talawas blog

Chuyên mục:

Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (2)

01/06/2009 | 10:01 sáng | 1 bình luận

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

6. Vụ tổng Đèo Lương, thác Bản Giốc và núi Khấu Mai

6.1. Tổng Đèo Lương xưa thuộc tỉnh Cao Bằng, ở phía đông bắc tỉnh tỉnh này, phía nam là Thủy Khẩu, phía bắc có sông Qui Xuân chảy vào, diện tích khoảng 300km², mất vào tay TQ nhân dịp phân giới 1893-1894. Trên bản đồ hiện nay là phần lõm vào ở đông bắc Cao Bằng. Trường hợp mất được ghi vắn tắt qua nhật ký của Ủy ban Phân giới vùng Quảng Tây, trong chiến dịch phân giới 1893-1894. Theo đó, phía TQ đã lấy tên của một số làng xã của phía TQ để đặt tên cho các làng xã thuộc tổng Đèo Lương. Song song đó, phía TQ vận động với Đặc sứ Pháp tại Bắc Kinh để lấy vùng đất này, mặt khác, họ tìm cách kéo dài thì giờ, vì đây là điểm yếu của Pháp : càng kéo dài thì việc cắm mốc giới càng thêm tốn kém mà ngân sách của mẫu quốc dành cho Bắc Kỳ ngày thêm hạn chế. Cuối cùng, Pháp nhượng bộ trên vấn đề Ðèo-Lương nhưng với điều kiện phải được Pháp phải được trái núi quan trọng về chiến lược : Khấu Mai (TQ gọi là Khấu Mai Lĩnh, VN gọi là Cao May) ;

Như thế Việt Nam mất đất Đèo Lương vì lý do âm mưu đổi tên các làng mạc của TQ và sự nhượng bộ của Pháp. Ta thấy âm mưu hoán đổi tên các địa danh để chiếm lấy đất được sử dụng ở đây đã được sử dụng trước đó nhiều lần.

6.2. Thác Bản Giốc: Theo các chi tiết đã ghi trong các biên bản, nhật ký phân giới, sông Qui Xuân (Qui Thuận, Quây Sơn) chảy vào phía bắc của tổng Đèo Lương. Vào lúc phân giới thác Bản Giốc nằm sâu trong lãnh thổ của Việt Nam. Nếu không mất Đèo Lương thì sẽ không bao giờ có tranh chấp chủ quyền tại Bản Giốc vào những năm sau này, vì nó sẽ nằm sâu vào lãnh thổ VN.

Có 2 tài liệu cho thấy thác Bản Giốc sau khi phân giới cắm mốc nằm trên lãnh thổ VN và cách đường biên giới đến 2 km : tài liệu 1 : Au Tonkin et sur la frontière du Kwang-si, Par le Commandant Famin, Vice-Président de la Commission d’Abornement des Frontières Sino-Annamites en 1894. Paris, Auguste Challamel, Editeur, Librairie Coloniale, 1895 (Trang 12-13; 142,143). Trang 12-13.

Bản chụp trang 12

Bản chụp trang 12

 

 

Bản chụp trang 13

Bản chụp trang 13

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tài-liệu 2 : Bulletin du service Géologique de l’Indochine (Sở Địa Chất Đông Dương), Volume XI, Fascicule I, Etudes Géologiques sur le Nord-Est Du Tonkin, (Feuilles de Bảo Lạc, Cao Bằng, Hà Lang, Bắc Kạn, Thất Khê và Long Châu), Réné Bourrret; Ha-Noi – Hải-Phòng Imprimerie d’Extrême d’Orient – 1922, trang 32-33-34. Thác Bản Giốc được gọi là thác Tu Tong.

Hình bìa : Bulletin du service Géologique de l’Indochine năm 1922. Hồ sơ CAOM

Hình bìa : Bulletin du service Géologique de l’Indochine năm 1922. Hồ sơ CAOM

Hình trang 34, thác Bản Giốc của VN, được gọi là thác Tu Tong.

Hình trang 34, thác Bản Giốc của VN, được gọi là thác Tu Tong.

