talawas blog

Chuyên mục:

Trần Văn Tích – Chủ nghĩa xã hội phi Việt

22/07/2009 | 2:31 sáng | 8 Comments

Tác giả: Trần Văn Tích

Category: Thế giới, Tổng hợp
Thẻ: >

Khi phê bình chủ nghĩa xã hội được định danh theo tướng La Mã Quintus Fabius Cunctator (217 tr. CN), Lenin đã gọi hình thức chủ nghĩa xã hội pha-biêng đó là chủ nghĩa xã hội trên đầu lưỡi, chủ nghĩa đế quốc trong thực tế. Lenin cũng còn định nghĩa chủ nghĩa xã hội là chính quyền Xô-viết cộng với điện khí hoá nông thôn. Chẳng những đúng, câu này còn chứng tỏ Lenin có tài tiên tri vì lúc sinh thời ông đã mô tả rất chính xác chủ nghĩa xã hội ở Tây Đức từ khi Konrad Adenauer lên giữ chức Thủ tướng năm 1949 và làm được phép lạ kinh tế.

Sau khi đánh bại Đức Quốc xã, phe Đồng minh Anh Pháp Mỹ chủ trương “bốn D” áp dụng cho vùng lãnh thổ do họ chiếm đóng: Demokratisierung, Demilitarisierung, Denazifizierung, Dezentralisierung (dân chủ hoá, giải giới, giải Quốc xã, giải trung ương tập quyền). Nhưng thanh xuất ư lam, học trò Đức học bài học bốn D còn giỏi hơn ba ông thầy của họ, nhất là bài học dân chủ. Vì nước Đức chẳng những dân chủ, nước Đức còn xã hội hơn Anh Pháp Mỹ. Từ một đống gạch vụn, đã mất chủ quyền lãnh thổ lại bị toàn cầu khinh miệt, các chính quyền từ Adenauer trở đi đã lãnh đạo được dân chúng Đức cúi đầu nghiến răng nuốt nhục để tích cực lao động đóng góp khiến cho ngày nay đất nước thống nhất mà không nổ một viên đạn và trở thành cường quốc kinh tế v.v…

Nếu bạn đến nước Đức mà muốn biết nơi nào thị tứ, nơi nào nông thôn thì hãy ráng đi tìm cái cột điện. Vùng nào cột điện có mắc dây điện thì đó là nông thôn. Nơi nào cột điện chỉ mang đèn, không có dây, thì đó là thành thị. Tuy nhiên chẳng dễ gì tìm được cột điện có mắc dây đâu. Nhưng xó xỉnh nào của nước Đức cũng có điện. Thành ra khi ứng dụng đẳng thức : “chủ nghĩa xã hội = chính quyền Xô-viết + điện khí hoá nông thôn” cho nước Đức thì thấy định nghĩa của Lenin thật hết sức đúng. Còn nếu các chính quyền Đức từ Thủ tướng Adenauer trở đi không biết tự xưng là chính quyền Xô-viết thì đó tất nhiên chẳng phải là lỗi của Lenin mà là lỗi tại… người Đức. Bài này kể lại một vài câu chuyện mà người viết từng tự mình sống qua trong chủ nghĩa xã hội trong thực tế.

Ngày hầu bao

Đối với người Pháp, ngày 14 tháng Bảy vừa qua là ngày quốc khánh. Đối với người Đức, ngày 14 tháng Bảy năm 2009 lại là ngày tạm gọi là ngày hầu bao, vì kể từ ngày này, người Đức làm việc cho cái túi tiền của mình, còn từ đầu năm đến hết ngày 13 tháng Bảy, họ làm việc để đóng góp cho các chương trình an sinh xã hội. Tính đổ đồng thì cứ ba Âu kim tạo ra được qua kinh doanh lao động, người Đức phải bỏ ra một Âu kim chi cho lĩnh vực xã hội. Lĩnh vực này rất rộng lớn và bao gồm thị trường lao động, hưu bổng, trợ cấp thất nghiệp (thuật ngữ quen thuộc và riêng biệt gọi là Hartz IV), điều dưỡng, y tế v.v… Tính tổng quát có đến lối một trăm bốn mươi thể loại dịch vụ xã hội do tiền thuế của công dân đóng góp chi trả. Phần đảm phụ của cá nhân được qui định theo lối bách phân, dựa vào lương bổng hay thu nhập. Chẳng hạn, phụ thu y tế do quỹ bảo hiểm Barmer qui định là 14,9 % kể từ ngày đầu tháng Bảy này.

