talawas blog

Chuyên mục:

Bauxite với hai hệ lụy?

22/05/2009 | 12:00 chiều | 15 Comments

Tác giả: Nguyễn Mai Sơn

Category: Bauxite Tây Nguyên
Thẻ:

Tôi chú ý đến bài viết của ông Trương Thái Du, vì bài viết là một “phản biện” với một “phản biện”. Phản biện thì không cần phải ngụy biện bằng số đông với những chức tước, học hàm hay học vị. Phản biện là nguyên tắc luận sự việc ở những góc độ nhận thức khác nhau. Với 30 chục ý kiến phản hồi (có thể hơn nữa) đối với bài viết của ông Trương Thái Du, tôi chú ý đến ý kiến của ông Phùng Hi: “Trương Thái Du không thấy yếu thế sao mà còn xúi “phản biện của phản biện”… Nhưng coi chừng, bạn bị băm thành nước đấy“.

Ông Trương Thái Du hẳn đã vào trang nhà bauxite của nhóm GS. Nguyễn Huệ Chi để đọc sơ bộ về tóm tắt “tiểu sử” của những chữ ký ủng hộ (đang được cập nhật), và xem họ đã đăng tải những gì? Và ông đã “phản biện” qua bài viết “Phản biện của phản biện bô xít”, nhưng ông có sợ người ta “băm” ra thành nước không? Tôi nghĩ rằng, trí thức chứ có phải “đồ tể” đâu mà liên hệ đến những từ “rùng mình” ấy?

Phản biện về việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, đầu tiên và đáng kể là lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng loạt bài viết phân tích (nhiều chiều) trên VietNamNet, tất cả đều tập trung phân tích vào hai hệ lụy chính: an ninh quốc phòng và môi trường (vấn đề môi trường được quan tâm nhiều hơn). Sau đó là là bức Thư ngỏ 1 của nhóm GS. Nguyễn Huệ Chi với hơn 100 chữ ký ủng hộ, rồi Thư ngỏ 2 với vài trăm chữ ký ủng hộ, và Thư ngỏ 3 là hơn 1.000 chữ ký ủng hộ. Không biết có Thư ngỏ 4, Thư ngỏ 5 hay không? Vì mỗi lần phải thêm một thư ngỏ là thư ngỏ trước bị “mất tác dụng” đối với những người chủ trương khai thác bauxite. Nhưng tôi vẫn thắc mắc, nếu không có lá thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp thì nhóm GS. Nguyễn Huệ Chi có ra thư ngỏ (kiến nghị) không?

Người ta thường nói “sự bất quá tam”. Cá nhân tôi không trông chờ nhóm GS. Nguyễn Huệ Chi sẽ ra Thư ngỏ 4. Đó là chưa kể đến thư ngỏ về hình thức thì không phải là một bản phân tích khoa học. Bởi những phân tích khoa học về việc khai thác bauxite đã có qua hội thảo khoa học ở Tây Nguyên, đặc biệt những phân tích khoa học của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn được đăng công khai trên tờ báo VietNamNet (tờ báo mà có người cho rằng nó ở “lề phải”).

Dự án bauxite có vốn đầu tư dự kiến từ 172 – 227 tỷ USD, với tổng cộng 10 dự án lớn, khai thác hàng triệu tấn bauxite mỗi năm để chế biến alumin tại các nhà máy trải dài từ Bình Phước, Lâm Đồng, đến Đăk Nông. Dự án sẽ cho xây dựng các nhà máy điện phân nhôm, xây dựng tuyến đường sắt Tây Nguyên – Bình Thuận và một cảng biển chuyên xuất khẩu nhôm ở Bình Thuận. Và phải đến năm 2012, dự án Nhân Cơ mới tiến hành khai thác bauxite trên các vùng mỏ.

Hầu hết các thông tin báo chí đều nói đến nỗi lo về môi trường mà tác nhân xấu chính là “bùn đỏ” gồm các thành phần không thể hoà tan, trơ, không biến chất và tồn tại mãi mãi như Hematit (Fe2O3), Natri silico aluminate, Canxi titanat, Monohydrate nhôm (Al2O3.H2O), Trihydrate nhôm (Al2O3.3H2O)…

Với những lo lắng cụ thể này, Than Khoáng sản Việt Nam đã trình Chính phủ phương pháp xử lý bùn đỏ bằng công nghệ đang được thế giới áp dụng. Bùn đỏ dạng thải ướt sẽ được chuyển bằng đường ống đến hồ chứa được thiết kế chống thấm bằng vật liệu địa kỹ thuật với bờ đập vững chắc và hệ thống bơm nước tuần hoàn để tháo khô hồ và tái sử dụng nước và lượng xút dư thừa vì giá xút rất đắt. Bùn đỏ sau khi để khô tự nhiên được san ủi thành từng lớp, sau đó phủ một lớp đất màu lên trên và trồng cây để tái tạo giá trị thổ nhưỡng. Vì vậy chỉ cần diện tích hơn 300 ha hồ chứa, có thể đủ cho cả đời dự án công suất 600.000 tấn alumin/năm. Vấn đề là phương án xây dựng hồ chứa sẽ như thế nào khi Tây Nguyên thường xảy ra mưa lớn, lũ ống, lũ quét.

Thực tiễn khai khác bauxite mới cho ra những kiểm nghiệm tốt nhất về hệ lụy môi trường và các hệ lụy về an ninh quốc phòng khác. Chính vì thế dự án được triển khai thí điểm và đánh giá tác động ảnh hưởng ở từng nơi cụ thể.

Tình trạng “chưa đánh đã đau” cũng không phải lúc nào cũng cho ra những kết luận chân thật về sự việc. Vấn đề khai thác bauxite với những cam kết đảm bảo về an ninh quốc phòng và môi trường sẽ được Chính phủ giải trình trong kỳ họp Quốc hội (đang diễn ra). Chúng ta có tin vào quyết định của gần 500 con người ấy không? Nếu không thì thư ngỏ tiếp theo (nếu có) của nhóm GS Nguyễn Huệ Chi sẽ phải gửi đến địa chỉ nào khác chăng?