 Tài liệu « Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay » của NXB Sự Thật, năm 1979, Việt Nam tố cáo Trung Quốc chiếm thác Bản Giốc như sau :

Năm 1955-1956, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỉ-lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành của Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.

….

Tại khu vực cột mốc 53 (xã Ðàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Qui Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung-Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày dặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh-thổ Việt-Nam trên cồn Pò Thoong và ngang-nhiên nhận cồn này là của Trung-Quốc.

6.3. Núi Khấu Mai : Núi này hoàn toàn thuộc Việt Nam theo biên giới lịch sử. Trong dịp phân giới và cắm mốc lại, núi này được trao đổi với tổng Đèo Lương : VN giữ núi Khấu Mai, TQ được tổng Đèo Lương. Nhưng phía TQ vẫn ngang ngược nhứt định dành nó về phía họ. Núi này khoảng giữa Bình Nhi và Thủy Khẩu, được cắm mốc mang số 15 trên biên bản phân giới ngày 19 tháng 6 năm 1894 ký kết giữa ông Galliéni và ông Thái Hy Bân. Núi này có vị trí chiến lược quan trọng, địa hình thuận tiện cho quân đội đóng quân, có đường mòn từ phía Việt Nam dẫn lên đỉnh. Trên núi có 3 nguồn nước, đất tốt nên dân chúng khai thác trồng trọt, cây cối xinh tươi. Chiếm giữ được nó thì có thể kiểm soát được cả vùng Long Châu cho tới Bằng Tường.

Do phía TQ trì trệ, không cắm mốc, rốt cục phía Pháp lại nhưọng bộ. Cột mốc tại Khấu Mai cắm trên sườn núi phía đông, cách đỉnh 200m, chừa một góc nhỏ cho TQ. Ngoài ra, cột mốc 14 cắm dưới chân phía Ðông, cột 16 dưới chân phía Tây-Bắc để xác định rõ ràng chủ quyền hai bên về ngọn núi.

Nhưng TQ lại không tôn trọng, xâm chiếm đất vùng này sau khi cắm mốc. Năm 1936, cột mốc số 14 bis được cắm thêm. Theo biên bản vị trí cột 14 bis xác định như sau : 580 mètres Sud-ouest de la borne 14 ; Est, Sud-Est de la borne 15. Cột 14 bis cách cột 14 là 580m về phía Tây-Nam ; cột ở phía Ðông Ðông-Nam cột số 15.

Nhưng chủ quyền núi Khấu Mai rất có thể bị phía Trung Quốc đặt vấn đề vào đầu năm 2001. Theo tài liệu của Nguyễn Chí Trung, thư ký riêng của ông Lê Khả Phiêu, viết ngày 21 tháng 7 năm 2002, được Câu Lạc Bộ Dân chủ đăng trên mạng Ý Kiến ngày 25 tháng 11 năm 2003 dưới nhan đề «Tài liệu mật của Đảng CSVN », nội dung cho biết Giang Trạch Dân, lúc đó là lãnh đạo tối cao Trung Quốc, muốn dành núi Khấu Mai cho Trung Quốc. Lập luận phía TQ đặt lại vấn đề : Cột mốc không cắm trên đỉnh núi vì trước kia do công nhân đưa cột mốc không tới đỉnh núi đành bỏ lai sườn núi, bây giờ đưa cột mốc lên đỉnh. Toàn bộ 314 cột mốc cắm trên biên giới Việt-Trung, chỉ có cột mốt cắm tại Khấu Mai là cắm ở sườn núi thay vì đỉnh núi.

Đến lúc viết những dòng chữ này người viết vẫn không biết được núi Khấu Mai được phân chia ra sao theo công trình cắm mốc (chấm dứt ngày đầu năm 2009) của hiệp ước phân định biên giới ký ngày 25 tháng 12 năm 1999.

7.  Hoàng Sa và Trường Sa

Công hàm ngoại giao của Đặc Sứ Thanh triều tại Paris, gởi chính phủ Pháp ngày 29 tháng 9 năm 1932, tài liệu đính kèm cuốn La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys của bà  Monique Chemillier-Gendreau, nguyên văn đoạn liên hệ công ước 1887, Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa:

« Légation de la République Chinoise.