Vì phải đóng góp đủ thứ như thế nên người Đức nào có thu nhập cũng chỉ có thể thực sự bỏ túi một phần hoa lợi và theo tính toán của Hiệp hội Người Tiêu thụ thì năm 2009 này, người Đức đã đi làm để đóng góp từ đầu năm đến hết ngày 13.07; từ ngày 14.07 trở đi đến cuối năm, số tiền do họ kiếm ra mới thực sự đổ vào trương mục hay chui vào bóp riêng của họ. Ngày hầu bao thay đổi tùy theo năm, năm nào đóng góp nhẹ nhàng hơn thì nó đến sớm hơn, chẳng hạn, năm 2008, ngày hầu bao đến sớm hơn được bảy, tám ngày, so với năm nay.

Trợ cấp xã hội

Gia đình tôi đến quê hương của Goethe do nước Đức chấp nhận thu nhận trong khuôn khổ một thoả ước nhân đạo ký kết với quốc tế. Tiền vé máy bay Lufthansa do phía Đức trả cho cả năm người, không phải bồi hoàn; tính theo thời giá năm 1984 vào khoảng 10.000 Đức mã. Mới vào trại chuyển tiếp, mỗi người được 50 DM tiền dằn túi. Và kể từ ngày 25.01.84 đến ngày 30.06.85, chúng tôi hưởng trợ cấp xã hội. Nhưng Sở Xã hội càng ngày càng nhẹ gánh vì hai vợ chồng tôi theo học tiếng Đức nên hưởng trợ cấp đào tạo còn ba đứa con thì đuợc cấp học bổng nhằm theo một khoá Đức ngữ dành cho sinh viên ngoại quốc chuẩn bị vào Đại học Đức nên được học bổng Bafög.

Số tiền trợ cấp xã hội cho toàn gia đình là 1.066 DM. Vì phải ở nhà đúng tiêu chuẩn made in Germany nên tiền thuê nhà cao: 1.288,75 DM/tháng, chưa kể tiền sưởi, tiền điện và tiền nước nhưng kể cả tiền thuê nhà để xe, mặc dầu chúng tôi không có xe. Vì tiền thuê nhà cao nên tôi chỉ phải trả một phần, phần còn lại do thành phố cáng đáng.

Cứ mỗi lần mừng Chúa Giáng sinh, chúng tôi được tiền Mừng Giáng sinh, do Sở Xã hội trả. Ngoài ra, khi mùa đông đến, có quyền xin tiền mua quần áo ấm. Ví dụ, ngày 11.01.85, Sở Xã hội đã chuẩn cấp cho chúng tôi 1.225 DM để mua áo len, khăn quàng cổ, mũ trùm đầu v.v… Tôi xin mua áo măng tô nhưng Đức không cho, bảo là theo luật chỉ được mua áo jắc-két vì măng tô là trang phục sang trọng, không phải trang phục ngự hàn tối thiết. Ngoài ra chúng tôi đi xe buýt chỉ trả nửa tiền vé, đi xem ôpêra cũng vậy, dẫu rằng chúng tôi chẳng bao giờ léo hánh đến nơi này. Mọi giấy tờ mang ra thị thực đều miễn phí v.v…

Trợ cấp lao động

Học xong thì xin việc làm. Ở giai đoạn này, vai trò chủ chốt thuộc Sở Lao động, là cơ quan chịu phí tổn chuyển dịch các chứng chỉ từ Việt sang Đức ngữ, chịu bưu phí để gửi hồ sơ xin việc, chịu tiền ăn ở nếu thời gian đi và về dành cho cuộc phỏng vấn tìm việc kéo dài, chịu tiền vé xe lửa hay tiền nguyên liệu dùng vào việc di chuyển khứ hồi bằng xe riêng đến nơi mời phỏng vấn. Luật lệ qui định rằng phí tổn di chuyển chỉ được trả theo tiêu chuẩn vé xe lửa hạng nhì (ở Đức xe lửa có hai hạng, hạng nhất và hạng nhì) và không trả tiền máy bay. Có một lần tôi được một bệnh viện của quân đội Mỹ đóng ở Bremerhaven miền cực bắc Đức mời đến tiếp xúc. Lần đó tôi đi xe lửa hạng nhất vì đế quốc ghi rõ trong thư mời là được quyền di chuyển theo giá biểu hạng nhất. Khi đi làm xa nhà thì được hưởng trợ cấp cách ly, trợ cấp đó cấp phát trong sáu tháng đầu tiên sau khi nhận việc và có thể kéo dài nếu sau sáu tháng người đi làm vẫn chưa thu xếp được để đưa gia đình đến địa phương có nhiệm sở mới.

