on Vietnam’s behalf Bach Long Vi Island in the Bac Bo (Tonkin) Gulf and then regained its administration over the island in 1957.
Vietnam put so much confidence in China that when the latter helped Vietnam to reconstruct the railway between Hanoi and Dong Dang, the Vietnam Railway Board even accepted a document saying that the point of junction of the two countries’ railways would go “beyond the national border line” as far as 316 meters into Vietnamese territory in comparison with the official border line between the two countries as was defined in the May 25, 1955 Sino-Vietnamese railway agreement.”
Tạm dịch ra Việt ngữ như sau:
“Việt Nam tin tưởng vào Trung Quốc với trọn lòng thành và tin rằng sau khi cuộc chiến kết thúc mọi vấn đề về lãnh thổ sẽ được giải quyết thích đáng giữa những người “vưà là đồng chí vừa là anh em” với nhau.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, vào năm 1949 quân đội Việt Nam đã đánh bật quân đội Quốc Dân Đảng ra khỏi núi Chusan (thuộc lãnh thổ Trung Quốc), giải phóng vùng này và sau đó trao lại cho Giải Phóng Quân Trung Quốc. Cũng trong tinh thần này, khi được Hiệp Định Genève về Đông Dương giao cho tiếp thu Miền Bắc Việt Nam, thì Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc quản lý hành chánh giùm đảo Bạch Long Vĩ trong Vịnh Bắc Bộ thay cho Việt Nam và sau đó đã lấy lại quyền quản trị đảo vào năm 1957.
Việt Nam đã đặt lòng tin vào Trung Quốc đến độ khi Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng lại tuyến đường sắt giữa Hà Nội và Đồng Đăng, Cục Đường Sắt Việt Nam đã chịu ký nhận một văn bản nói rằng chỗ tiếp giáp của hệ thống đường sắt của hai nước sẽ đi sâu “vượt khỏi đường biên giới quốc gia” xa đến 316 mét vào trong lãnh thổ của Việt Nam khi so sánh với đường biên giới chính thức giữa hai nước như đã được xác định trong Hiệp Ước Trung – Việt về đường sắt tháng Năm, năm 1955.”
Than ôi, hy sinh biết bao xương máu của toàn dân qua cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ, thế mà ngay khi giành lại được phần đất biển của quê hương, ông Hồ và ĐCSVN đã đang tâm giao đảo Bạch Long Vĩ cho Tàu quản lý hộ mình! Thử hỏi nếu Tàu không trả lại cho VN thì ông Hồ và đảng ông sẽ làm gì để đòi lại.
Cám ơn tác giả Trương Nhân Tuấn về bài viết này, đặc biệt là về ý kiến mong muốn ký giả Mặc Lâm liên hệ thêm với ông Dương Danh Dy để xin ông bạch hóa thêm những chi tiết về các hứa hẹn của Đảng CSVN đối với Trung Quốc mà ông Dương Danh Dy, với tư cách là một nhà ngoại giao cao cấp và kỳ cựu đã phục vụ lâu năm tại TQ, có lẽ đã biết rõ. Tôi ủng hộ lời kêu gọi này.