29 Septembre 1932.

La Légation de la République Chinoise en France, d’ordre de son Gouvernement, a l’honneur de transmettre la réponse de ce dernier à la Note que le Ministère des Affaires Etrangères a bien voulu lui adresser le 4 Janvier 1932 au sujet de l’Archipel des Iles Paracels.

Les Iles Si-Chao-Tchuin-Tao désignées aussi sous le nom de Tsi-Tcheou-Yang appelées en langue étrangère Iles Paracels, et au Nord-Est desquelles sont les Iles Ton-Chao, se trouvent dans la mer territoriale de la Province du Kouang-Tong (South China Sea); elles forment un des groupes de l’ensemble des Iles de la Mer de Chine du Sud qui font partie intégrante de la mer territoriale de la Province du Kouang-Tong.

D’Après les Rapports établis en l’An XVII de la République Chinoise (1926) au sujet des Si-Chao-Tchuin-Tao (Paracels), rédigés par Mr. Shen-Pung-Fei, Président de la Commission d’enquête sur ces Iles, et les dossiers concernant également ces Iles établis par le Bureau de l’Industrie de la Province Kouang-Tong, ces Iles s’étendent du 110° 13 au 112° 47 de longitude Est; grandes et petites, elle sont au nombre de plus d’une vingtaine, la plupart d’entre elles sont des banc de sable incultes, les autres, une dizaine, sont formés de rochers, huit forment réellement des Iles. Des deux groupes Est et Ouest, celui de Est est appelé  “Amphitrite”, celui de l’Ouest “Chroissant”. Ces groupes se trouvent à 145 miles marins de l’Ile de Hai-Nan et forment la partie du territoire chinois située le plus au sud.

La clause 3 de la Convention relative à la Délimitation de la Frontière entre la Chine et le Tonkin, signée à Pékin le 26 Juin 1887 stipule qu’au Kouang-Tong, il est entendu que les points contestés qui sont situés à l’Est et au Nord-Est de Monkai, au-delà de la frontière telle qu’elle a été fixée par la Commission de Délimitation, sont attribués à la Chine. Les Iles qui sont à l’Est de la ligne Nord-Sud passant par la pointe orientale de l’ile de T’cha-Kou et formant la frontière sont également attribuées à la Chine. Les Iles Kou-Teou et les autres petites Iles qui sont à l’Ouest de cette ligne appartiennent à l’Annam.

Le point de départ des frontière entre l’Indochine et la province chinoise du Kouang-Tong est Tchou-Chan situé à 21° 30 de latitude Nord et 108° 2 de longitude Est. D’après les sus-dites stipulation, le litoral de l’Indochine se trouvant à l’Ouest de Tchou-Chan; de ce point, en descendant la côte vers le Sud, de toutes façons les Iles Paracels se trouvent très loin à l’Est de cette ligne, et sont séparées du litoral Indochinois par l’Ile de Hai-Nam. On voit aisément, d’après leur position géographique à quel pays elles doivent être ratachées…»

Các ý chính tạm dịch như sau : Quần đảo Si-Chao-Tchuin-Tao (Tây Sa Quần Đảo), còn được gọi dưới tên Tsi-Tcheou-Yang (Thất Châu Dương), nước ngoài gọi là Paracels, phía đông bắc có quần đảo Ton-Chao (Đông Đảo, tức Pratas), tọa lạc trong lãnh hải tỉnh Quảng-Ðông; là một bộ phận của lãnh hải tỉnh Quảng-Ðông… các đảo nầy rải rác trải từ 110° 13 đến 112° 47 kinh tuyến Ðông; gồm khoảng 20 đảo lớn nhỏ, phần lớn là những dải cát hoang, một số khác, khoảng 10 đảo do đá tạo nên, 8 đảo thực sự là đảo, chia làm hai nhóm Ðông và Tây. Nhóm  Ðông gọi là nhóm “Amphitrite”, nhóm Tây gọi là nhóm “Croissant”. Hai nhóm nầy cách đảo Hải Nam 145 dặm biển và tạo thành vùng  lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc.