Lương tháng đầu tiên tôi thực sự lãnh là 3.861,88 DM trong khi trên lý thuyết, lương tháng đó của tôi là 5.937,68 DM; vì đã bị khấu trừ các khoản đóng góp sau: thuế lương bổng 1.138,50 DM, bảo hiểm hưu bổng 537,60 DM, bảo hiểm thất nghiệp 112,00 DM, bảo hiểm sức khoẻ 287,70 DM. Sau hơn bảy năm làm việc, tháng Bảy năm 1993 lương nguyên của tôi là 8.073,81 DM, lương ròng là 5.324,15 DM, do phải đóng thuế lương bổng 1.521,16 DM, bảo hiểm hưu bổng 630,00 DM, bảo hiểm thất nghiệp 234,00 DM, bảo hiểm sức khoẻ 364,50 DM.

Ba khoản bảo hiểm vừa kể phần tôi trả một nửa, còn nửa kia do người cấp việc trả hay nói cách khác, mỗi tháng tiền bảo hiểm hưu bổng của tôi là 630 x 2 = 1.260 DM. Tôi vừa nói đến người cấp việc. Ở các quốc gia theo xã hội chủ nghĩa phi Việt hai khái niệm người cấp việc và người nhận việc hiện được sử dụng nhằm thay thế cho các cặp khái niệm đối ứng chủ-thợ, người đứng mướn-người làm mướn, chủ nhân-công nhân, người đi thuê-người làm thuê, giám đốc-tư chức, tư-bản-vô sản v.v…

Tiền thuế lương bổng được chiết trừ hàng tháng nhưng mỗi năm đều có thủ tục khai báo với Sở Tài chánh để yêu cầu được bồi hoàn số thuế đóng thặng dư, tùy theo mức thu nhập và tùy theo các chi phí trong năm. Trong thực tế, tôi được bồi hoàn tiền thuế khá hậu hĩ. Ví dụ năm 1986 được bồi hoàn 8.022 DM, năm 1987 được 7.798 DM, năm 1988 được 8.300 DM, năm 1989 được 7.818 DM. Nhưng năm 1992 vì không còn ở và làm tại hai nơi nên tôi chỉ thu về có 1.659,35 DM tiền thuế trong khi số thuế khấu trừ trọn năm là 17.482 DM; nghĩa là năm đó tôi đã đóng góp 15.822,65 DM để xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa Cộng hoà Liên bang Đức.

Mỗi tuần lễ làm việc ba mươi tám đến ba mươi chín giờ; mỗi năm được nghỉ thường niên ba mươi hai ngày (càng lớn tuổi càng nhiều ngày); ngoài ra còn có năm ngày nghỉ bồi dưỡng chuyên môn nhằm tham dự các khoá bổ túc hậu đại học. Khi dọn nhà, được cấp hai ngày nghỉ di trú. Số ngày nghỉ chính thức, luật định ở Đức là mười một ngày (Tết Dương lịch, Giáng sinh v.v…). Cần nói rõ là ba mươi hai ngày nghỉ thường niên là ba mươi hai ngày làm việc và vì mỗi tuần lễ chỉ chính thức làm việc năm ngày nên trên nguyên tắc, tôi có thể xin nghỉ luôn một mạch 32 : 5 = 6 tuần + 2 ngày.

Ngoài lương hàng tháng còn có tháng lương thứ mười ba và tiền nghỉ hằng năm. Tất nhiên nếu cơ sở cấp việc làm ăn thua lỗ thì hai khoản tiền này có thể bị hủy bỏ.