Hệ lụy về an ninh quốc phòng và môi trường, mấy ông nhà nước có biết không? Ngày 24/4, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã thay mặt Bộ Chính trị ký Thông báo số 245- TB/TW về Kết luận của Bộ Chính trị liên quan đến Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025, trong đó đặc biệt quan tâm đến an ninh quốc phòng, môi trường và văn hóa Tây Nguyên. 

Biết và làm luôn luôn cần thiết hơn nói và làm, và hơn rất nhiều nói mà không làm. Điều quan trọng là biết “đúng”. Đúng trong nhiều hoàn cảnh, trong nhiều thời cơ và trong nhiều thách thức. Cái “biết” ấy tạo nên bản lãnh, thế thuật (cương nhu – từ dùng của Trương Thái Du) của bộ máy cầm quyền.

Với hơn 2.000 công nhân Trung Quốc (và có thể hơn nữa) sang làm việc (chung với người Việt) so với con số lao động nước ngoài của Việt Nam ở từng nước cụ thể không phải là nhiều, nhưng vì sao nó trở thành nỗi “lo sợ” và cả nghi ngờ một cách thái quá? Vì cái “đường lưỡi bò” liếm quá sâu vào Việt Nam, vì những tranh chấp trên đảo Hoàng Sa, Trường Sa, vì những cái mốc biên giới phía Bắc, và vì chủ nghĩa bá quyền… chăng? Vân vân những cái “vì” trên đã trở thành lăng kính “lo sợ” cho Tây Nguyên. Và cũng vì Tây Nguyên là vị trí địa chiến lược, ai chiếm được nó thì có khả năng thống lãnh toàn lãnh thổ, nên những công nhân Trung Quốc vì có mặt ở vùng “nhạy cảm” này đã được hình tượng hóa để trở thành những “chiến binh” có khả năng chiếm giữ Tây Nguyên. Đây là một cái nhìn khá “văn học” và hài hước. Không biết một ngày nào đó dân số người Hoa ở Quận 5, TP. HCM và rải rác trên toàn lãnh thổ (gần 1 triệu người) có trở thành những “chiến binh” của chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc không? Nếu cứ “viển vông” với những chuyện như vậy thì “an” cũng có ngày trở thành “nguy”, “bạn” cũng sẽ trở thành “thù”… “Lo trước cái lo của thiên hạ” là điều đáng khuyến khích, nhưng xin đừng sợ trước cái sợ của thiên hạ. Vì khi chưa ra trận đã run sợ rồi thì cho dù có quấn đầy mình những trang thiết bị quân sự hiện đại thì khi giáp mặt kẻ thù cũng bỏ chạy mà thôi.  

Nếu với hệ lụy về môi trường, việc làm thiết thực là trang nhà bauxite nên kêu gọi các nhà khoa học chuyên môn đóng góp những thành quả nghiên cứu khoa học về bauxite một cách ích lợi nhất cho đất nước. Nhưng trang nhà bauxite được lập ra với phần lớn lượng thông tin chỉ để “phản đối” dự án khai thác bauxite.

Việt Nam là một nước có trữ lượng bauxite đứng thứ 3 thế giới. Nhiều nước có trữ lượng bauxite lớn trên thế giới đều đã tiến hành khai thác. Vậy chúng ta sẽ phải sử dụng những công nghệ tiên tiến nào để sản xuất? Rõ ràng chỉ sau khi tiến hành khai thác, chúng ta mới có những cơ sở thực tiễn để tham khảo nên tiếp tục mở rộng hay chấm dứt việc thực hiện dự án. Kinh nghiệm, sáng tạo nào thì cũng phải có thực tiễn để kiểm nghiệm. Chúng ta đã có lợi thế không nhỏ vì là nước “đi sau” trong khai thác bauxite.

Nhiều công việc trong cuộc sống đều được đảm bảo bằng niềm tin. Nếu tin ở người thì hãy cho họ một cơ hội. Còn nếu những bảo đảm đã được người đứng đầu Chính phủ cam kết mà chúng ta không tin thì đó là cái chúng ta đã mất niềm tin, chứ không phải cái sự việc đã được cam kết, bảo đảm (cần có thời gian để thực tiễn kiểm nghiệm) là không thể thực hiện. Trong một quốc gia mà niềm tin giữa các thành phần xã hội đã không còn với nhau thì mầm “nguy loạn” cũng từ đó mà ra cả.

Trước vấn đề tranh chấp Biển Đông mà Việt Nam vẫn thực hiện nghiêm túc cam kết trong dự án bauxite với Trung Quốc thì đó là một điều sòng phẳng. Bởi “dự án” nào thì cũng phải có cam kết và các nguyên tắc kèm theo. Nếu các nguyên tắc và cam kết không được thực hiện đúng thì vấn đề sẽ không còn giá trị.

Về vấn đề môi trường sống, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những cánh rừng đang trở thành đồi trọc, những dòng sông đang chết vì nhiễm độc, rác thải tràn lan khắp nơi, “đại dịch” túi ni lông…, nhưng tại sao vẫn không được nhiều người trong xã hội quan tâm?  

