talawas blog

Chuyên mục:

Thấy gì qua cuộc điều tra năng lực cạnh tranh? (1)

06/05/2009 | 1:22 sáng | Chức năng bình luận bị tắt ở Thấy gì qua cuộc điều tra năng lực cạnh tranh? (1)

Tác giả: Trần Bình

Category: Kinh tế - Môi trường
Thẻ:

Kết quả cuộc điều tra Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm thứ tư được công bố tháng 12/2008. Công trình nghiên cứu này được thực hiện với sự hợp tác giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa kỳ (USAID) tài trợ, có sự đóng góp của Quỹ Châu Á, và dưới sự hướng dẫn thực hiện của Giáo sư Edmund Maleskey, Đại học California – San Diego. Chỉ số năng lực cạnh tranh “đo lường và xếp hạng công tác điều hành kinh tế của các tỉnh dựa trên môi trường kinh doanh” (1). Các đánh giá và phân tích rút ra từ các cuộc điều tra này có thể giúp các nhà đầu tư, nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn môi trường kinh doanh, chính quyền cấp địa phương nâng cao ý thức trách nhiệm và cải thiện năng lực quản lý, chính quyền trung ương có thể hoạch định chính sách hiệu quả hơn.

Đối tượng tham gia điều tra PCI là các doanh nghiệp dân doanh, và các chỉ số điều tra là những lĩnh vực then chốt đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, do đó, chủ đích của điều tra là cải thiện môi trường kinh doanh tư nhân, nhằm “thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân” (2). Năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân và năng lực điều hành của chính quyền địa phương là hai trong số các nhân tố thiết yếu cho sự phát triển của mọi quốc gia, song đặc biệt quan trọng tại các nước đang phát triển, như Việt Nam, khi tiến trình phân quyền và xây dựng năng lực điều hành guồng máy chính quyền địa phương đang diễn ra, trong bối cảnh của một nền kinh đang chuyển đổi từ kế hoạch hoá tập trung và khép kín sang cơ chế thị trường và hội nhập.

Trong quá trình phân quyền địa phương và chuyển đổi của nền kinh tế, khoảng cách giàu nghèo giữa các miền, vùng ngày càng mở rộng; điều này cũng đã phản ảnh qua cuộc điều tra PCI 2008: “Như đã đề cập trong bản báo cáo năm 2007, rõ ràng sự khác biệt giữa các miền, địa phương ngày càng gia tăng” (3). Trong bài viết “Phân quyền địa phương tại Việt Nam và Đông Á” trên Diễn Đàn, tháng 1/2009, chúng tôi đã nêu lên số liệu từ tài liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy “sự chênh lệch giữa các tỉnh giàu và nghèo tại Trung Quốc lên đến 16 lần, và con số này thậm chí còn cao hơn tại Việt Nam”. Liên quan đến đề tài trên, nhóm Giáo sư David Dapice (Harvard) và một số học giả trong nước đã soạn thảo tài liệu “Lịch sử hay chính sách – Tại sao các tỉnh phía Bắc không tăng trưởng nhanh hơn”, được Liên Hiệp Quốc ấn hành tháng 5/2004. Bài tiểu luận này và kết quả của các cuộc điều tra Chỉ số Năng lực cạnh tranh 2005, 2006 nằm trong số các tài liệu đã được chúng tôi tham khảo trong bài viết “Vai trò và đặc tính của các địa phương trong phát triển kinh tế. Hệ quả lịch sử hay chính sách?“, đăng trên talawas tháng 11/2006. Vấn đề này, một lần nữa sẽ được phân tích, dựa theo kết quả của các cuộc điều tra PCI 2006-2008.

Bài viết gồm năm phần: Tổng quan – Thay đổi theo thời gian: những dấu hiệu tích cực – Thay đổi theo thời gian: những mối quan ngại – Chính sách hay lịch sử – kết luận.     

I. Tổng quan

1. Điều tra PCI bắt đầu từ năm 2005. Nhưng chỉ từ năm 2006, số tỉnh tham gia và các chỉ số điều tra mới được đầy đủ, và do đó, những phân tích về sự tiến triển của chỉ các số năng lực cạnh tranh trong tài liệu điều tra PCI năm 2008, cũng như trong bài viết, lấy số liệu của các năm 2006-2008 làm cơ sở so sánh. Từ năm 2006, có 64 tỉnh và thành phố tham dự cuộc điều tra, với số doanh nghiệp tham dự tăng từ 6.379 lên 7.820.