Làm ngắn

Làm ngắn là một biện pháp bảo vệ lao động. Khi một cơ sở kinh doanh gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ, thu không bù được chi, thì người phụ trách cơ sở có thể xin phép Sở Lao động để áp dụng thể thức làm ngắn. Mục đích của biện pháp này là tránh sa thải hàng loạt nhân viên. Tất cả nhân viên được lệnh đi làm ít giờ hơn và tất nhiên cũng lãnh ít lương hơn. Để bù đắp khoản thu nhập sút giảm, Sở Lao động đứng ra cáng đáng phần lương bị bớt. Thời gian làm ngắn kéo dài một năm và có thể xin kéo dài thêm. Người cấp việc phải cam đoan không sa thải quá bán số nhân viên cơ hữu. Trong thực tế tiền lương thực lãnh qua biện pháp làm ngắn có ít hơn tiền lương thuở làm việc bình thường chút đỉnh. Còn khoản tiền lương bù đắp do Sở Lao động trả thì chẳng qua cũng rút từ công quỹ, tức là do người dân góp phần đóng thuế hàng năm. Trong suốt giai đoạn làm ngắn, nếu đi nghỉ thường niên thì lại hưởng nguyên lương như khi “làm dài” vì số ngày nghỉ vốn có tính cách luật định. Lại nữa dưới chế độ làm ngắn người nhân viên không được rời khỏi địa điểm cư trú, mặc dầu không phải đến cơ quan.

Về hưu

Nam nhân viên khi tròn sáu mươi lăm tuổi thì về hưu, vì vậy tôi về hưu năm 1997. Đầu năm 1997 tôi nhận được từ Cơ quan Quản trị Hưu bổng Trung ương ở Berlin đầy đủ mẫu ấn chỉ để lập hồ sơ hưởng hưu bổng. Tôi chần chờ không chịu gửi hồ sơ khiến Cơ quan Hưu bổng phải viết thư nhắc nhở đồng thời lưu ý phải nộp hồ sơ càng sớm càng tốt để khỏi có sự gián đoạn giữa hai giai đoạn hưởng lương và hưởng hưu.

Hưu bổng được trả rất đúng kỳ hạn. Có điều đặc biệt là khi đi làm, lương được trả cuối tháng nhưng khi nghỉ hưu thì hưu lại được trả đầu tháng. Kết quả là cuối tháng 11 năm 1997, tôi vừa lãnh lương (của tháng 11) vừa lãnh hưu (của tháng 12). Trương mục ngân hàng của tôi thu nhận cùng một lúc hai khoản hoa lợi.

Tôi không rõ thể thức trả hưu ở các quốc gia Âu Mỹ khác. Nhưng qua thực tế ở Đức, tôi suy ra có lẽ lương bổng là nhằm trả tiền dịch vụ do người nhận việc cung cấp nên chỉ được chuyển cho đương sự sau khi hoàn tất dịch vụ, nghĩa là cuối tháng. Nhưng hưu bổng không phải là phí khoản thanh toán dịch vụ mà là quyền lợi của hưu viên đã đóng góp lúc còn đi làm nên khi đương sự đã cao tuổi – có thể sống nay chết mai – thì phải trả ngay đầu tháng cho… chắc ăn!?!? 

Đau ốm

Khi đau ốm tôi đi khám bác sĩ gia đình và được cấp toa mua thuốc. Mỗi tam cá nguyệt phải đóng cho phòng mạch bác sĩ điều trị 10 Âu kim. Mua thuốc ở các nhà thuốc phải trả phụ phí, thay đổi từ 5 đến 10 Âu kim mỗi hộp thuốc.

Khi nhập viện, mỗi ngày nằm viện phải đóng mười Âu kim. Ngoài ra mọi chi phí về điều trị, chẩn đoán, thí nghiệm, ẩm thực v.v… đều không phải trả. Nếu cần thì sau khi xuất viện còn được gửi đi điều dưỡng phục hồi sức khoẻ, tất nhiên cũng miễn phí nốt.

Bà xã tôi bị tai biến mạch máu não nên tuy đã bình phục mà di chuyển còn khó khăn. Căn nhà tôi mới dọn đến thiếu tiện nghi cho người bị thương tổn, do đó cơ quan hữu trách phái người đến nghiên cứu nhằm trang bị những phụ tùng thích nghi tại phòng tắm, phòng vệ sinh, nhà bếp v.v… Ngoài ra vì tôi là người trực tiếp phụ trách chăm sóc nên được trả công mỗi tháng 205 Âu kim, không cần biết tiền lương và tiền hưu của tôi cộng lại là bao nhiêu. Khoản tiền Pflegegeld này không phải đóng thuế.

