talawas blog

Chuyên mục:

Atlas nói gì về Công hàm Phạm Văn Đồng?

27/04/2009 | 7:00 sáng | 27 Comments

Tác giả: Nghiêm Quang

Category: Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

Từ bài đầu tiên, xuyên suốt cho đến khi kết thúc cuộc tranh luận với Dương Danh Huy, còn tồn tại một nghi vấn trong lập luận của Trương Nhân Tuấn, tôi thấy cần phải làm sáng tỏ:

  • “Hầu hết các atlas nước ngoài đều ghi nhận công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng”, điển hình là L’Atlas des Atlas của Courrier International.
  • Từ khẳng định này, ông Tuấn kết luận “dư luận thế giới đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc là do hiệu lực của công hàm 14 tháng 9 năm 1958″.

I.     “Hầu hết các atlas nước ngoài…” – HẦU HẾT?

Làm một khảo sát nhỏ với những atlas, tài liệu và các đầu sách về địa chánh trị tìm thấy ở  Paris, có thể dẫn những quyển sau không nhắc tới công hàm đã nói dù có vẽ hoặc viết về Biển Đông Việt Nam:

  • Le dessous des cartes: Atlas Géopolitique, Jean-Christophe Victor et al., Arte và Tallendier xuất bản, 2006-2007;
  • L’Atlas, chuyên đề của nguyệt san Le Monde diplomatique. Các bản đồ tại trang 203 và 223 có chú thích rõ vùng biển “lưỡi bò” là “territoire ou espace maritime contesté;
  • L’Atlas géopolitique des espaces maritimes, Didier Ortolland và Jean-Pierre Pirat,Technip xuất bản, 2008 (gọi tắt là Atlas Technip). Chữ “Spratly” xuất hiện ở các trang vii, 18, 135, 139, 142, 143. “Paracel” được nhắc tới tại trang 138, 139, 142. Đây là quyển Trương Nhân Tuấn sử dụng để chụp lại các bản đồ minh họa sau hôm ông tuyên bố đã “đi thư viện tham khảo” (03/04/2009), đồng thời cũng nằm trong danh mục tham khảo của L’Atlas des Atlas (Courrier International);
  • Atlas Hachette,2008. Bản đồ trang 98, vị trí quần đảo Trường Sa được chú thích bằng cụm từ khó hiểu “Îs Palawan“;
  • World Atlas of Coral Reef, Mark Spalding et al., University of California Press, 2001. Quyển này bàn về Biển Đông ở các mục Spratly Islands, Tung-Sha (Dongsha Qundao) Reefs and the Paracel IslandsVietnam and China. Nhận xét về tranh chấp Việt-Trung trên chủ quyền 2 quần đảo, các tác giả viết chung chung: “China claims a large number of reefs and coral islands scattered across the South China Sea, including all of the Spratly Islands, the Paracel Islands off Vietnam, and the Tung-Sha reefs towards Taiwan”(trang 291);
  • Géopoltique: la longue histoire d’aujourd’hui, Yves Lacoste, Larousse 2006. Tiểu mục Les archipels de la Mer de Chine, trang 180-182, tác giả có nhắc lại đề nghị rằng nên gọi “Địa Trung Hải Á châu” thay vì “biển Nam Trung Hoa”;
  • Atlas des relations internationales, Hatier;
  • Le Territoire chinois, thèse của Valérie Poulpiquet, quyển 88 trong bộ Bibliothèque constitutionnelle et de science politique, LGDJ xuất bản. Đề cập đến vấn đề biên giới Việt-Trung trên biển, về Trường Sa tại các trang 84-90, mục Le conflit frontalier sino-vietnamien;
  • Géopolitique de l’Asie, Vincent Thébault, Nathan xuất bản, 2006;
  • An Atlas of World Affairs, Andrew Boyd, Joshua Comenetz, Routledge 2007;
  • Dictionary of the Modern Politics of South East Asia, Michael Leifer, Routledge 2000. Các mục từ “Spratly”, “Paracel” “South China Sea” đều không có chỗ cho công hàm đang đề cập;
  • The Spratly Islands Dispute in the South China Sea: Problems, Policies, and Prospects for Diplomatic Accomodation, Christopher C. Joyner. Đây là bài nghiên cứu của một giáo sư, chuyên gia về công pháp quốc tế.