Cuộc điều tra dựa trên 10 chỉ số, chia thành ba nhóm, dựa theo trọng số của mỗi chỉ số (% trên tổng số 100). Nhóm trọng số cao (15%), gồm 4 chỉ số: Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân, tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin, đào tạo lao động, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh. Nhóm trọng số trung bình (10%) có 2 chỉ số: Chi phí thời gian để thực hiện các qui định nhà nước, và thiết chế pháp lý. Nhóm thấp (5%) gồm 4 chỉ số: Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và môi trường cạnh tranh, chi phí không chính thức, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, và chi phí thị trường. (4)

2. Chỉ số có trọng số càng cao thì “tác dụng đối với sự tăng trưởng, đầu tư và mức lợi nhuận” của khu vực tư nhân càng lớn. Mặc dù điều tra PCI không đo lường mức phát triển mà là đánh giá khả năng điều hành và môi trường kinh doanh của các địa phương, song nhóm nghiên cứu đã khẳng định mối tương quan giữa các chỉ số và mức tăng trưởng kinh tế: “Một điểm cải thiện trong điểm số PCI tính theo thang điểm 100, trong một năm nhất định, tại một tỉnh xác định, góp phần làm số doanh nghiệp đang hoạt động tăng 6,9%, đầu tư bình quân đầu người tăng 2,6% và GDP bình quân đầu người trong năm kế tiếp tăng 1,6%” (5).

Dựa trên điểm số của mỗi chỉ số từ 1 đến 100, điểm trung vị (median) tổng hợp tất cả các tỉnh trong ba năm 2006, 2007, 2008 thấp và thay đỗi không rõ rệt: 52,4 – 55,6 – 53,2. Song có những thay đổi đáng kể trong từng chỉ số, tại mỗi địa phương, như sẽ được phân tích trong những phần tới.

Hai biểu đồ dưới đây cho thấy một bức tranh tổng thể về các chỉ số năng lực cạnh tranh. Trên thang điểm từ 0 (tâm điểm) đến 10 (vòng ngoài), phần lồi càng cao biểu hiện tính tích cực của chỉ số càng lớn, phần lõm càng sâu cho thấy lĩnh vực càng yếu kém; vòng màu đỏ so sánh những thay đổi giữa năm 2007 và 2008.

Điểm trung vị PCI 2007 – 2008. Nguồn: VCCI Cần thơ (6)
Điểm trung vị PCI 2007 – 2008. Nguồn: VCCI Cần thơ (6)

Bảng hai nêu lên một số điểm trung vị tiêu biểu của các địa phương (trên 100) và các chỉ số (trên 10) được xếp hạng cao nhất và thấp nhất:

Điểm trung vị PCI 2006 - 2008: Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2006-2008.
Điểm trung vị PCI 2006 – 2008: Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2006-2008.

 

II. Thay đổi theo thời gian: những dấu hiệu tích cực

Dữ kiện và các phân tích của nhóm nghiên cứu về những thay đổi của các chỉ số năng lực cạnh trên cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực làm rõ nét hiện trạng của môi trường kinh doanh đối với các doanh nghiệp dân doanh và năng lực điều hành của các địa phương. Phần phụ chú là những phân tích bổ sung của người viết.  

3. Chi phí gia nhập thị trường có trọng số thấp 5%, điểm trung vị toàn quốc tăng liên tiếp trong ba năm, từ 7,4 lên 8,25 (11%). Các địa phương đạt điểm trung vị đầu bảng năm 2006, 2008: Đà Nẵng (9,17), Đà Nẵng (9,36) – cuối bảng: Bình Phước (4,96), Bắc Giang (6,31).

Sự tiến triển của chỉ số này được thể hiện qua “thủ tục đăng ký kinh doanh ở tỉnh trung bình giảm xuống còn 12.5 ngày”, “chỉ có 6% doanh nghiệp phải chờ trên 3 tháng mới hoàn tất được các thủ tục cần thiết để bắt đầu hoạt động”. Nhóm nghiên cứu nhận định rằng sự cải thiện này “một phần do việc triển khai cơ chế một cửa”. Cụ thể là số doanh nghiệp đăng ký sau khi có “cơ chế một cửa” đạt 50 ngàn trong năm 2008, so với 26 ngàn của năm trước đó.