Môi trường tự nhiên nhiễm độc cũng là do môi trường con người nhiễm độc. Khi “nước loạn”, trên dưới rối bời thì thử hỏi có còn ai ngồi với nhau để bàn việc làm sao ngày mai để dòng sông sẽ xanh trở lại, làm sao có những công nghệ tốt nhất để khai thác bauxite giảm tối đa tác động xấu tới môi trường?…

Tôi không phủ nhận yếu tố tích cực trong phản biện của nhóm GS Nguyễn Huệ Chi, nhằm thúc đẩy nhà nước đi đến những giải pháp tốt nhất có thể cho môi trường và an ninh quốc phòng tại Tây Nguyên, nhưng nên tập trung những bộ óc có đủ những chuyên môn khoa học để phân tích và tìm giải pháp cho hai vấn đề trên. Và dĩ nhiên, những chữ ký ủng hộ sẽ có giá trị khi tương đồng với nhận thức đúng về hai vấn đề này, chứ không phải con số chữ ký là bao nhiêu. Trong thư gửi cho linh mục Lê Quang Uy, nhóm GS Nguyễn Huệ Chi cũng nói: “Chúng tôi lấy làm cảm kích khi nhận đựợc qua e-mail của Ngài lời đề nghị hành động hiệp thông chống thảm họa bauxite. Mối quan tâm của Ngài về hiểm họa bauxite có thể xẩy ra trên đất nước chúng ta một khi khai thác thứ quặng ấy, theo chúng tôi là chính đáng, và hẳn nó phải xuất phát từ một động cơ trong sáng dù rằng chúng tôi không thể nhìn thấy hết mọi khía cạnh của vấn đề“.

Nguyên nhân phản đối bauxite được lý giải: “Do một sự tình cờ mà chúng tôi như là nhận được sự “ủy thác” của 135 nhà trí thức gửi bản Kiến nghị đầu tiên lên các cơ quan công quyền Nhà nước Việt Nam vào ngày 17-4-2009“. Tôi nghĩ đây không phải một câu nói thật với 100% ý nghĩa và động cơ của sự phát động chữ ký. Nhưng dù gì, nhóm GS. Nguyễn Huệ Chi đã tỉnh táo khi từ chối lời đề nghị “hiệp thông” chống thảm họa bauxite (“phòng” thì đúng hơn, chứ làm sao “chống” một cái chưa diễn ra) của nhóm linh mục dòng Chúa Cứu thế, một nhóm vốn đã có xung đột với nhà nước khi hiệp thông cầu nguyện “đòi đất” ở Hà Nội vừa qua. Và chỉ riêng những người “hiệp thông” chống thảm họa bauxite của nhóm linh mục trên đã gấp mấy lần những chữ ký của nhóm GS Nguyễn Huệ Chi. Nhóm GS Nguyễn Huệ Chi đã nói: “Chúng tôi không thể rời bỏ các nguyên tắc do mình đề ra và đã được hơn một nghìn người nhiệt liệt tán thành. Rời bỏ những nguyên tắc ấy tức là tự mình hủy bỏ ý nghĩa và giá trị vốn có của Kiến nghị. Vì những lý do như thế, chúng tôi xin gửi thư này kính mong LM hết sức thông cảm“.  

Người phản đối và người chủ trương khai thác đều có những “nguyên tắc” không thể “tự hủy”, song vẫn có những vấn đề đang dần vượt ra ngoài chuyên môn về bauxite, “chống” bất cứ cái gì liên hệ đến bauxite (không như những thông tin phản đối công nghệ khai thác của Trung Quốc và sự có mặt của nhiều người Hoa tại Tây Nguyên).

Vì thế, tôi chú ý nhiều đến đoạn sau trong Thư ngỏ số 3: “Chúng tôi kêu gọi quý vị đại biểu tại kỳ họp này hãy đưa vấn đề bauxite Tây Nguyên đặt lên bàn nghị sự và đi tới một nghị quyết có tính toán toàn diện đến việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên; cụ thể là: a) Yêu cầu Chính phủ cho ngưng toàn bộ dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin hiện đang có với mọi đối tác: Australia, Nga, Trung Quốc, v.v. tại đây cũng như mọi nơi khác trên lãnh thổ chúng ta. Hãy để cho thế hệ sau, 25 – 30 năm nữa, với trình độ kỹ thuật cao hơn, trở lại xem xét khả năng khai thác bauxite, sản xuất alumin; b) Thành lập một Ủy ban nghiên cứu đường hướng phát triển kinh tế cho Tây Nguyên với sự hợp tác của nhiều lãnh vực chuyên môn và giữa các nhà trí thức trong và ngoài nước“.

Vấn đề bauxite Tây Nguyên chắc chắn sẽ lên bàn nghị sự. Còn “nghị quyết có tính toàn diện đến việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên“, tôi nghĩ rằng không những nó sẽ có mà còn kèm theo những đảm bảo về an ninh quốc phòng và môi trường nữa. Nhưng đọc đến cái yêu cầu “cụ thể”: “Yêu cầu Chính phủ cho ngưng toàn bộ dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin hiện đang có với mọi đối tác: Australia, Nga, Trung Quốc, v.v. tại đây cũng như mọi nơi khác trên lãnh thổ chúng ta”, thì tôi lại thấy dường như có mâu thuẫn trong diễn đạt, vì đã yêu cầu ngưng toàn bộ dự án khai thác với mọi đối tác (trong khi nhiều phản biện khoa học chủ yếu phản đối công nghệ của Trung Quốc), thì còn phải “nghị sự” và ra “nghị quyết có tính toàn diện đến việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên” làm gì nữa.

Nhưng dừng khai thác bauxite để làm gì? “Để cho thế hệ sau, 25 – 30 năm nữa, với trình độ kỹ thuật cao hơn [Của ai: Việt Nam, Australia, Nga, V.v… (Mỹ, Pháp, Đức, Ý?) hay vẫn lại là Trung Quốc?], trở lại xem xét khả năng khai thác bauxite, sản xuất alumin“. Vấn đề khai thác bauxite cũng đã tồn tại gần 30 năm, nay mới đi vào thực hiện ở những dự án cụ thể và có khả năng xét đến giai đoạn 2025 (bằng với thời gian nhóm GS Nguyễn Huệ Chi đã đưa ra). Nhưng nếu phải chờ đến 25 – 30 năm nữa, để (thế hệ nào đó) đem ra xem xét, và rồi sẽ có một “nhóm trí thức mới” quan tâm đến môi trường và an ninh quốc phòng hơn chúng ta bây giờ, bất chấp tất cả mọi đối tác (có công nghệ như thế nào) để yêu cầu “ngưng vĩnh viễn toàn bộ dự án bauxite” thì sẽ “an toàn” hơn chăng?