Chủ nghĩa xã hội trên đầu lưỡi

Giờ đây nước Đức tái thống nhất đang phải cưu mang phần lãnh thổ Đông Đức cũ nên tôi càng có cơ hội biết rõ hơn hai chế độ xã hội chủ nghĩa ở trên cùng một quốc gia. Ngay bản thân Erich Honecker cũng phải thừa nhận, sau khi bức tường Berlin sụp đổ, là chế độ ông ta quả đã không nhập cảng được đầy đủ chuối cho dân chúng ăn! Rồi những vụ bẻ cong pháp lý do các quan toà quốc doanh, những vụ bằng hữu nối khố báo cáo cho cơ quan Mật vụ Stasi, những trang thiết bị nhằm yểm trợ các tổ chức khủng bố quốc tế và quốc nội bị phát hiện v.v…

Những mẩu chuyện vụn vặt vừa trình bày chỉ là những chuyện chính bản thân tôi từng trải qua. Nếu nói rộng ra nữa – nói qua những người khác, nói qua những nước khác – thì chẳng biết bao giờ mới hết. Chẳng hạn có người kể với tôi rằng năm 1999, một số địa phương Canada thiếu các bác sĩ quang tuyến-ung thư (radio-oncologues). Chính quyền Québec đưa các bệnh nhân sang Mỹ điều trị, mọi phí tổn đều do nhà nước đài thọ. Hôm nay truyền hình loan tin Đức Giáo hoàng bị té gãy tay, phải vào nhà thương chữa bệnh. Ngài kiên nhẫn ngồi chờ đến phiên mình gặp bác sĩ chuyên khoa như các bệnh nhân khác.

Thực tình chúng tôi chẳng ham gì chuyện tham gia nòi giống Nhật nhĩ man, nhưng chúng tôi cũng vẫn xin gia nhập quốc tịch Đức chỉ vì quá chán ngán cái chủ nghĩa xã hội trên đầu lưỡi nơi quê tôi, nó chẳng hề giống chủ nghĩa xã hội trong thực tế nào cả.

Bình luận

8 Comments (bài “Trần Văn Tích – Chủ nghĩa xã hội phi Việt”)

  1. Trần Văn Tích viết:

    Mấy hôm nay chạy theo vài “vấn đề thời sự” trên talawas blog nên hôm nay mới có thể thưa chuyện tiếp cùng một số vị đã có phản hồi.

    Tôi đã thấy sự thiếu nhất quán giữa ngày hầu bao và con số một Âu kim trên ba Âu kim. Tuy nhiên tôi nghĩ ngày hầu bao nhằm áp dụng cho giới tháng tháng lãnh lương ba cọc ba đồng, còn toàn thể nước Đức – tức là đối tượng tham gia tạo ra ba Âu kim – thì lại gồm nhiều thành phần khác nhau (ví dụ hãng xưởng, nhà máy, tỷ phú, triệu phú, nhà doanh nghiệp v.v…), mà thu nhập vốn nhiều khi rất lớn và rất biến thiên. Trong nguyên văn bản tin tôi sử dụng, nhà báo viết bài dùng chữ erwirtschaften (to make or obtain through good or careful management) khi đề cập đến con số 3 Euro.

    Đúng như BS Nguyễn Lê Hiếu nói, tuổi thọ càng ngày càng cao nên Đức cũng đang nghĩ đến nâng cao tuổi về hưu. Dầu sao, nhìn chung, các chính trị gia Đức và các chuyên viên tài chánh kinh tế cũng đang cãi nhau như mổ bò về chuyện hưu bổng, nhất là gần ngày bầu cử toàn quốc vào cuối tháng Chín này. Hiện nay thì vì chính phủ vừa tăng hưu bổng xong lại còn tuyên bố hưu bổng sẽ ổn định nên phe đối lập lên tiếng là làm như vậy tức là trút cả gánh nặng lên vai các thế hệ trẻ v.v…

    Tôi hoàn toàn đồng ý là chính nhờ sự tranh đấu kiên trì và hữu hiệu của các đảng cộng sản, xã hội, của các nghiệp đoàn, công đoàn v.v… nên bây giờ mới có được “chủ nghĩa xã hội trong thực tế” tại nước Đức (và tại nhiều nước khác nữa, dĩ nhiên).