Mặc khác, các doanh nghiệp “vẫn chưa hài lòng với một số thủ tục khác phát sinh ngay sau khi đăng ký”, và do đó, cần “hướng sự chú ý sang các vấn đề nút thắt cổ chai mà các doanh nghiệp phải đối mặt vào giai đoạn hậu đăng ký”.

Phụ chú: Chỉ số gia nhập thị trường có điểm trung vị cao nhất trong số 10 chỉ số, trong cả hai năm 2006 và 2008. Thời gian đăng ký kinh doanh trung bình giảm còn 12.5 ngày, so với 20 ngày năm 2006, là một thay đổi tích cực, tuy vẫn chưa thực hiện đúng quy định của Thông tư liên bộ số 05-08, theo đó, thủ tục đăng ký phải hoàn thành không quá 5 ngày. Tỷ lệ 22% doanh nghiệp vẫn phải chờ trên một tháng mới hoàn tất được các thủ tục cần thiết để bắt đầu hoạt động là lĩnh vực khác cần được cải thiện. (7)

4. Tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất có trọng số thấp 5%, điểm trung vị toàn quốc tăng từ 6 lên 6,8 (13%). Các địa phương đạt điểm trung vị đầu bảng năm 2006, 2008 là Sóc Trăng (7,98), Đồng Tháp (8,05) – cuối bảng: Lai Châu (3,84), Hà Nội (4,73).

Sự cải thiện lớn nhất của chỉ số này là “Năm 2008, 81% số doanh nghiệp tham gia điều tra có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tăng so với năm 2007 (75%) và 2006 (55%)”. Nhóm nghiên cứu phân tích lợi ích của cải thiện này: “các doanh nghiệp có thể tiến hành đầu tư và mở rộng kinh doanh do họ yên tâm hơn về triển vọng kinh doanh của mình”.

Phụ chú: Các chỉ tiêu khác cấu thành chỉ số đất đai thay đổi rất chậm cho thấy những tồn tại trên lĩnh vực này vẫn còn lớn. Đến 65% doanh nghiệp cho rằng tình trạng thiếu mặt bằng kinh doanh cản trở việc mở rộng sản xuất (71% – 2006). Trình trạng tranh chấp hợp đồng thuê đất có chiều hướng gia tăng, trong khi đó, chỉ khoảng 4/10 (39%) doanh nghiệp tin tưởng vào cơ chế công bằng trong giải quyết tranh chấp (44% – 2006). Trên thang điểm 1-5 (1:cao nhất), các doanh nghiệp nhận định là độ rủi ro có thể bị thu hồi đất được khá cao 2/5 (2.5/5 – 2006), và chỉ khoảng 4/10 (39%) doanh nghiệp tin rằng sẽ được bồi thường thỏa đáng nếu bị thu hồi đất (40% – 2006). (8)

5. Tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin có trọng số cao 15%, điểm trung vị toàn quốc tăng liên tục trong ba năm, từ 5,43 lên 6,32 (16%). Các địa phương đạt điểm trung vị đầu bảng năm 2006, 2008: Bình Dương (8,5), Đà Nẵng (7,92), và cuối bảng: Đắk Nông (2,15), Đắk Nông (2,99).

Nhóm nghiên cứu nhận định rằng chỉ số này là “nhân tố quan trọng nhất của sự cải thiện môi trường kinh doanh địa phương”. Sự cải thiện của chỉ số minh bạch và thông tin bao gồm: “trên 65% số doanh nghiệp cho rằng họ có thể tiếp cận các loại văn bản pháp lý, tăng từ 61% của năm 2007”, “Số doanh nghiệp cho rằng cần có mối quan hệ để tiếp cận các tài liệu kế hoạch từ khi có quyết định xuất bản công báo giảm từ 62% xuống còn 49% trong giai đoạn 2006-2008, và “năm 2008 chỉ có 36% số doanh nghiệp cho biết họ phải thỏa thuận với cán bộ thuế, so với 61% năm 2006”.

Động lực của sự tiến triển này, theo sự phân tích của nhóm nghiên cứu, là “nhờ vào sự phát triển của Công báo”, “đến tháng 6 năm 2008, tất cả các tỉnh, trừ Cà Mau, đã xuất bản ấn phẩm Công báo tỉnh; 20 tỉnh còn có Công báo điển tử (online) cho phép tìm kiếm dữ liệu bằng từ khoá”, và “các tỉnh có công báo điện tử thể hiện những tiến bộ hàng năm mạnh mẽ hơn trong khả năng tiếp cận thông tin”.