Người không ký tên trong bản kiến nghị của nhóm GS Nguyễn Huệ Chi không có nghĩa rằng họ không quan tâm đến an ninh quốc phòng và môi trường Tây Nguyên. Nhưng mỗi người có một cách nhìn và cách thể hiện khác. Tôi chú ý nhiều đến đoạn kết của ông Trương Thái Du: “Thiết nghĩ, tinh thần xây dựng mới là sức mạnh chính trực của trí thức. Không có tự phản biện thì không riêng gì bô xít, bất cứ phong trào nào dán nhãn mác trí thức của xã hội Việt Nam trong tương lai, sẽ mang nặng tính lôi kéo đám đông hơn là lương tri, là ý thức. Điều khiển đám đông bằng vô thức thì lợi bất cập hại. Nó chỉ cho kết quả nhất thời, ở một vấn đề hẹp. Nó là đoản kế“.

“Giàn vững tại cây”, nhưng dường như mỗi cái cây đang ngó một hướng. Chúng ta đang thật thà (hết biết) để “phơi bày lòng dạ” của nhau. Theo tôi, đó không chỉ là “đoản kế” mà còn là “trúng kế”! Lúc đó không chỉ có hai hệ lụy từ bauxite mà còn xuất hiện nhiều hệ lụy khác nữa trong xã hội.

© 2009 Nguyễn Mai Sơn

© 2009 talawas blog

Bình luận

15 Comments (bài “Bauxite với hai hệ lụy?”)

  1. Tôn Thất Tuệ viết:

    Cách đây bốn năm tôi trở về Huế với sông Hương vàng quện đất sét, là con sông chết trong lúc nước Hậu Giang không trong nhưng là chất sống phù sa. Lòng sông cạn dần, nước chảy không kịp làm nơi trú ẩn cho bèo Nhật Bản phát triển chiếm mặt sông. Nguyên do: trên thượng nguồn người ta đang sửa đường Trường Sơn. Đường nầy quá lắm bằng freeway bên Mỹ mà còn như thế, nay cả vạn vạn mẫu xới lên cho mềm làm mồi cho nước mưa sẽ ra sao? Sự xâm thực của nước ngày một tệ hơn trong vòng lẩn quẩn (vicious circle). Đất màu lùa qua một bên, lấy đất đỏ hòa trong nước chờ khô đem trở lại rồi đưa lớp đất thịt về chốn cũ. Nghe hợp lý nếu làm trong vườn nhỏ. Phải phá thêm nhiều đất để chứa đất mùn. Xin các vị biết canh nông, công chánh… cho ý kiến.

    Nói môi sinh không ai chú ý thì khiếm diện. Dân chúng không có những danh từ chuyên môn nhưng biết nước sông quanh Sài Gòn không nuôi cá được nữa. Cô bé Thục Vy ở Quảng Nam đã khóc cho dòng sông Thạch Bàn chết. Sông Trà Khúc Quảng Ngãi sẽ chết trong sự án biến sông thành cái hồ với khu giải trí bên trên. Hơn nữa theo lý thuyết thì đảng sáng suốt, nghĩ thay cho dân, sao Đảng không nghĩ giúp cho?

    Những hợp đồng bất tương xứng dưới áp lực, vi hiến vi pháp của người ký đều có thể hủy bỏ. Vấn đề là có dám nhìn lại việc đã làm, tự vấn. Dân chủ không phải không sai lầm nhưng có thể sửa những sai lầm. Nên tin tường vào nguyên tác nầy hơn là tin tưởng vào những điều không mấy đáng tin trong quá khứ.

  2. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Trang Tử nói: “Đồng ý với ta, cho ta là phải; không đồng ý với ta, cho ta là quấy… Đã cho ta biện bác cùng anh, anh được, ta không được, vậy anh đã hẳn là phải, mà ta đã hẳn là quấy chăng? Nếu ta thắng được anh, anh không thắng được ta, vậy ta hẳn đã là phải, mà anh hẳn đã là quấy chăng? Hay là, hoặc khi phải, hoặc khi trái chăng? Hay là cả hai ta cùng phải cả, hoặc cùng quấy cả chăng? Ta cùng anh không thể biết được nhau vậy. Giờ ta phải nhờ đến ai để quyết định điều đó? Nhờ kẻ đồng với anh để quyết định điều đó ư? Họ đã đồng với anh thì làm sao mà quyết định được. Cậy người đồng với ta để quyết định điều đó ư? Họ đã đồng với ta thì làm sao mà quyết định việc đó được. Vậy phải nhờ kẻ khác với anh và ta để quyết định điều đó ư? Họ đã khác với ta và khác với anh thì làm sao mà quyết định được. Nhờ người đồng với ta và đồng với anh để quyết định điều đó ư? Họ đã đồng với ta và đồng với anh thì làm sao mà quyết định được việc đó? Vậy thì, ta cùng anh, cùng người đều không thể biết nhau, còn phải đợi kẻ khác làm gì? ”.