Ngoài danh sách tượng trưng trên đây, còn có thể ghi nhận các loại atlas địa lý thông thường không có bình luận kèm theo. Như vậy có thể tạm kết luận rằng [khẳng định của Trương Nhân Tuấn về]Hầu hết các atlas nước ngoài[1] đều ghi nhận công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng” là một HUYỀN THOẠI.

II.    Quốc tế ghi nhận thế nào về công hàm Phạm Văn Đồng

1. Điều trước tiên, không thể không nhắc qua l’Atlas des Atlas, le monde vu d’ailleurs en 200 cartes của Courrier International, Arthaud xuất bản; tức tài liệu Trương Nhân Tuấn đem ra làm dẫn chứng “điển hình”. Phần nói về Biển Đông nằm tại các trang 90-93 (xem hình). Tất cả những gì liên quan đến công hàm Phạm Văn Đồng xuất hiện trong box nhỏ trang 91 “vu du Vietnam” ([Biển Đông] nhìn từ Việt Nam), gói gọn trong nửa câu 21 chữ, và không còn cách nào có thể viết giản lược hơn:

“Mais le traité de paix signé en 1954 ne mentionne pas ces îles et la position vietnamienne est affaiblie par la reconnaissance, en 1958, de la souveraineté chinoise par le Premier ministre Pham Van Dong.”

Tạm dịch: “Nhưng hiệp định hòa bình ký kết hồi 1954 không đề cập đến những hòn đảo này và vị thế của Việt Nam (trong việc giành chủ quyền đảo – ND) bị yếu đi do sự thừa nhận, vào năm 1958, chủ quyền Trung Quốc bởi ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Là thông tin không có tư cách để được đưa vào phần trình bày chính ở trang 90, bấy nhiêu thôi đủ thấy tính thứ yếu của chi tiết công hàm Phạm Văn Đồng, dưới mắt người làm sách, trong những tranh chấp về chủ quyền đảo ở Biển Đông.

Hơn nữa, bất cứ một nhận định nào căn cứ trên những dòng vắn tắt của một quyển sách thuộc loại phổ thông như vầy đều vô giá trị về học thuật và đương nhiên về pháp lý. Việc này cũng giống như lấy sách giáo khoa trung học ra làm cơ sở tranh luận về lịch sử.

Mất bao nhiêu đường đất cho một sự diễn dịch từ “vị thế của Việt Nam bị yếu đi” thành ra “dư luận thế giới đã công nhận HS&TS của Trung Quốc là do hiệu lực của…” “Affaiblie” / “bị yếu đi” đồng nghĩa với “công nhận… là do hiệu lực…” ?

nq1

Atlas des Atlas (Courrier International),  trang 90, 91

Atlas des Atlas (Courrier International), trang 90, 91

2. Về những tài liệu khác có ghi nhận công hàm Phạm Văn Đồng, có thể kểcác quan điểm sau (trường hợp bà Monique Chemillier Gendreau xin dành cho phần tiếp theo; tài liệu chỉ đề cập theo lối nhựt trình, xin miễn không bàn tới):

  • Chi-kin Lo, China’s Policy towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands, Routledge 2005;
  • Brantly Womack, China and Vietnam: The Politics of Asymmetry, Cambridge University Press 2006.

Quý vị trên đây mô tả công hàm Phạm Văn Đồng cùng với câu chuyện Ung Văn Khiêm theo phiên bản của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, chủ yếu nhằm mục đích xác định quan điểm thực sự của Bắc Việt trong những thập niên 1950-1960 về các tranh chấp ở Biển Đông, trong mối quan hệ “bất đối xứng” với Bắc Kinh. Điểm nầy cũng phù hợp với Atlas Technip đã dẫn ở phần 1, tuy quyền nầy không quan tâm tới công hàm.