Mặt khác, báo cáo cũng nêu lên “phần kém khả quan” của chỉ số này là khả năng tiên liệu của các doanh nghiệp thấp và tiếp tục giảm “đối với những thay đổi trong các quy định luật pháp của trung ương và việc thực hiện các quy định luật pháp này của các tỉnh”. Khả năng tiên liệu về những thay đổi giảm từ 17% xuống 13%, và về thực hiện giảm từ 11% xuống 6% trong giai đoạn 2006-2008. Hệ quả của khả năng tiên liệu thấp là “Một ít cá nhân am hiểu về những thay đổi trong quá trình ban hành chính sách và thực hiện các quy định pháp luật này tại các địa phương sẽ giành được lợi thế kinh doanh”.

Phụ chú: Số liệu điều tra còn cho thấy khả năng tiếp cận tài liệu kế hoạch năm 2008 là 48%, tăng từ 44% năm 2007, nhưng giảm so với 49% của năm 2006. Do vậy, dù đạt được những bước tiến quan trọng, tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin vẫn là một trong những vấn đề hệ trọng hàng đầu của môi trường kinh doanh, khi vẫn còn hơn một trong ba doanh nghiệp (36%) phải thoả thuận với cán bộ thuế, hơn phân nửa số doanh nghiệp (51%) vẫn cho rằng gặp khó khăn trong việc tiếp cận tài liệu kế hoạch, và xấp xỉ chỉ có một trong 10 doanh nghiệp có khả năng tiên liệu về những thay đổi trong quy định pháp luật của trung ương (13%) và việc thực hiện các luật định này tại địa phương (6%). Sự tồn tại một cách phổ biến và thiếu minh bạch của “kế hoạch treo” gây khó khăn cho các doanh nghiệp vào bao nỗi bất an đời sống của dân chúng (9).

Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2006-2008
Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2006-2008

6. Thiết chế pháp lý có trọng số trung bình 10%, điểm trung vị toàn quốc tăng từ 3,63 lên 4,66 (28%). Các địa phương đạt điểm trung vị đầu bảng năm 2006, 2008: Bắc Giang (6,55), Gia Lai (6,7) – cuối bảng: Quãng Ngãi (2,13), Cao Bằng (2,5).

Sự thay đổi của chỉ số này được nhóm nghiên cứu đánh giá là “một sự chuyển biến quan trọng”, với số vụ kiện kinh tế được thụ lý tăng từ 2.466 lên 5.198 trong hai năm 2006-2007. Những phân tích của tài liệu cho rằng số vụ kiện kinh tế tăng nhanh đã cho thấy “lòng tin của doanh nghiệp đối với hệ thống tư pháp tăng lên”, “thể hiện những tiến bộ đáng kể trong pháp luật về hợp đồng và thương mại trong suốt sáu năm qua, kể từ khi thực thi hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ “, phản ảnh nhu cầu sử dụng thủ tục tư pháp tăng dần theo “sự mở rộng giao dịch vượt ra ngoài mối quan hệ xã hội gần gũi”, cùng với các giao dịch với “công ty nước ngoài đòi hỏi tính pháp lý cao hơn”.

Phụ chú: Với điểm số thấp nhất năm 2006, chỉ số này đã có những thây đổi quan trọng, song vẫn chưa thể hiện “lòng tin của các doanh nghiệp đang tăng lên” đối với hệ thống tư pháp, vì kết quả cuộc điều tra cũng đã cho thấy “số doanh nghiệp lựa chọn tòa án địa phương là một trong ba phương pháp quan trọng nhất để giải quyết tranh chấp giảm từ 18% xuống 12%”. Sự sử dụng tòa án có xu hướng nhiều hơn ở các trung tâm đô thị, khu vực phía Nam, và nơi có sự hiện diện cao của các nhà đầu tư nước ngoài cho thấy rằng độ phức tạp, phạm vi mở rộng của các hoạt động kinh doanh và yêu cầu sử dụng tư pháp của các công ty nước ngoài là những động lực chính của những chuyển biến trong việc sử dụng hệ thống pháp lý. (10)

7. Ưu đãi doanh nghiệp nhà nước và môi trường cạnh tranh có trọng số trung bình thấp 5%, điểm trung vị toàn quốc tăng từ 6,49 lên 7,53 (16%). Các địa phương đạt điểm trung vị đầu bảng năm 2006, 2008: Lào Cai (8,4), Hà Giang (8,77) – cuối bảng: Hà Nội (4,7), Bạc Liêu (5,99).