Ðiều 3 của Công ước Phân định Biên giới giữa Trung Hoa và Tonkin, ký tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887 qui định rằng ở Quảng Ðông, hai bên thỏa thuận rằng các vùng tranh chấp ở phía đông và đông bắc Móng Cái thì thuộc về Trung Quốc. Những đảo ở về phía Ðông của đường bắc nam đi qua đông điểm của đảo Trà Cổ và tạo thành đường biênngiới thì chúng cũng thuộc về Trung Quốc. Những đảo Keou-Teou (Trà Cổ) và những đảo nhỏ khác ở về phía Tây của đường nầy thì thuộc về Việt Nam.

Ðiểm bắt đầu của biên giới giữa Indochine và tỉnh Quảng Ðông là Trúc Sơn có tọa-độ 21° 30 vĩ tuyến Bắc và 108° 2 kinh tuyến Ðông. Theo những gì ghi nhận trên đây, bờ biển Indochine ở về phía Tây của Trúc Sơn. Từ điểm nầy, đi xuống về phía Nam, bằng cách nào thì quần đảo Paracels cũng ở về phía Ðông của đường nầy và giữa quần đảo nầy với bờ biển Indichine thì có đảo Hải Nam ngăn chặn. Người ta thấy dễ dàng, theo vị trí địa lý của Paracels, là nó thuộc về nước nào.

Các điểm ghi nhận như sau :

  • Hoàng Sa có tên Tàu là Thất Châu Dương.
  • Hoàng Sa là lãnh thổ vùng cực nam của TQ.
  • Đường kinh tuyến từ đông điểm Trà Cổ của công ước phân định biên giới 26-6-1887 cho phép TQ có chủ quyền tất cả các đảo ở phía đông đường kinh tuyến này.

Ta thấy điều ngang ngược thứ nhất ở đây của TQ là diễn giải Công ước 1887 theo lối có lợi cho mình. Thực ra công ước 1886 có tên là « Convention Relative à la Délimitation de la Frontière entre la Chine et le Tonkin ». Phía TQ đã thay đổi Tonkin (Bắc Kỳ) thành ra Indochine, cho là công ước này phân định biên giới giữa TQ và Indochine, nhằm dành quần đảo HS về TQ. Đường kinh tuyến đi qua đông điểm đảo Trà Cổ 105° 43′ kinh độ Đông Paris chỉ có hiệu lực trong vịnh Bắc Việt, vì công ước chỉ phân định các tỉnh Nam Hoa với Bắc Việt, nó chỉ có giá trị ở đây và không có giá trị khi ra ngoài vịnh Bắc Việt.

Điều thứ hai, tên Thất Châu Dương là có thật, nhưng theo thư tịch của TQ thì nó là tên của các đảo gần Văn Xương, đảo Hải Nam. TQ lấy tên này đặt cho HS của VN, lập lại thủ thuật mà họ đã dành đất của VN như ở Tụ Long, Kiến Duyên, Bát Tràng, Đèo Lương v.v… Tức là lấy tên một địa danh của TQ đặt cho các vùng lãnh thổ của VN rồi hô hoán lên nói là đất của TQ.

Thứ ba, chính TQ thời đó cũng đã khẳng định HS là vùng đất cực nam của TQ. Ta thấy sự ngang ngược của TQ hiện nay đã lan xuống các đảo Trường Sa.

Nhưng chưa hết. Hồ sơ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố ngày 30 tháng 1 năm 1980 viết rằng :  “Trung Quốc là nước đầu tiên đã khám phá, khai khẩn, thâu huê lợi và quản lý các quần đảo gọi là Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa). Từ ngàn năm nay, những nhà nước Trung Quốc đã liên tục đặt quyền pháp trên những nơi đây. Dân tộc Trung Hoa là người chủ hai quần đảo nầy không thể phản biện”.

Điểm ghi nhận đầu tiên là các bộ « chính sử » của Trung Quốc thì không bộ nào viết Tây Sa và Nam Sa (hay dưới các tên khác)  thuộc về Trung Quốc.