Trích Chi-kin Lo: “It’s difficult to tell if China knew of Hanoi’s real intentions before the battle for the Paracels. It appears that although sovereignty over the islands was not in dispute publicly, the Chinese had skilfully led the North Vietnamese officials to recognizing China’s sovereignty over the islands, which could be used to support its position in future arguments. By 1973, the gathering momentum of troubles over the land border, and the raising of the issue of division of the Tonkin Gulf, could have made China suspicious of Hanoi’s position on the islands as well…”. Tạm dịch: “Khó có thể xác định liệu Trung Quốc có nắm được ý đồ thật của Hà Nội trước trận hải chiến Hoàng Sa. Một điều rõ ràng rằng dầu không có tranh chấp công khai trên hồ sơ chủ quyền đảo, người Hoa đã khéo léo gài Bắc Việt vào thế công nhận quyền của Trung Quốc sở hữu các hòn đảo. Tới 1973, sự gia tăng các vấn đề ở biên giới trên bộ và trong phân định Vịnh Bắc Việt đã làm Trung Quốc nghi ngờ quan điểm thực sự của Bắc Việt về các hòn đảo.”

Trích tiểu mục “Le différend sino-vietnamien” trang 139 Atlas Technip, theo đó “Hanoï et Pékin entretenaient un différend portant sur leurs frontières terrestre et maritime mais le soutien apporté par la Chine au Nord Viêt-Nam pendant la seconde guerre d’Indochine a longtemps occulté cette rivalité”. Tạm dịch: “Hà Nội và Bắc Kinh duy trì quan điểm khác biệt trên hồ sơ biên giới đất liền và [biên giới] biển, song các hỗ trợ của Trung Quốc cho Bắc Việt suốt cuộc chiến Đông Dương lần hai đã che lấp sự đối đầu.”

Không một đoạn nào cho phép suy diễn quan điểm của tác giả hay của dư luận (khác với Bộ Ngoại giao Trung Quốc) về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa (thuộc về ai và do hiệu lực của cái gì).

III.      Phương diện pháp lý

La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys của Monique Chemillier-Gendreau (MC-G) được coi như nguồn lập luận quan trọng nhất trên hồ sơ này. Với tư cách chuyên gia công pháp quốc tế, bà có thẩm quyền đưa ra các khẳng định có cơ sở pháp lý. Vì vậy, quan điểm của Chemillier-Gendreau nhận được sự tán thành của nhiều vị, trong đó có GS Nguyễn Văn Canh (cựu phụ tá Khoa trưởng Luật khoa Đại học Saigon), TS sử học Nguyễn Nhã và TS luật Từ Đặng Minh Thu.

Tóm tắt 3 luận điểm Chemillier-Gendreau:

  • a) Công hàm Phạm Văn Đồng tự giới hạn trong việc thừa nhận bề rộng 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc. “Việt Namtuyên bố công nhận đòi hỏi của Trung Quốc” (về chủ quyền đảo) là một khẳng định vô căn cứ, mặc dầu sự im lặng của Bắc Việt có thể bị diễn giải là ngầm ưng thuận (its silence can be interpreted as acquiescence).
  • b) Bắc Việt Nam không giữ chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa vào 1956 cho nên không thể gắn kết các tuyên bố của nhà cầm quyền Bắc Việt với vấn đề chủ quyền đảo.
  • c) Nước Việt Nam thống nhất kế thừa chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa từ chánh quyền Việt Nam Cộng hòa.

Bỏ qua điểm (a) là một thiếu sót trong bài viết ngày 01/04 của Trương Nhân Tuấn làm sai lệch cường độ sự việc. Cũng trong bài nầy, ông viết: “Một vài nhà nghiên cứu Việt Nam dựa trên thuyết này (estoppel) để khai triển thêm, chứng minh công hàm của ông Đồng không có giá trị về chủ quyền của Trung Quốc ở HS và TS”.

Thêm một dẫn chứng cho cách đọc-hiểu-viết đại khái của ông này khi gọi “thuyết của bà Chemillier-Gendreau là “estoppel. Đọc kỹ lại bài của TS Từ Đặng Minh Thu, sẽ thấy Jian-Ming Shen nêu “estoppel để khẳng định những tuyên bố [trong công hàm Phạm Văn Đồng và lời ông Ung Văn Khiêm] có giá trị bó buộc đối với Việt Nam. Tuy nhiên, TS Thu đã phản bác mấy ý này, xin phép không lặp lại ở đây. Tóm lại, “estoppel không ăn nhập gì đến luận điểm của MC-G.