Nhóm nghiên cứu cho rằng “những tiến bộ ấn tượng đến mức nhóm đang cân nhắc loại bỏ chỉ số này”, cụ thể như, “chỉ có 39% doanh nghiệp cho biết có tình trạng ưu đãi rõ rệt đối với DNNN. Trên 50% tin rằng chính quyền tỉnh có thái độ tích cực đối với doanh nghiệp tư nhân, và số DNNN hoạt động tại tỉnh đã giảm 60%”

Phụ chú: Mặc dù đã có những tiến triển và là một trong hai chỉ số đạt điểm trung vị cao nhất trong cả hai năm 2006, 2008, nhóm nghiện cứu đã đi quá xa khi cân nhắc loại bỏ chỉ số ưu đãi DNNN, trong khi vẫn còn đến 38% doanh nghiệp cho rằng việc ưu đãi đối với DNNN là mối cản trở cho hoạt động kinh doanh và gần 50% doanh nghiệp không đồng ý rằng “chính quyền tỉnh có thái độ tích cực với doanh nghiệp dân doanh”. Hơn thế nữa, những phân tích của cuộc điều tra còn cho thấy “tuy các doanh nghiệp ít băn khoăn hơn về những ưu đãi dành cho các DNNN địa phương, song vẫn lo ngại đối với những ưu đãi dành cho các tập đoàn trung ương quản lý”. Với chính sách tư nhân hoá dần các DNNN nhỏ và tập trung củng cố, tăng cường các tập đoàn kinh tế nhà nước diễn ra từ hơn thập niên qua, sự bành trướng của các tập đoàn kinh tế trung ương và sự ưu đãi dành cho các tập đoàn này mới là mối quan ngại chính, cần được tiếp tục theo dõi. (11)

II. Thay đổi theo thời gian: những mối quan ngại

Theo nhóm điều tra, hai lĩnh vực mà sự phát triển rất đáng quan ngại là chỉ số thời gian và chỉ số không chính thức.

8. Chỉ số thời gian để thực hiện các qui định nhà nước có trọng số trung bình 10%, điểm trung vị toàn quốc năm tăng từ 4,42 lên 5,38 giai đoạn 2006-2008, nhưng giảm đáng kể (-15%) so 2007 (6,21). Các địa phương đạt điểm trung vị đầu bảng năm 2006, 2008: Bình Dương (7,12), Bình Phước (6,52) – cuối bảng: Phú Yên (2,64), Bạc Liêu (2,85).

Sự quan ngại của nhóm nghiên cứu vì “tỷ lệ phần trăm chi phí thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để giải quyết công việc liên quan đến giấy tờ và thủ tục hành chính tiếp tục gia tăng, hiện có tới 23% số doanh nghiệp bỏ ra trên 10% quỹ thời gian”, “số doanh nghiệp nhận định có sự cải thiện thủ tục hành chính không nhiều (26%)”, “các thủ tục phiền hà trong tiếp xúc và làm việc với cán bộ địa phương”, và “tình trạng khá phổ biến mỗi tỉnh có cách hiểu và thực hiện các thủ tục hành chánh khác nhau”. (12)

9. Chỉ số không chính thức có trọng số thấp 5%, điểm trung vị toàn quốc hầu như không thay đổi: 6,33 – 6,65. Các địa phương đạt điểm trung vị đầu bảng năm 2006, 2008: Bến tre (8,35), Hưng Yên (8,3) – cuối bảng: Hà Tỉnh (5,05), Bắc Kạn (5,7).

Nhóm nghiên nhận định rằng “Mức độ thường xuyên, giá trị của các khoản chi phí không chính thức, và những khó khăn từ việc trả các khoản chi phí không chính thức vẫn không thay đổi suốt ba năm qua”. “Sự chậm trễ về cải thiện chi phí không chính thức làm tăng rủi ro cho các hoạt động kinh doanh” .