Tuy nhiên, tôi e rằng mong muốn này của bác Trương Nhân Tuấn (và có lẽ còn nhiều người khác) khó có thể thành. Theo ngu ý của tôi, mong muốn này e có lẽ quá ngây thơ nếu không muốn nói là lạc quan tếu. Lý do đơn giản nhất là ông Dương Danh Dy là một đảng viên trung kiên của Đảng CSVN, và nếu tôi nhớ không lầm, ông đã từng là Tổng Lãnh sự điều khiển Tổng lãnh sự quán VN tại Quảng Châu (TQ) nhiều năm và hình như đã từng là thủ trưởng của ông Lê Công Phụng, hiện là Đại sứ nước CHXHCNVN tại Mỹ. Là một đảng viên trung thành của ĐCSVN, thật rất khó cho ông để tiết lộ những bí mật lịch sử có hại cho đảng ông, dù những bí mật này sẽ rất có lợi cho dân tộc trong việc đấu tranh giành lại những vùng đất biển mà ĐCSVN đã bí mật dâng hiến cho TQ qua nhiều lần mặc cả giữa hai đảng CS anh em trong hơn 60 năm qua. Như tôi được biết qua một số bài viết và các cuộc phỏng vấn ông Dương Danh Dy, những phát biểu của ông, dù đã đem lại nhiều thích thú cho người nghe và đọc, nói chung chỉ có tính tổng quát (thiếu chi tiết cụ thể) và chủ yếu là trên quan điểm bênh vực, bao che cho những sai lầm mà đảng ông đã phạm, chứ không có vẻ đóng góp nhiều vào việc soi sáng lịch sử hay giúp cho nhân dân biết sự thật để tranh đấu hiệu quả hơn với TQ trong việc bảo toàn đất tổ.
Nhân bàn về chuyện này, tôi còn nhớ cách đây vài năm, nhà bình luận Trần Bình Nam, trong một bài viết khá hay, cũng đã đặt vấn đề tương tự với Đại tướng Võ Nguyên Giáp về Công hàm Phạm Văn Đồng. Theo ông Trần Bình Nam, và tôi hoàn toàn đồng ý, thì Đại tướng VNG là người duy nhất còn sống sót trong Bộ Chính trị Đảng Lao động (tức Đảng CS) VN thời ông PVĐ đã ký Công hàm này gửi Chu Ân Lai, chắc chắn phải biết rất rõ lý do cũng như mọi diễn tiến đưa đến việc ông Hồ và Đảng Lao động ra lệnh Thủ tướng PVĐ đặt bút ký Công hàm này. Ông TBNam đã kêu gọi Đại tướng Giáp hãy vì quyền lợi tối hậu của Tổ quốc mà bạch hóa trước khi quá trễ do tuổi tác quá cao, những điều ông biết về vụ ký Công hàm này để nhân dân VN có thể hoạch định một phương sách tốt nhất để đối phó với TQ trong việc bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông. Nhưng tiếc thay, cho đến nay, Đại tướng VNG vẫn giữ hoàn toàn im lặng về chuyện này dù ông vẫn còn rất minh mẫn và gần đây đã 3 lần lên tiếng về vụ bauxite Tây Nguyên. Một điều tôi nhận xét là, mặc dù là một vị Đại tướng lừng danh thế giới được nhiều người VN kính phục và mong đợi, Đại tướng Giáp, ngoại trừ một lần tuyên bố qua loa cần bảo vệ Trường Sa, đã giữ một thái độ im lặng đáng sợ về vấn đề biên giới và hải đảo là trọng tâm hàng đầu trong nhiệm vụ của một Đại tướng như ông là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải của Tổ quốc.
Kính hai ông Trương Nhân Tuấn và Dương Danh Huy,
Tôi đã đọc bài phỏng vấn ông Dương Danh Dy của RFA và đã sử dụng cho một bài viết sắp tới nên rất cám ơn ông Trương Nhân Tuấn đã nêu lên những câu hỏi trong bài.
Vì ông Dương Danh Dy một nhà ngoại giao kỳ cựu có nhiều chục năm làm việc tại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc (từ năm 1962). Các hồi ức của ông sẽ đóng góp rất nhiều cho việc viết lại lịch sử và là bài học cho các thế hệ đi sau.
Khi đọc bài phỏng vấn tôi tự liên tưởng đến một quan hệ gì đó giữa hai ông Dương Danh Dy và Dương Danh Huy. Nếu đúng như thế rất mong ông Dương Danh Huy giúp hay ông Dương Danh Dy trực tiếp và tiếp tục cung cấp những dữ kiện lịch sử. Hết sức cám ơn.
Kính
Nguyễn Quang Duy