Mặt khác, ý kiến của Trương Nhân Tuấn chỉ tập trung phủ nhận điểm (c), tức “lý thuyết kế thừa của MC-G :

d)    Chế độ VNDCCH phủ nhận chế độ VNCH, xem thực thể chính trị này là “ngụy”.

e)    Sau 1975 không hề có một buổi lễ bàn giao chính quyền giữa VNCH và VNDCCH hay với MTDTGPMN.

f)     Không có bàn giao quyền lực làm sao có kế thừa?

Lật lại lịch sử cận-hiện đại, kết thúc cuộc nội chiến Nam-Bắc ở Hoa Kỳ hồi thập niên 1860 và cuộc nội chiến Quốc-Cộng ở Trung Hoa năm 1949, hoặc là sự đầu hàng của liên minh miền Nam, hoặc là sự rút chạy của phe Tưởng Giới Thạch. Trương Nhân Tuấn có thể trích sử liệu ra một buổi lễ bàn giao chánh quyền trong hai trường hợp này không? Và có sự “tiếp nối chính quyền” ở Hoa Kỳ và Trung Quốc không?

Nhắc lại Việt Nam thời kỳ 1775-1805, đã từng có 3 chánh quyền tồn tại nối tiếp và được Trung Hoa Mãn Thanh công nhận và phong “An Nam Quốc Vương cho 3 người đứng đầu : Lê Chiêu Thống, Quang Trung và Gia Long. Để ý rằng chữ “ngụy do triều Gia Long sử dụng để gọi chánh quyền Nguyễn Tây Sơn, cho nên không phải là sáng tác độc quyền của CHXHCNVN.

Điều đó cho thấy tính “kế thừa chính quyền (của phe thắng trận sau nội chiến) là logique hiển nhiên, được Trung Hoa tiền hiện đại thừa nhận. Lập luận của Trương Nhân Tuấn thiếu căn cứ pháp lý và không phù hợp lý lẽ thông thường.

Nhận xét cuối cùng cho phần nầy, từ Monique Chemillier-Gendreau cho đến Chi-kin Lo và Brantly Womack đều chỉ xét tới công hàm Phạm Văn Đồng trong quá trình tìm hiểu ý chí (intention) của VNDCCH trong việc xác lập chủ quyền tại Hoàng Sa-Trường Sa. Công hàm này có giá trị như lời tuyên bố, lời hứa không có tính chất ràng buộc (theo Từ Đặng Minh Thu) của một quốc gia. Nó không có giá trị thừa nhận hay chuyển nhượng Hoàng Sa-Trường Sa cho quốc gia khác.

IV.     Vài chuyện khác

Về nhóm giải pháp của Dương Danh Huy và Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, tôi vẫn hy vọng có thêm nhiều phản biện hơn nữa để hoàn thiện, nhất là ý kiến của các chuyên gia có thẩm quyền. Có thể còn có điểm này điểm kia cần phải bàn lại nhưng từ góc nhìn cá nhân, tôi thấy ở đó (nhóm giải pháp DDH) tính khả thi và khả dĩ chấp nhận. Có gì gần gũi giữa tinh thần của nhóm giải pháp này và ứng dụng của lý thuyết trò chơi (Game Theory)?

Với Trương Nhân Tuấn, tôi muốn góp ý một điều: Thảo luận với Dương Danh Huy vừa tạm kết thúc, việc tranh thủ lặp lại luận điệu “có người viết về Biển Đông theo lối dọn sân cho nhà nước… ” trong bài viết chỉ liên quan đến báo Du Lịch và Ải Nam Quan, thực sự là hành xử không đẹp.

Ngày 23/04, độc giả Hà Minh có nhận xét “… phần vì quá tự tin vào những lập luận của mình (tức Trương Nhân Tuấn), tuy nhiên những lập luận ấy cũng có những sơ hở nhất định…”. Tới đây, tôi chợt nhớ câu chuyện “Hoàng đế cới truồng”.