    Xin thưa thêm cùng ông/bà DTL. Chúng tôi đến Đức trong tư cách người tỵ nạn hợp pháp nên chỉ mong có được việc làm, mong lắm. Riêng anh chị em ngành y chúng tôi thì ngoài “giấy phép làm việc” còn cần “giấy phép hành nghề”. Thật rất gian truân vì cái giấy phép thứ hai này. Cho nên khi đọc phần trích dẫn Engels của ông, chúng tôi, đối chiếu với hoàn cảnh bản thân từng trải qua, thấy có điều gì gần như bi-hài. Lẽ đương nhiên Engels đã phát biểu khi chế độ tư bản còn nhiều khiếm khuyết chứ không phải như ngày nay.

    Ông Mai Thái Lĩnh lưu ý đến sự đóng góp của những người social democrats. Rất đúng. Hơn nữa Đức từng có những thủ tướng chính phủ là social democrats như Willy Brand, Helmut Schmidt, Gerhard Schröder. Trong nội các của bà Merkel hiện nay, phó thủ tướng cũng là social democrat.

    Cuối cùng xin cám ơn tất cả quí vị đã lưu tâm đọc và tham gia phản hồi.

  2. Mai Thái Lĩnh viết:

    Bài viết của ông Trần Văn Tích mô tả rất cụ thể và sinh động những phúc lợi mà người lao động được hưởng dưới một chế độ “chủ nghĩa xã hội trong thực tế”. Chế độ này có phần đóng góp rất lớn của những người dân chủ-xã hội (social democrats) ở Đức. Chỉ xin nói rõ thêm: “chủ nghĩa xã hội pha-biêng” mà Lenin phê bình chính là chủ nghĩa Fabian (Fabianism) – lý thuyết về chủ nghĩa xã hội của những người dân chủ-xã hội Anh. Hội Fabian (Fabian Society) là think tank hình thành vào cuối thế kỷ 19, là mầm mống về tư tưởng của đảng Lao động Anh (Labor Party). Khi phê phán chủ nghĩa xã hội Fabian, Lenin nhắm đến đảng Lao động Anh.

  3. DTL viết:

    Những điều ông Đỗ Kh. nói, thì đã có nhiều người nhắc nhở, nhắc nhở nhiều lần, nhưng vẫn có rất nhiều người không nhớ hay không muốn nhớ. Và nếu như phong trào lao động ở các nước tư bản phát triển có được sức mạnh như thế, đủ sức buộc giới “người cấp việc” phải nhượng bộ, Nhà nước phải thông qua các đạo luật có lợi cho giai cấp “nhận việc”, và những người như ông Trần Văn Tích từ đâu đến tự dưng nghiễm nhiên hưởng lợi, thì một phần rất lớn là nhờ công của những nhà hoạt động xã hội, trong đó có hai vị tổ sư mà ông Trần Văn Tích xem ra không có cảm tình lắm kia.

    Còn về tình hình khốn khó của giai cấp lao động Việt Nam hiện nay, thì nhận xét sau của một trong hai vị tổ sư đó có thể giúp lý giải phần nào:

    “… Ở nước ta ( nước Đức – DTL) tình trạng trong các nhà máy tồi tệ hơn nước Anh nhiều lần… Trong mọi lĩnh vực khác, chúng ta khốn khổ không chỉ vì sự phát triển của nền sản xuất TBCN, mà còn vì sự thiếu phát triển của chính nó…” (Lời tựa cho lần xuất bản thứ nhất, quyển I bộ Tư bản).

  4. Nguyễn Lê Hiếu viết:

    Bs Tích đã cung câp một số dữ kiện bên Đức “nghe mà ham”. Xin hỏi nhỏ một câu: Nếu phải làm tới 14-7 (hay như năm trước, sớm hơn mươi ngày, khỏang đầu tháng 7?) để đóng góp xây dựng v.v. thì tỷ lệ phải là làm hai Âu kim đóng một chứ không phải là làm ba Âu kim đóng một?

    Về TT Bismack mà Đỗ Kh. nhắc đến, việc ông bắt “nhà nước” cung cấp bảo hiểm y tế và lương hưu bổng cho những người trên 65, có thể là bước đầu của chính sách xã hội. Nhưng cũng có những người (xấu miệng) nói rằng lúc đó, tuổi thọ của dân chúng nói chung là 60 tuổi; do đó, lấy tuổi 65 là một thủ đoạn chính trị hơn là một biện pháp an ninh xã hội. Tuổi thọ ngày nay cao hơn 65 nhiều, có triển vọng phải làm đến tháng 8 mới tới “ngày hầu bao”?