Tài liệu chứng minh của hồ sơ Bộ Ngoại giao Trung Quốc là hai tác phẩm Nan Zhou Yi Wu Zhi (Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn) và Funanzhuan (Phù Nam Truyện của Khang Thái từ thời Tam Quốc (220-265) đồng thời một danh sách 6 tác phẩm từ đời Tống đến đời Thanh (thế kỷ 11 đến thế kỷ thứ 19) : Mong Liang Lu (Mộng Lương Lục), Qao Yi Zhi Luc (Ðảo Di Chí Lược), Dong Xi Yang Kao (Ðông Tây Dương Khảo), Shun Feng Xiang Song (Thuận Phong Tương Tống), Zhi Nan Zheng Fa (Chỉ Nam Chinh Pháp), Hai Guo Wen Jian Lu (Hải Quốc Văn Kiến Lục). Hồ sơ này xác nhận rằng những tác phẩm trên đây « kể lại những cuộc hành trình của người Hoa đi đến Tây Sa và Nam Sa và những hoạt động sản xuất mà họ đã thực hiện từ hơn ngàn năm »« đã đặt tên lần lượt cho hai quần đảo nầy với những tên sau đây : Jiurulozhou (Cửu Nhũ Loa Châu), Shitang (Thạnh Ðường), Qianlishitang (Thiên Lý Thạnh Ðường, Wanlishitang (Vạn Lý Thạnh Ðường), Changsha (Trường Sa), Qianlichangsha (Thiên Lý Trường-Sa), Wanlichangsha (Vạn Lý Trường Sa) » v.v…

Các bộ sách đã dẫn đã được nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân cho là không phải là chính sử trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007. Ông Phạm Hoàng Quân cũng dẫn chứng bằng các sử liệu của chính TQ là lãnh thổ của TQ chưa bao giờ vượt khỏi đảo Hải Nam

Ngoài ra, học giả Lãng Hồ Nguyễn Khắc Kham, trong Tập san Sử Địa số 29 (tháng 1 đến tháng 3 năm 1975), một tài liệu gối đầu của mọi người VN muốn nghiên cứu HS và TS, cũng đã đã bẻ gẩy mọi lý lẽ của các học giả TQ đưa ra để chứng minh HS là của TQ.

Mặt khác, bộ Nhị thập tứ sử (bộ chính sử được tất cả các triều đại Trung Quốc thừa nhận) tức từ Sử ký ghi chép từ Thượng cổ đến Tần, Hán, cho đến Minh sử; và Thanh sử cảo soạn thời Dân Quốc, ở các mục Địa Dư chí, tất cả đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đất Nhai Châu, Quỳnh Châu, tức Hải Nam ngày nay.

Như thế, các tên Cửu Nhũ Loa Châu, Thạnh Ðường, Thiên Lý Thạnh Ðường, Vạn Lý Thạnh Ðường, Trường Sa, Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa v.v… là từ đâu mà « gắn » vào  HS và TS của VN ?

Theo TS Nguyễn Quang Ngọc thì các địa danh Vạn Lý Trường Sa, Thạch Đường, Thiên Lý Thạch Đường, Cữu Nhũ Loa Châu… chỉ là những địa danh phiếm, chỉ các vùng biển, đảo nguy hiểm, không thuộc TQ.

Cũng theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân trong tài liệu dẫn trên: «xem trong Quỳnh Châu phủ chí (tức tương đương Hải Nam tỉnh chí ngày nay) do Quận thú Tiêu Khánh Thực tổ chức biên soạn vào năm Càn Long thứ 39 (1774), trong quyển 3, phần Dư địa chí, mục Cương vực, thấy chép: “… nam tắc Chiêm Thành; tây tắc Chân Lạp, Giao Chỉ; đông tắc Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc tiếp Lôi Châu phủ Từ Văn huyện” (nam là Chiêm Thành; tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc giáp huyện Từ Văn phủ Lôi Châu). Đoạn văn hành chính về tứ cận này cho thấy rằng, Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường (tức Tây Sa và Nam Sa theo cách nghĩ và gọi của Trung Quốc ngày nay) còn là một nơi chưa rõ chủ quyền và ngoài lãnh hải Trung Quốc mà lại nằm ở hướng Đông của Hải Nam.»