© 2009 Nghiêm Quang

© 2009 talawas blog


 

[1] Ý kiến 17/04 có bổ sung mấy chữ “Atlas về Géopolitique”.

Bình luận

27 Comments (bài “Atlas nói gì về Công hàm Phạm Văn Đồng?”)

  1. […] nhiên, dự định có thể sẽ bị trễ vài hôm, vì ông Nghiêm Quang đã có bài viết trên talawas, nội dung chứng minh một điều tôi đã viết là không đúng với sự thật, […]

  2. Dương Danh Huy viết:

    @Bác Phiếu

    Đồng ý với bác là tồn tại sự kiện thừa kế. Có thể bổ xung minh hoạ như sau:

    i) A và B tranh chấp căn nhà X.
    ii) C không có thẩm quyền đối với X.
    iii) Giả sử C ký hợp đồng với A: “C công nhận X thuộc về A, A cho C điều Y gì đó”.
    iv) Sau khi B chết đi, C thừa kế căn nhà X trên của B.

    Và ý nghĩa của hợp đồng như sau:

    1. Dĩ nhiên nó không thể làm cho B mất quyền sở hữu đối với X. Đã đồng ý.
    2. Dĩ nhiên riêng nó không thể làm cho X thuộc về A. (Vì X có thể thuộc về B, D, E, F). Đã đồng ý.
    3. Nhưng trước khi sự kiện thừa kế xảy ra nó có thể ràng buộc C không được tranh chấp X với A. Đã đồng ý.
    4. Nhưng sau khi sự kiện thừa kế xảy ra thì chúng ta chưa đồng ý.

    Bác cho là:

    4.a C từ một người không có gì, thành người có quyền sở hữu căn nhà đó.

    Tôi cho là quan điểm 4.a chưa chặt chẽ đủ. Cụ thể là nếu (iii) và (3) đúng thì có thể không phải là C không có gì, mà có thể là

    4.b C có 1 obligation không được tranh chấp X với B.

    Lưu ý 4.a khác với 4.b.

    Vì vậy, tôi cho là có thể là CHXHCNVN thừa kế 2 điều trái ngược nhau:

    4.b.1 Chủ quyền đ/v HSTS từ VNCH.
    4.b.2 CH PVĐ từ VNDCCH, mà CH này có thể bao hàm obligation “Không tranh chấp HSTS với TQ”.

    Và nếu ra Toà thì có thể Toà sẽ xét 2 điều:

    5) CH PVD có tạo ra 1 obligation cho VNDCCH trước 1795 “Không tranh chấp HSTS với TQ” hay không?

    6) Nếu có thì 4.b.1 hay 4.b.2 phải được tôn trọng?

    Tôi nghĩ chúng ta cần phải trả lời ít nhất là 2 câu hỏi này.

  3. Nghiêm Quang viết:

    Cả 3 bản đồ ông Hòa Nguyễn đưa ra, đều có nguồn từ trang spratly.org của người Hoa. Tôi cho rằng cần thận trọng với các tham khảo từ trang nầy.

    Nhân tiện, cũng nên đọc thêm về Marwyn Stewart Samuels (không phải Marvyn như spratly.org đã nêu). Quyển “Contest for the South China Sea” (1982) của ông được trích dẫn trong rất nhiều tài liệu viết về hồ sơ tranh chấp Biển Đông, kể cả Chemillier-Gendreau, Mark J. Valencia, Chi-kin Lo, Joyner,…

  4. Nghiêm Quang viết:

    Ông Hòa Nguyễn,

    Bản đồ “Nam Hải chư đảo” do chánh quyền Trung Hoa Quốc dân đảng công bố năm 1947, còn gọi là bản đồ 11 gạch. Năm 1949, nước Trung Hoa cộng sản bỏ bớt 2 gạch ở vịnh Bắc Việt, “đường yêu sách” của Trung Quốc thành ra chỉ còn 9 gạch như chúng ta thấy ngày nay. Bản đồ do Trung Quốc vẽ thì cần gì phải chú thích “đường TQ claim”?