    Xin các bạn ở bên nớ biết rõ lịch sử soi sáng thêm cho.

  5. Đỗ Kh. viết:

    Cám ơn Ông Trần Văn Tích đã thuật lại thành thật, chi tiết và chính xác kinh nghiệm của bản thân tại nước Đức “XHCN”.
    Và ông đã lao động và hưởng hưu, nói kiểu nhà thơ Nazim Hikmet “May thay, tôi đã sống bằng mồ hôi trên trán”.

    http://www.sanjeev.net/poetry/hikmet-nazim/autobiography-184208.html

    http://grain-de-sel.cultureforum.net/poesie-ininterrompue-f1/nazim-hikmet-t585.htm

    http://www.exil-archiv.de/html/biografien/hikmet_gedichte.htm#autobiographie

    Quyền lợi của lao động, công bằng và đoàn kết của xã hội, tại Đức ngày nay chẳng phải nhờ ông Bismarck. Một sáng 1883 thủ tướng này vui tính mà nghĩ là ấy chết, công nhân không có bảo hiểm sức khỏe, một chiều ông 1889 đột nhiên vỗ trán, họ còn phải có chế độ hưu nữa chứ, vậy mà mấy năm nay mình quên tiệt!

    Thiển nghĩ, đó là kết quả của đấu tranh liên tục của phong trào lao động, nhiều lúc gay gắt đến bỏ mạng, chứ không phải là tất yếu của phát triển kinh tế, của dân chủ chính trị hay là của tư bản tự do chủ nghĩa. Tại Hoa Kỳ, phát triển, dân chủ và tự do tư bản, đến giờ này, 2009, vẫn còn đánh vật với bảo hiểm sức khỏe cho tất cả mọi người và còn lâu ông Obama-Yes we can mới dám hó hé xa gần đến vấn đề nghỉ phép thường niên.

    Nước ta, tư bản tự do thì đã gần bằng Mỹ, phát triển kinh tế thì đã gần bằng Thái Lan, dân chủ chính trị đã gần bằng Myanmar, chắc bước sắp tới cũng phải nghĩ đến công bằng và đoàn kết xã hội chút xíu.

  6. Dũng Vũ viết:

    Những điều ông Trần Văn Tích kể chỉ là một phần nhỏ thực tế trong cái đất nước “xã hội chủ nghĩa” Cộng Hòa Liên Bang Đức. Chỉ e rằng sẽ có người sẵn sàng biện luận: Tại nước Đức giàu, nên mới có tiền lo cho xã hội, còn Việt Nam nghèo (không/chưa làm được).

    Thay vì mở miệng bào chữa cho sự yếu kém của mình, thì nên mở mắt nhìn và mở cái đầu ra suy nghĩ tại sao nước Đức giàu mạnh để có thể thực hiện một xã hội xã hội chủ nghĩa thực tế như thế, một gương sáng cho các xứ Âu châu noi theo.

    Người ta giàu mạnh chắc chắn không phải nhờ đào than bán, đào dầu bán, đào Bauxite bán, … đào được gì bán đó.

    Chúng ta còn nghèo chắc chắn không phải “vì hậu quả chiến tranh”.

    Các nhà lãnh đạo Việt Nam làm ơn đừng lải nhải điệp khúc “Việt Nam còn nghèo”. Thay vì than, than mãi, than hoài, than mấy chục năm rồi, thì nên tìm cách làm cho dân giàu, nước mạnh. Xin nhấn mạnh là cho “dân” và “nước” trước chứ không phải cho mình.

    Nước người ta giàu có vậy mà đến ông tổng thống cũng đi làm bằng xe bus như dân thường (v.d. cựu tổng thống Đức von Weizsäcker).

    Còn Việt Nam, có vị lãnh đạo cao cấp nhất nước nào đi làm bằng xe bus hay không ?

    Kể vậy dám có người “biện luận”: Suy ra Đức còn nghèo hơn Việt Nam.