Hồ sơ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã trích dẫn một đọan văn và cho là của Vũ Kinh Tổng Yếu, viết dưới triều Renzong (1023-1063) Bắc Tống :  Triều đình Bắc Tống « ra lệnh cho quân đội hoàng gia tuần tiễu xây dựng  ở Guangnan (Quảng Nam, hiện thời là Quảng Ðông) một nơi đóng quân nhằm vào việc tuần-tiễu trên biển » và « xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư – navire à quille)»… « Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để từ Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) đến Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu)».

Cho rằng Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu) là « quần đảo Tây-Sa », hồ sơ trên kết luận rằng « triều đình Bắc Tống đã hành sử dụng chủ quyền của mình ở quần đảo Tây Sa », và « hải quân Trung Quốc đã tuần tiễu cho đến Tây Sa ».

Nhưng sự thật thì hoàn toàn không đúng như thế. Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu) đã viết như sau :

« … ra lệnh cho quân đội hoàng gia thực hiện việc tuần tiễu, xây dựng một trại quân cho việc tuần tiễu trên biển tại hai bến tàu ở phía Ðông và phía Tây khoảng cách là 280 trượng, cách Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) 200 lí và xây dựng những chiến thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư).

Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây Nam, mất 7 ngày để đi từ Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) đến Jiuruluoshou (Cửu Nhũ Loa Châu), thêm 3 ngày nữa thì đến Pulaoshan (Bất Lao Sơn thuộc Huanzhou Hoàn-Châu), sau khi đi thêm 300 lí về hướng Nam thì tới Lingshandong (Lăng Sơn Ðông). Ở phía Tây-Nam của nơi này thì có các nước Dashifu, Sizi (Tích-Lan), Tianzhu (Thiên-Trúc). Không thể ước-lượng được khoảng cách ».

Đồn Môn Sơn là cửa sông Châu Giang, Quảng Đông. Bất Lao Sơn là cù lao Chàm, Huanzhou là nước Chiêm Thành, Dashifu, hay Dashi, theo một sách cổ của Trung-Hoa, đó chỉ một vương-quốc thời Trung-Cổ ở trong vịnh Persique ; Sizi là Srilanka (Tích-Lan) ; Tianzhu là Ấn Ðộ (theo các sách của Tangshu, Songshi, Gugintushuzisheng).

Như thế, phần trích dẫn ghi trên của Vũ Kinh Tổng Yếu, đoạn ghi lại việc hoàng đế Bắc Tống ra lệnh « xây dựng một trại quân dùng vào việc tuần tiễu trên biển » ở bến Quảng Châu, một đoạn khác mô tả vị trí địa lý của trại quân ghi trên, và một đoạn khác nữa mô tả hải trình đi từ bến Quảng Châu cho đến Ấn Ðộ Dương. Không thấy chỗ nào ghi rằng hải quân Trung Hoa đi tuần tiễu cho đến quần đảo « Xisha » (Tây Sa).

Hồ sơ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cắt ra một đoạn để dán vào đó một đoạn khác, nhằm ngụy tạo bằng chứng để giành lấy Hoàng Sa của Việt Nam.

Nhưng ý nghĩa chính là TQ đặt cho HS và TS một cái tên ở một địa danh nào đó, sau đó đánh chiếm HS và TS của VN với danh nghĩa lấy lại lãnh thổ. Tuy nhiên, vì bịa ra, do đó tài liệu của TQ có nhiều mâu thuẫn không chấp nhận được.

(Còn 1 kì)

Bình luận

1 bình luận (bài “Tìm hiểu ý nghĩa tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc qua một vài kinh nghiệm lịch sử (2)”)

  1. Trương Nhân Tuấn viết:

    Trân trọng cáo lỗi cùng độc giả :
    Có một điểm sai ở phần 7. Hoàng Sa và Trường Sa : Công hàm ngoại giao của Đặc Sứ Thanh triều tại Paris, gởi chính phủ Pháp ngày 29 tháng 9 năm 1932…
    Thực ra phải viết : Công hàm ngoại giao của nước Cộng Hòa Trung Hoa (République Chinoise) tại Paris…
    Năm 1911 thì nhà Thanh đã cáo chung.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>