    Bản đồ thứ hai “do người tây phương vẽ”, kích cỡ hơi nhỏ, nên một lần nữa Hòa Nguyễn lại không thấy dòng chú thích ở phía dưới, góc trái: đường chấm gạch được ghi là “chinese claim area”.
    http://www.spratlys.org/maps/1/review7.gif

    Chú thích nầy nằm ngay trên dòng chữ “Adapted from Marvyn Samuels, Contest for the South China Sea”. Mà “contest” không phải là “tranh chấp” thì còn có nghĩa gì khác?

  5. Nghiêm Quang viết:

    Cám ơn anh Huy có lời nhắc. Đúng là Việt Nam chưa chánh thức đưa ra “đường yêu sách”.

    Có thể thấy các lô dầu khí tập trung phía Nam, rất xa Hoàng Sa, cho nên tôi nghĩ đường vẽ trong bản đồ của Le Diplo chỉ để minh họa đòi hỏi của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa và phần Biển Đông có liên quan.

    Xin nhấn mạnh mấy chữ “để minh họa” nhằm tránh hiểu lầm không cần thiết.

    *

    Trong một phiếm đàm trên đài SBTN, ông Vũ Hữu San có giải thích qua về bản đồ của ông:
    http://www.youtube.com/watch?v=CZQjpcSoDOs

  6. Hoà Nguyễn viết:

    (tiếp)
    Thấy ghi trên mạng, miền Bắc “giải phóng” 5 đảo ở TS do lính VNCH chiếm giữ vào ngày 5 và(hay)6-5-1975, nhưng mãi tới 1-7-1976, mới tuyên bố chủ quyền trên TS (và đặt TS phụ thuộc tỉnh Khánh Hòa). Đồng thời cũng tuyên bố chủ quyền trên HS . Điều này không nhất thiết là trễ, hay thiếu sót, vì nếu cho chính quyền miền Nam sau 1975 tiếp nối (hành chính) chính quyền Sài Gòn trước kia, thì chủ quyền trên hai quần đảo đương nhiên là của VN (thống nhất). Nên nhớ chính phủ miền Nam VN chính thức tuyên bố chủ quyền trên HS và TS ngày 22-10-1956, dù lúc đó miền Nam chỉ có quân đóng tại HS (năm 1973 mới trú đóng ở TS). Tôi nghĩ văn kiện chủ quyền này rất quan trọng, cần được gìn giữ, và nên công bố. Chỉ tính từ ngày đó, VN tuyên bố sớm hơn Phi (1971), Mã (1983), còn nếu TQ cho đã tuyên bố chủ quyền từ trước đó, thì, như đã biết, Pháp tuyên bố chủ quyền trên HS năm 1930, trên TS năm 1933, và đặt hai quần đảo đó phụ thuộc các tỉnh của triều đình Huế (Quảng Nam, và Khánh Hòa), tức thuộc nước VN, không phải thuộc Pháp quốc (như đất Nam kỳ).
    Bản đồ ông Nghiêm Quang dẫn vẽ đường “yêu sách” của VN, như ông Huy nhận xét là hợp lý. Bằng không, sẽ trái với chủ trương của ông Huy. Theo bản đồ đó, EEZ của VN ra khỏi HS quá xa (phỏng hơn 100 HL), tới gần chỗ giữa HS với đảo Hải Nam (gần như chia theo trung tuyến), và cả vùng biển giữa HS với TS là thuộc VN (giống như TQ đặt vùng biển này vào “lưỡi bò”). Có gì không hợp lý, nên đoán có lẽ họ vẽ thềm lục địa mà VN đòi hỏi (không phải EEZ).

  7. Hoà Nguyễn viết:

    Tôi nhận đã không đọc thấy trong bản đồ đã dẫn chữ ghi lưỡi bò là đường TQ “claim”. Nhưng cũng có nhiều bản đồ không ghi vậy. Phần nhiều từ trang mạng của TQ, Đài Loan. Bản đồ xưa nhất ghi năm 1947, lúc TQ cho HS & TS phụ thuộn tỉnh Quảng Đông. Xem tại:
    http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/43/1947_Nanhai_Zhudao.png
    Chữ Hán trên bản đồ ghi “Nam Hải chư đảo vị trí đồ” (bàn đồ vị trí các đảo ở Nam Hải).