  7. Trần Văn Tích viết:

    Xin cám ơn bạn đọc DTL. Tôi không biết là hai chữ Arbeitgeber và Arbeitnehmer có tuổi thọ lớn như vậy mà tôi tưởng là cặp chữ này được sáng tạo sau khi Đức thụ giáo bài học dân chủ. Nhưng câu khẩu hiệu “Arbeit macht frei” thì tôi đã được thấy chiếu nhiều lần trên màn ảnh vô tuyến truyền hình, nó khiến tôi tự dưng liên tưởng đến khẩu hiệu thân thương “Lao động là vinh quang”.
    Chẳng rõ hai thuật ngữ Arbeitgeber và Arbeitnehmer có “kỳ quái” không, nhưng dường như chính các đảng viên cộng sản hoặc khuynh tả Đức hiện nay cũng sử dụng chúng thì phải.
    Tháng mười một này tôi tròn bảy mươi bảy tuổi. Tôi rất vui mừng và hãnh diện thấy rằng đến Đức không bao lâu, tôi đã trở thành một “người nhận tiền công để người khác lấy đi lao động” của mình. Người ta tàn bạo đến nỗi lấy dài dài từ năm 1986 đến năm 1997 là năm tôi về hưu còn chưa đủ, người ta tiếp tục lấy cho đến hôm nay, 22.07.2009! Và bản thân tôi thì tuy lên lão từ lâu, vẫn hân hoan được tiếp tục bị “lấy đi lao động” để có chút tiền lương còm bên cạnh tiền hưu (vì tôi chỉ làm việc mỗi tuần lễ hai buổi chiều, thứ tư và thứ bảy nên chỉ được trả lương còm, chứ không phải vì bị bóc lột đâu, nói có Trời Phật chứng giám). Do qui chế “bị lấy đi lao động” theo những điều kiện đặc biệt (chẳng hạn, tôi có thể nghỉ việc ngay ngày mai, nếu muốn và chỉ cần báo cho giám đốc bệnh viện biết hôm nay), tôi cũng không còn là Arbeitnehmer nữa mà trở thành Auftragnehmer hay Beauftragte
    còn nhà thương sử dụng tôi thì được gọi là Auftraggeber.
    Xin ông/bà DTL hiểu cho, tôi không hề có ý định viết lách thiếu lễ đối với ông/bà. Tôi chỉ nghĩ mà cám cảnh cho…tôi khi đọc những từ ngữ cách mạng, kể cả từ ngữ và từ vựng của một trong hai vị tổ sư.
    Người Pháp cũng không gọi donneur de travail hay receveur de travail như Engels trực dịch. Họ gọi là employeur và employé, còn người Anh thì gọi là employer và employee.

  8. DTL viết:

    Người cấp việc và người nhận việc.
    Không biết các nước khác thì thế nào, riêng ở Đức thì các từ Arbeitgeber (người cấp việc) và Arbeitnehmer (người nhận việc) đã có từ lâu, ít nhất là từ thế kỷ 19.
    Arbeit trong tiếng Đức vừa có nghĩa là công việc, việc làm, vừa có nghĩa là lao động (Arbeit macht frei – Lao động làm người ta tự do! – Khẩu hiệu hào hùng của các trại tập trung Đức quốc xã). Về chuyện nhập nhằng ngôn từ này, một người Đức là F. Engels nhận xét:
    “… Các nhà kinh tế người Đức sử dụng những thuật ngữ kỳ quái, ví dụ như người trả tiền cho người khác để họ cung cấp lao động của mình, thì được gọi là người cấp lao động (Arbeitgeber), còn người nhận tiền công để người khác lấy đi lao động của anh ta, thì lại gọi là người nhận lao động (Arbeitnehmer). Tiếng Pháp trong ngôn ngữ đời thường cũng sử dụng từ “travail” với nghĩa “công việc, việc làm”, nhưng người Pháp sẽ có lý khi coi là kẻ khùng nhà kinh tế nào gọi nhà tư bản là donneur de travail, còn người lao động là receveur de travail”.
    Nguyên văn tiếng Đức, trích từ Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ 3, quyển I bộ Tư bản:
    “Es konnte mir nicht in den Sinn kommen, in das “Kapital” den landläufigen Jargon einzuführen, in welchem deutsche Ökonomen sich auszudrücken pflegen, jenes Kauderwelsch, worin z.B. derjenige, der sich für bare Zahlung von andern ihre Arbeit geben läßt, der Arbeitgeber heißt, und Arbeitnehmer derjenige, dessen Arbeit ihm für Lohn abgenommen wird. Auch im Französischen wird travail im gewöhnlichen Leben im Sinn von “Beschäftigung” gebraucht. Mit Recht aber würden die Franzosen den Ökonomen für verrückt halten, der den Kapitalisten donneur de travail, und den Arbeiter receveur de travail nennen wollte.”

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>