  3. Phạm Quang Tuấn viết:

    Một quy hoạch trị giá hai năm tổng sản lượng quốc gia, nguy hiểm cho môi trường và quốc phòng, làm đảo lộn các kế hoạch về phát triển, điện lực, giao thông, du lịch, môi trường, văn hóa, v.v. mà khởi sự từ một sự thỏa thuận kém minh bạch giữa hai lãnh tụ, quy hoạch hấp tấp, không làm báo cáo môi trường chiến lược như đã quy định trong Luật Môi Trường, các dự án, cái thì không làm báo cáo tác động môi trường, cái thì làm lén lút không công bố (trái Luật Môi Trường), không đưa ra Quốc Hội như Luật Đầu Tư đòi hỏi, dùng tiền công quỹ mua công nghệ cũ trị giá mấy trăm triệu đô la mà không đấu thầu minh bạch, v.v. Chỉ riêng cái vụ toan tính luyện nhôm trong khi quốc gia còn thiếu điện để phát triển bao nhiêu mặt khác là thấy kém suy nghĩ nghiêm túc rồi. Lối làm ăn đó không phải là LÀM ĐẠI thì gọi là gì. Làm ăn như vậy, mà còn có người kêu gọi dân chúng phải TIN TƯỞNG, giao phó hai năm tổng sản lượng vào cho họ làm thì thật khó hiểu.

    Ông NM Sơn nhắc đi nhắc lại những luận cứ như: phải nghiêm túc giữ lời hứa với “bạn”, tính đổ đồng trên 50 năm sẽ lời, hãy tin tưởng lãnh đạo, v.v. càng làm người đọc ớn lạnh.

  4. Phùng Tường Vân viết:

    Thưa ông Nguyễn Mai Sơn,

    Được nghe ông luôn nhắc đến những điều như phải có sự tin tưởng, phải có thời gian, phải chờ sự chứng nghiệm…, nhưng đặt niềm tin ấy, sự chờ đợi ấy, sự chứng nghiệm của những quyết định… nơi nhà nước Việt Nam hiện tại, Quốc hội hiện tại, Đảng Cộng sản Việt Nam
    hiện tại, với những nhà lãnh đạo mà đức độ, khả năng như thế thì thực tình tôi thấy không những chỉ cá nhân tôi mà rất nhiều người không khỏi quá quá sợ hãi về niềm lạc quan “bất trị” của ông. Chứng tích thì nhiều lắm, tôi chỉ xin nêu ra ý ấy để nếu ông chê là thô lậu thì sẽ xin được hầu chuyện tiếp.

  5. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa ông Phạm Quang Tuấn,
    Một Chính phủ bao giờ cũng có người tin và người không tin những việc làm của họ. Ở Mỹ, không phải ai cũng tin ngay vào gói kích cầu khổng lồ của ông Bush và ông Obama. Vấn đề kinh tế nào ở Việt Nam cũng như vậy thôi.
    Ông viết: “Ông đòi LÀM ĐẠI rồi sẽ thấy, có dân nước nào để CP của họ chơi kiểu đó không?”.
    Tôi chưa có một ý nào trong bài nói là “LÀM ĐẠI” cả. Tin vào việc làm (có đảm bảo) của người khác, tôi có thể tin sai, nhưng chí ít cũng phải có thời gian để thực tiễn kiểm nghiệm phải không ạ?
    Chính phủ đã gửi Quốc hội báo cáo về bauxite (http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/849358/):
    “Xung quanh vấn đề hiệu quả kinh tế, báo cáo cho biết theo Tập đoàn Than – Khoáng sản VN (TKV), hiệu quả kinh tế của hai dự án đã được tính toán. Theo đó, thời gian thu hồi vốn khoảng 13 năm. Những năm đầu của dự án có một số năm lỗ (lỗ kế hoạch), tuy nhiên đánh giá cả đời dự án là có hiệu quả kinh tế. Báo cáo nhận định: Giá nhôm trên thị trường hiện nay đang ở mức giá sàn rất thấp (1.426 USD/tấn), giảm khoảng 70% so với giá nhôm thời kỳ 2006-2007. Giá alumin cũng tương ứng giảm theo. Tuy nhiên, các dự án alumin Tây Nguyên đều có tuổi đời trên 50 năm, vì vậy hiệu quả kinh tế của dự án được tính toán dựa trên cơ sở dự báo, phân tích và lựa chọn giá bán alumin bình quân cho “cả đời” dự án là 362 USD/tấn thì phù hợp”…

  6. lang nghe viết:

    Thưa ông Nguyễn Mai Sơn,

    Tôi rất mừng đọc phản hồi của ông xác định ông không có ý “bài Hoa”. Tôi thành thật xin lỗi, dẫu tôi không hề cố ý chụp mũ nặng như chì. Hiện tình VN mà để xảy ra cái điều không hay đó thì quả là nguy hiểm.

    Tôi còn nhớ ai đó có nói rằng: “muốn làm lịch sử thì phải hiểu rõ lịch sử 20 năm về trước, định hướng được chiều hướng lịch sử 20 năm về sau”. Thế mà ở VN, cái không ai có thể ngờ như ông viết đã xảy ra.

    Trong vấn đề khai thác bôxit, Mỹ đã bỏ, còn lại Australia, Nga và Trung Quốc. Liệu xem chúng ta tiếp tục khai thác mà lại loại bỏ TQ vì lý do công nghệ của họ thấp thì chúng ta có lại nói với nhau rằng “không ai có thể ngờ”?

    Mong rằng người VN không vì vấn đề này mà chia rẽ nhau.

  7. Phạm Quang Tuấn viết:

    (tiếp)

    Ông có thể lý luận rằng Mỹ là Mỹ, Việt Nam là Việt Nam, ý dân VN không đáng tôn trọng bằng ý dân Mỹ, môi trường VN không đáng bảo tồn bằng môi trường Mỹ, luật pháp VN không đáng tuân thủ bằng luật pháp Mỹ. Nhưng tôi và rất nhiều người dân VN khác xin phép nghĩ khác ông. Chúng tôi không đồng ý là phải nhắm mắt tin một chính phủ tiêu HAI NĂM LỢI TỨC của dân một cách liều lĩnh, cẩu thả, bất hợp pháp, chỉ vì ông chủ tịch đã lỡ ký kết với nước đàn anh. Ông đòi dân VN tin, nhưng quá khứ đã cho thấy gì để dân tin? Và dù dân VN tin chính phủ VN bằng như người Mỹ tin chính phủ của họ, thì lòng tin đó có đủ để cho CP tiêu HAI NĂM thu nhập mà không kiểm điểm không? Ông đòi LÀM ĐẠI rồi sẽ thấy, có dân nước nào để CP của họ chơi kiểu đó không?