    Nhưng cũng có bản đồ Biển Đông với cái lưỡi bò do người tây phương vẽ, như :
    http://www.spratlys.org/maps/1/review7.gif
    Bản đồ ghi chữ Anh.
    (thấy ghi chú :Author/Publisher: Marvyn Samuels http://www.nwc.navy.mil/press/Review/1998/spring/art5-sp8.htm ).

    Về công hàm Phạm Văn Đồng, có bản chụp (và dịch) tại 2 trang Wikipedia viết về Spratley Islands( TS) và South China Sea( Biển Đông), nhưng không thấy tại trang viết về Paracel Islands (HS). Có lẽ học giả TQ chỉ chú trọng hai trang mạng về nơi đang tranh chấp, mà không quan tâm HS, nay coi như của TQ. Điều này phù hợp với lời lẽ TQ phản đối VN hôm qua về việc VN lâp huyện Hoàng Sa, là: “bất hợp pháp”, và “TQ với VN không có tranh chấp ỏ HS”. Ở HS, TQ có ba lý lẽ (mạnh):
    1/Năm 1956 khi có tranh chấp chủ quyền trên HS &TS giữa miền Nam VN, Phi, ĐL và TQ, ngày 15-6-1956 miền Bắc cho ” HS&TS theo lịch sử thuộc về TQ”.(câu này có lẽ lấy từ một bài viết trên Nhân Dân TQ hiện giữ)
    2/ Công hàm PVĐ năm 1958 đang bàn.
    3/ Ngày 20-1-1974, khi TQ đánh chiếm các đảo HS của VNCH, miền Bắc không lên tiếng phản đối TQ.

  8. (Tiếp theo)

    Cái này có thể đúng trước khi sự kiện thừa kế xảy ra. Nhưng sau khi sự kiện thừa kế xảy ra thì:

    – Theo (1) và (2) trên, trước khi chết đi, B vẫn còn quyền sở hữu đối với căn nhà X.

    – Khi B chết đi, B để thừa kế cho C. Việc để thừa kế đó là có giá trị pháp lý.

    => Quyền sở hữu của B đối với căn nhà X được chuyển sang C khi B chết đi.

    => Khi B chết đi, C từ một người không có gì, thành người có quyền sở hữu căn nhà đó.

    => B có quyền sở hữu căn nhà đó. Trong quyền sở hữu, có quyền bảo vệ quyền sở hữu của mình khi bị tranh chấp.

    Nói theo ngôn từ pháp lý, là việc ông B chết là một sự kiện pháp lý làm thay đổi quyền của C: Từ chỗ người không có quyền gì đối với X thành người có quyền sở hữu đối với X.

    (Cũng giống như việc mua 1 món hàng. Việc mua hàng là 1 sự kiện pháp lý. Trước khi mua thì người mua không có quyền gì đối với hàng cần mua. Nhưng khi mua xong rồi thì người mua có quyền sở hữu đối với món hàng mua đó.
    Quyền của người mua trước lúc mua và sau khi mua là khác nhau.

    Việc hưởng thừa kế cũng là 1 sự kiện pháp lý để có quyền sở hữu. Mua cũng là 1 sự kiện để có quyền sở hữu).

    Vì vậy, tôi ủng hộ lập luận cho rằng, công hàm PVD không có hiệu lực vì vào thời điểm ký kết, VNDCCH không có chủ quyền đối với HS TS. Trong khi, lúc đó, HS TS thuộc VNCH và VNCH không có bất cứ hành vi nào thừa nhận chủ quyền của TQ đối với HS TS.

  9. @All: Trong Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, về lập luận giữa công hàm Phạm Văn Đồng, giữa bác Huy và tôi có một số điểm cần trao đổi thêm. Sẵn vấn đề được đặt ra ở đây, tôi xin phép được tiếp tục những trao đổi với bác Huy để mọi
    người cùng tham gia.

    @Bác Huy:

    Trong thí dụ về việc tranh chấp căn nhà trên, còn có thiếu một sự kiện (fact) liên quan khác mà trong vấn đề về công hàm Phạm Văn Đồng có nhưng ví dụ của bác chưa có.

    Đó là:
    Bác viết:

    [
    A và B tranh chấp căn nhà X.