Hiện đang có những kế hoạch mới nhầm “khắc phục các khuyết điểm trong nỗ lực chống tham nhũng trước đây”, như “Dự thảo Chiến lược quốc gia về chống tham nhũng, các chương trình hành động, và Luật Cán bộ công chức”.

Phụ chú: Căn bệnh tham nhũng đã trở thành tâm căn cố đế. Hiện có đến 66% doanh nghiệp cho biết phải trả các khoản chi phi phi không chính thức và 37% nhận định các cán bộ của tỉnh sử dụng quy định riêng của địa phương với mục đích trục lợi. Trong bảng xếp hạng tham nhũng năm 2008 của tổ chức Transparency International, Việt Nam đứng thứ 121/180 quốc gia.

Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2006-2008
Nguồn: Bảng do tác giả tự lập theo số liệu điều tra PCI 2006-2008

Hai chỉ số rất quan trọng khác – đào tạo lao động và chính sách phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) – có trọng số cao, điểm trung vị sút giảm mạnh nhất, và là những nút thắt lớn của nền kinh tế và sự phát triển kinh tế tư nhân, song lại không được nhóm nghiên cứu đề cập đến trong phần phân tích về những thay đổi đáng quan ngại. (13)

10. Chỉ số chính sách phát triển Kinh tế tư nhân có trọng số cao 15%, điểm trung vị giảm liên tục trong ba năm, từ 4,88 xuống 3,35 (-46%), và là chỉ số có điểm thấp nhất năm 2008. Các địa phương đạt điểm trung vị đầu bảng năm 2006, 2008: Đà Nẵng (9,62), TP HCM (6,35) – cuối bảng: Đắk Nông (2,4), Bạc Liêu (1,4).

Phụ chú: Các doanh nghiệp đánh giá rất thấp, và điểm trung vị giảm mạnh trên hầu hết lĩnh vực: Thông tin thị trường (2006: 50% – 2008: 20%), tìm kiếm đối tác (2006:45% – 2008:12%), xúc tiến thương mại (2006:51% – 2008:21%), phát triển khu công nghiệp (2006:46% – 2008:24%), và quảng bá công nghệ mới (2006:42% – 2008:16%). (14)

11. Chỉ số Đào tạo lao động có trọng số cao 15%, điểm trung vị giảm liên tục trong ba năm, từ 5,1 xuống 4,25 (-20%), và là một trong hai chỉ số có điểm thấp nhất năm 2008. Các địa phương đạt điểm trung vị đầu bảng năm 2006, 2008: Đà Nẵng (9,6), Đà Nẵng (8,4) – cuối bảng: Lai Châu (1,99), Điện Biên (1,84).

Phụ chú: Mặc dù cơ sở đào tạo và giới thiệu việc làm không giảm mà còn tăng nhẹ, nhưng sự đánh giá của các doanh nghiệp đối với chất lượng đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng giảm mạnh: chất lượng giáo dục (2006:73% – 2008: 35%), chất lượng đào tạo nghề (2006:55% – 2008:20%), hỗ trợ tuyển dụng (2006:48% – 2008:17%). Điều này cho thấy nhu cầu lao động có kỹ năng tăng mạnh, trong khi đó khả năng và chất lượng đào tạo vẫn yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu sản xuất. (15)   

Chú thích    

(1) Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2008 của Việt Nam – Báo cáo tóm tắt (BCTT) p.3
     The Vietnam Provincial Competitiveness Index 2008: Summary Report

(2) BCTT p.3

(3) BCTT p.38
(4) BCTT p.9, 15, 17

(5) BCTT p. 29

(6) Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh – PCI 2008 vùng ĐBSCL

(7) Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2008 của Việt Nam – Báo cáo chi tiết (BCCT) p. XV, 26, 83
     The Vietnam provincial competitiveness index 2008 – Full report    

(8) BBCT p. xvi, 85

(9) BBCT p. xvi, 29, 89

(10) BCCT p. xvi, 33, 118

(11) BCCT p. xvi, 104

(12) BCCT p.xvi, 98

(13) BCCT p.xvii, 101

(14) BCCT p,xvii, 112

(15) BCCT p.xvii, 115

(Còn 1 kì)

© 2009 Trần Bình

© 2009 talawas blog

 

 

 

 

Bình luận

Không có bình luận (bài “Thấy gì qua cuộc điều tra năng lực cạnh tranh? (1)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>