    Tôi không cần phải dẫn chứng những hành động ẩu tả, bất hợp pháp của chính quyền trong chuyện này, vì đã có tài liệu đầu đủ trong trang web về bauxite Tây Nguyên.

    Dân VN nghèo hơn dân Mỹ, môi trường VN bị tàn hại nhiều hơn môi trường Mỹ (lý do chính là vì sự lơ là cẩu thả và tham nhũng của chính quyền), nhưng đó không phải là lý do chính đáng để có quyền ẩu tả hơn Mỹ, mà trái lại đáng lẽ phải làm chúng ta cẩn trọng hơn.

  8. Phạm Quang Tuấn viết:

    Thưa ông Nguyễn Mai Sơn:

    Tổng cộng các dự án bauxite, theo ông, là chừng 200 tỷ đô la. Với dân số VN 90 triệu người, tính ra là hơn 2000 đô la một đầu người. Thu nhập đầu người dân VN chừng 1000 đô la một năm. Tức là, chính phủ VN đang tính đầu tư hai năm thu nhập của mỗi người Việt Nam vào những dự án này. Nếu CP Mỹ đầu tư một số tiền tương đương, 100 ngàn đô/đầu người, hay 30 triệu tỷ (30 trillion) tổng cộng, vào một dự án khởi sự trong vòng bí mật, giữa TT Obama và CT Hồ Cẩm Đào, làm tanh banh môi trường của Mỹ, không duyệt qua quốc hội, không công khai hóa tính toán lời lỗ, không làm báo cáo môi trường đàng hoàng, không đếm xỉa luật pháp của chính mình như luật đầu tư và luật môi trường, đến lúc công chúng khám phá ra thì là sự đã rồi, thì ông nghĩ công chúng Mỹ hay một nước văn minh nào khác sẽ phản ứng ra sao? Obama chỉ đưa ra một cái bill chưa đầy 1 trillion mà đã gây tranh cãi ầm ỹ.

    (ct)

  9. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa ông lang nghe,
    Điều “sòng phẳng” chính là dựa trên những nguyên tắc đã cam kết. Nếu bỏ đi những nguyên tắc và cam kết thì vấn đề không còn giá trị. Sự việc Trung Quốc ký với ông Nông Đức Mạnh từ năm 2001 về vấn đề khai thác bauxite là lúc chưa có những diễn biến phức tạp ở Biển Đông như hiện nay. Và cũng không ai có thể ngờ rằng vấn đề bauxite mà các chuyên gia Liên Xô cảnh báo từ những năm 80 thế kỷ trước (lúc quan hệ Việt Nam – Trung Quốc cực xấu) sau này một phần trong khai thác lại có mặt nhà đầu tư Trung Quốc. Đó là những diễn biến ngoại giao khó lường. Vấn đề Biển Đông do vậy đã trở nên là một cảnh giác “song trùng” trước một vấn đề kinh tế.
    Nếu ông đọc kỹ bài tôi viết thì ông sẽ thấy, tôi không hề muốn nhìn vào những công nhân lao động người Hoa bằng cái nhìn “bài Hoa”. Và tôi cũng không bao giờ nhìn gần 1 triệu người Hoa trong nước hiện nay là những người gây hại cho đất nước. Ông gắn cảnh báo “xin đừng vô tình hay cố ý xúi bẩy phong trào “bài Hoa” là gắn trật vậy.
    Tôi không đồng ý với quan điểm của nhóm GS Nguyễn Huệ Chi là dừng khai thác bauxite ở mọi nơi và với mọi đối tác. Nhưng nếu nhóm GS Nguyễn Huệ Chi chỉ không đồng tình với “công nghệ” của Trung Quốc thì cá nhân tôi rất chịu. Vấn đề là ở chỗ này vậy.
    Nhóm ông Nguyễn Huệ Chi viết như sau: “Việc viết thư ngỏ… để công khai cho đông đảo nhân dân xem và phán xét lập luận cùng thái độ của chúng tôi đúng hay sai”.
    Với những “lời mời” này mà tôi viết. Nhưng đã có những “cái mũ nặng như chì” chụp xuống.

  10. Hoà Nguyễn viết:

    Tựa bài viết nêu hai hệ lụy, và dường như là:

    1/ Hệ lụy môi trường: Phương pháp xử lý bùn đỏ chỉ là nhắc lại từ những bài đã thấy trên trang “Bauxite Viet Nam”, tiêu biểu như bài “TKV xử lý bài toán ‘bùn đỏ’ ra sao?”.
    Có câu hỏi: “những cánh rừng đang trở thành đồi trọc, những dòng sông đang chết vì nhiễm độc, rác thải tràn lan khắp nơi, “đại dịch” túi ni lông…, nhưng tại sao vẫn không được nhiều người trong xã hội quan tâm?”.
    Chắc đã có nhiểu người, nhiều bài viết nói tới những thứ đó, nhưng nhà nước quan tâm thì mới có thể xử lý tốt được. Chuyện thấy trước mắt đã vậy, thí làm sao tin được nhà nước quan tâm và xử lý tốt ô nhiễm xảy ra trong tương lai chỉ mới một số người nói tới mà chưa ai thấy tận mắt.

    Nguời ta cho sở dĩ VN hiện trong tình trạng ô nhiễm môi trường tệ hại đền thế là vì: thiếu kiến thức bảo vệ môi sinh (ở người dân và ở chính quyền),tham nhũng (chỉ ở chính quyền), và vô trách nhiệm (ở cả hai). Qua đó thấy vai trò của chính quyền rất nặng, nếu hiện chưa làm tốt, tin được sẽ tốt hơn trong vụ bauxite không.