    C không có thẩm quyền đối với X.

    Giả sử C ký hợp đồng với A: “C công nhận X thuộc về A, A cho C điều Y gì đó”.

    => Bác kết luận:

    1. Dĩ nhiên nó không thể làm cho B mất quyền sở hữu đối với X.
    2. Dĩ nhiên riêng nó không thể làm cho X thuộc về A. (Vì X có thể thuộc về B, D, E, F).
    3. Nhưng nó có thể ràng buộc C không được tranh chấp X với A.

    ]

    (Hết trích)

    Tuy nhiên, trong ví dụ trên nên thêm 2 fact nữa cho giống với thực tế của CH PVD là:

    – Sau khi B chết đi, C thừa kế căn nhà X trên của B. Việc thừa kế đó là do di chúc hay do thuộc diện thừa kế theo pháp luật gì đó nhưng miễn là việc thừa kế là có giá trị pháp lý.

    (sau đây gọi tắt 2 sự kiện trên đây là “sự kiện thừa kế”)

    Vì vậy:

    Hợp đồng trên:

    1. Dĩ nhiên nó không thể làm cho B mất quyền sở hữu đối với X.

    => Đồng ý.

    2. Dĩ nhiên riêng nó không thể làm cho X thuộc về A. (Vì X có thể thuộc về B, D, E, F).

    => Đồng ý.

    3. Nhưng nó có thể ràng buộc C không được tranh chấp X với A.

    (Đọc tiếp comment sau)

  10. Dương Danh Huy viết:

    @Bác Nghiêm Quang

    Theo tôi hiểu VN chưa bao giờ chính thức yêu sách “đường yêu sách” trong bản đồ bác dẫn.

    Đường đó chỉ dựa trên bản đồ các lô dầu khí của cty dầu khí VN vào một thời điểm nào đó trong quá khứ. Bản đồ dầu khí đó không phải là bản đồ của CP VN.

    Có lẽ nhiều người Việt biết về đường đó qua tài liệu của ông Vũ Hữu San.

  11. Nghiêm Quang viết:

    Đề nghị Hòa Nguyễn coi kỹ lại bản đồ ông gởi.

    Ngoài đường 9 gạch “chinese claim line”, còn có “philippine claim line” và “malaysian claim line”. Tất cả những đường đó chỉ có giá trị thông tin, cho nên bản đồ nầy cũng không dành ưu tiên gì cho vùng “lưỡi bò” của Trung Quốc. Vẽ và viết về đòi hỏi của các bên, tức có liên quan đến tranh chấp, vậy mà Hòa Nguyễn tuyên bố ngọt xớt: “Sau đây là (2) bản đồ Biển Đông hay Nam Hải (South China Sea) không liên quan gì đến tranh chấp, nhưng vẫn vẽ hình “lưỡi bò” TQ.”

    Trong bản đồ do Hòa Nguyễn đưa ra, không có đường yêu sách của Việt Nam, có lẽ vì chưa cập nhật. Tuy vậy, các bản đồ mới đã bắt đầu ghi nhận đường nầy. Thí dụ, Atlas của nguyệt san Monde Diplomatique:

    http://farm4.static.flickr.com/3629/3484735428_b7e0bf7a5b_o.jpg

    (nguồn: lấy lại từ một bài viết của ông Trương Nhân Tuấn bên Thông Luận)

  12. Nghiêm Quang viết:

    Tôi đồng ý với 3 điểm ông Huy nêu ra.

    – Không thể nói CH PVĐ không có giá trị pháp lý, rõ ràng nó làm yếu đi “ý chí” (intention) của VNDCCH trên hồ sơ chủ quyền đảo. Yếu tố “ý chí” lại rất quan trọng trong tranh chấp chủ quyền giữa VNDCCH với các bên có liên quan.

    – Tuy vậy, nó không ràng buộc VNCH và cũng không có tác dụng sang nhượng chủ quyền HS-TS.

    – CHXHCNVN kế thừa VNCH, tiếp tục giữ và đòi chủ quyền ở HS-TS.

    Quanh đi quẩn lại thì 3 luận điểm nầy vẫn quan trọng nhứt.

1 2
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>