    2/Hệ lụy về an ninh quốc phòng: Tin là Bộ Chính trị và Nhà nước đã biết hết rồi. Vậy thì thôi.

    Tuy bài dùng nhiều lý luận để phản bác, minh chứng, nhưng lại dựa nhiều vào lòng tin : “Nhiều công việc trong cuộc sống đều được đảm bảo bằng niềm tin. Nếu tin ở người thì hãy cho họ một cơ hội”. Đây là tin ở “chủ trương lớn”, tin sẽ xử lý tốt ô nhiễm, tin ở cả TQ.
    Nhưng cũng trong cuộc sống, nhiều người vì quá tin người khác mà mất hết mọi thứ.

  11. lang nghe viết:

    @ Nguyễn Mai Sơn
    Đọc bài “bauxite và 2 hệ luỵ” của ông, tôi xin góp vài ý kiến:

    1)ông cho rằng:”Nhưng tôi vẫn thắc mắc, nếu không có lá thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp thì nhóm GS. Nguyễn Huệ Chi có ra thư ngỏ (kiến nghị) không?”.Tôi nhận thấy thắc mắc này như một lời khẳng định của ông là GS Chi nấp sau lưng tướng Giáp (một người đã quá già, ai ai cũng biết). Đoạn kết bài viết ông mượn lời TTDu “Điều khiển đám đông bằng vô thức thì lợi bất cập hại”. Đoạn đầu và đoạn kết của ông làm cho tôi nhận định ông cho rằng việc làm của GS Chi trong vấn đề bôxit hiện nay là a dua theo tướng Giáp, và đại tướng Võ nguyên Giáp thì quá già, tiếng nói của ông ấy chỉ được phát ra từ vô thức (xem như không có giá trị thực tiễn).

    Ông có thể đúng khi suy luận thập niên 80, thế kỷ trước thì VN và TQ là kẻ thù, đặc biệt là tình hình Kampuchia, hiện nay mọi chuyện đã khác, “4 tốt và 16 chữ vàng” là khuôn vàng thước ngọc đủ để giữ vững an ninh quốc phòng cho Tây nguyên trước những lo ngại từ TQ. Nhưng,thưa ông Sơn, biển Đông rành rành ra đấy, không lo, không ngại mới là người có vấn đề chứ cái lo ngại TQ không bắt đầu từ nơi cái vô thức đâu ông ạ.

    2)Ông trộn lẫn người Hoa kiều ở VN với công nhân TQ trên công trường bôxit Tây nguyên là giống nhau khi ai đó cho rằng công nhân TQ tại VN có thể là những chiến binh của TQ gây nguy hại an ninh quốc phòng VN. Tôi nhận thấy sự “trộn lẫn lộn” này mới thực là “một cái nhìn khá “văn học” và hài hước” (cái nhìn của ông đấy).

    3)Ông viết rằng:”Trước vấn đề tranh chấp Biển Đông mà Việt Nam vẫn thực hiện nghiêm túc cam kết trong dự án bauxite với Trung Quốc thì đó là một điều sòng phẳng”. Tôi biết rằng ở VN, đảng lãnh đạo là tiêu chí đầu tiên, ông TBT Mạnh đã ký kết với TQ về vấn đề bôxit Đaknong từ 2001, lại được nhắc lại năm 2008 nên theo ông việc tiến hành khai thác bôxit Tây nguyên là một hành động nghiêm túc. Thưa ông Sơn,nếu quả thật ông nghĩ như thế, tôi rất mong đọc thêm một bài nữa của ông về đề tài bôxit mang dáng dấp câu chuyện “trẻ con không ăn được thịt chó” của nhà văn Nam Cao. Tôi góp ý, khi viết bài đó ông cố vận dụng hết khả năng để độc giả không cho rằng ngoại trừ các đảng viên ĐCSVN thì tất tần tật những ai đang là con dân VN đều là trẻ con.

    Ông Sơn và những người cùng quan điểm ông thân mến. Là người VN có quan tâm đến tiền đồ tổ quốc VN, ai cũng nhìn được bôxit TÂY NGUYÊN là một vấn đề quan trọng và nó có thể là một cái “bung xung” để tạo nên một vấn đề lớn hơn là tổ quốc VN mất đất ,mất biển. Mong ông và bạn bè ông (những con người trí thức) nên tìm hiểu thêm các bài viết của ông Dương danh Hy để có quan điểm cụ thể về “mối quan hệ bôxit TÂY NGUYÊN” và xin đừng vô tình hay cố ý xúi bẩy phong trào “bài Hoa”. Trung Nam Hải (có thể) đang chờ đợi điều ấy xảy ra. Con dân VN không sợ như ông đã biến lo ngại thành sợ (ông đã viết). Máu xương chỉ đổ khi không thể không đổ cho quê hương.

  12. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Xin thưa thêm với ông Nguyen Nhat Anh,
    Ông dẫn đoạn tôi viết: “Thực tiễn khai khác bauxite mới cho ra những kiểm nghiệm tốt nhất về hệ lụy môi trường và các hệ lụy về an ninh quốc phòng khác. Chính vì thế dự án được triển khai thí điểm và đánh giá tác động ảnh hưởng ở từng nơi cụ thể.”.
    Thực tiễn đã chứng minh như ông nói tôi không phủ nhận về mặt lý thuyết, bởi trong đoạn trích trên tôi đã nói: “triển khai thí điểm và đánh giá tác động ở từng nơi cụ thể”. Nhưng nếu ở bất cứ đâu vấn đề khai thác bauxite cũng “từ lỗ đến dẹp tiệm” thì tôi đành nhường hết cái “thực tiễn” đó cho ông nói.
    Còn nữa, nếu bất kỳ vấn đề gì trên diễn đàn bauxite liên quan đến Công giáo (hay bất cứ tôn giáo, tư tưởng nào) mà tôi liên hệ đến mà ông cho rằng tôi chia rẽ thì xin thưa ông, phải chăng bauxite chỉ có tương quan trực tiếp với đất và cảnh vật, con người Tây Nguyên thôi? Hòa thượng Quảng Độ cũng phản đối bauxite, vị Hòa thượng này từng khuyến cáo ai đó cùng “hiệp thông” bất tuân dân sự, nhưng đã có người nào làm theo không? Và nếu tôi nói đến chuyện này cũng bị coi là chia rẽ Phật giáo, thì thật tôi cũng đang muốn sặc nước đây ông ạ!

  13. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa ông Nguyen Nhat Anh,
    Ông hỏi tôi: “Ông có cố đọc hết các bài phân tích về lợi và hại của khai thác bauxite trên thế giới trước khi ông đặt bút viết bài này?”. Đó là một câu hỏi không tưởng. Nhưng có hai từ mà tôi tiếp thu trên câu hỏi của ông đó là “lợi hại” (không chỉ có hại, cái hại đã có quá nhiều người chỉ ra). Và không chỉ khai thác bauxite đâu mà Việt Nam còn dự tính xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Thảm họa nhân đạo và môi trường đến từ cái hại của các lò điện hạt nhân có kém không ạ. Một dự án mà không thấy và không tính đến cái hại mới là chuyện lạ nhất trên đời này. Còn cái lợi, xin ông đọc bài: “Cuộc cạnh tranh bôxit Tây Nguyên giữa hai nước Trung Quốc – Mỹ…” trên trang nhà của nhóm GS Nguyễn Huệ Chi sẽ rõ. Người Trung Quốc đánh giá mỏ bauxite Tây Nguyên như thế nào, và tại sao cả Mỹ và Trung Quốc đều phải cạnh tranh?

  14. Nguyen Nhat Anh viết:

    Ông Sơn viết: “Người ta thường nói ‘sự bất quá tam’. Cá nhân tôi không trông chờ nhóm GS. Nguyễn Huệ Chi sẽ ra Thư ngỏ 4”

    Thưa ông, có thể ông không trông chờ nhưng rất nhiều người khác, trong đó có tôi đang trông chờ và mong nhóm GS Chi có thêm sức mạnh từ tất cả người VN trong và ngoài nước. Những điều nhóm GS Chi làm ngày hôm nay chắc chắn được mọi con dân VN ghi nhận. Riêng tôi xin gởi lời cảm ơn tới nhóm GS Chi, cám ơn và khâm phục ở tấm lòng và sự dũng cảm của các bạn.

    Ông Sơn viết: “Về vấn đề môi trường sống, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những cánh rừng đang trở thành đồi trọc, những dòng sông đang chết vì nhiễm độc, rác thải tràn lan khắp nơi, ‘đại dịch’ túi ni lông…, nhưng tại sao vẫn không được nhiều người trong xã hội quan tâm?”

    Thưa ông, biết bao người VN quan tâm và báo chí trong nước cũng đưa tin nhưng rồi chính phủ làm tới đâu. Ông cứ nhìn điển hình vụ Vedan thì thấy. Chắc ông còn nhớ vụ nước tương Chinsu? Ông có nghe làng ung thư? Còn mưa ngập lụt Hà Nội thì cán bộ bảo rằng đó là “cuộc tổng diễn tập”.

    Tôi thiết nghĩ dù chỉ là “cục phân” cũng nên biết cảnh tỉnh những người chung quanh về dự án Bauxite, nói chi là trí thức.

    Bây giờ nói ngắn gọn về khía cạnh kinh tế. Nếu ông hay ông Trương Thái Du hoặc bất cứ trí thức nào có khả năng trình bày cái lợi của dự án Bauxite thì xin cho mọi người biết. Tôi sẽ giải thích lại với ông một số vấn đề đơn giản để thấy các nước kiếm lợi từ khai thác bauxite như thế nào.

  15. Nguyen Nhat Anh viết:

    Ông Sơn viết: “Thực tiễn khai khác bauxite mới cho ra những kiểm nghiệm tốt nhất về hệ lụy môi trường và các hệ lụy về an ninh quốc phòng khác. Chính vì thế dự án được triển khai thí điểm và đánh giá tác động ảnh hưởng ở từng nơi cụ thể.”

    Hình như cái này có ông thần nào làm ở Bộ đã nói. Lúc đọc tới đó thì tôi muốn sặc nước vì đúng là trình độ lớp 3-4 mới phát biểu như vậy, hoặc cũng có thể chưa hiểu hết về ngành khai thác khoáng sản, nhất là nhôm.

    Thưa ông Sơn, ông có cố đọc hết các bài phân tích về lợi và hại của khai thác bauxite trên thế giới trước khi ông đặt bút viết bài này?

    Thực tiễn đã chứng minh là khai thác quặng thô bauxite để tách ra alumina trước khi sản xuất aluminum là hoàn toàn bất lợi cho quốc gia có quặng. Từ lỗ tới dẹp tiệm vì các điều cơ bản sau đây:

    – Lượng bùn đỏ tạo độ acid thẩm thấu vào đất và nước rất cao (độ PH >12, trong khi cây chỉ có thể sống với độ PH khoảng 6).
    – Khí carbon dioxide thải lên trời trong quá trình tách bauxite ra alumina tới hơn triệu tấn cho một tấn bauxite tách ra alumina.
    – Toàn bộ vùng khai thác, chuyên chở, cảng biển sẽ bị ô nhiễm trong quá trình vận chuyển.
    – Quan trọng hơn là lượng điện phải cung cấp lên đến hơn hàng Tỷ kilowat mỗi năm.
    – Ngoài ra lượng nước phải cung cấp là điều không tưởng. À, vậy còn hàng chục triệu tấn nước độc sẽ xử lý như thế nào?

    Bài ông viết toát lên một mùi chia rẽ, đặc biệt là lồng Công giáo vào đây.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>