Tiêu Dao Bảo Cự – Về Tổ quốc và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
13/10/2010 | 6:05 chiều | 10 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Tổ quốc
Anh Nguyễn Xuân Phước thân mến,
Tôi đã đọc bài viết của anh “Bàn về khái niệm ‘Tổ quốc xã hội chủ nghĩa’ của người cộng sản Việt Nam” trên mạng. Anh cũng đã có nhã ý gởi riêng tặng tôi và “những người đã hi sinh tuổi xuân của mình cho Tổ quốc”. Điều đó đã gợi cho tôi những suy tư nên tôi viết bài này, với mục đích góp thêm vài suy nghĩ về nhận định của anh.
Phải nói ngay rằng tôi tán thành phần lớn những phân tích của anh, trên phương diện lý thuyết, căn cứ vào những câu chữ đã trích dẫn. Tôi không có ý phản biện, nhưng ở đây tôi nêu lên những điều thực tế để bổ sung và góp phần soi sáng vấn đề anh đã đưa ra.
Định nghĩa chung về Tổ quốc nhiều người đã nêu và có lẽ không có mấy dị biệt từ Đông sang Tây. Gắn liền và bao hàm trong khái niệm về Tổ quốc có quốc gia, dân tộc, đất nước, quê hương, lịch sử. Quốc gia có ý nghĩa pháp lý về tổ chức nhà nước, dân tộc nặng về con người đồng chủng, đất nước nhấn mạnh đến mặt địa lý, quê hương thiên về tình cảm đối với nơi sinh ra và lớn lên, lịch sử gắn liền với quá khứ… Đôi khi người dân hay trong văn học nghệ thuật, người ta dùng lẫn lộn hay thay thế nhau những khái niệm này, nhưng rất ít ai dùng Tổ quốc để chỉ chế độ chính trị, trừ sự áp đặt cố tình của những người cầm quyền độc đoán.
Năm 1966, tôi viết bài thơ xuôi “Đoản ca trại giam và trường học” có những đoạn sau đây:
… Chung quanh các em, chung quanh chúng tôi, chung quanh chúng ta là biên giới rừng núi bãi cát thép gai sắt máu khói lửa, không như đường dấu cộng các em vẽ trên bản đồ. Quê hương không còn là bình nguyên xanh tươi, thành phố phồn hoa, cao nguyên hiền lành, sông ngòi quanh co trù phú. Quê hương đã mọc đầy loài dây leo mắt gai lởm chởm, quê hương là trận địa tàn sát đồng bào, quê hương là bar-restaurant xanh vàng đỏ tím.
… Các em là người Việt, chúng tôi là người Việt. Các em ngây thơ vui đùa, chúng tôi tù đày cằn cỗi. Rất ít kẻ tự nguyện làm phân bón một cách khôn ngoan sáng suốt. Tôi rời chấn song và viết những điều này bên cạnh mấy thùng nước tiểu bốc mùi khai nồng nặc.
… Tôi vừa nhìn các em qua hình dây thép gai ô vuông méo mó dựng trên bức tường rêu mốc loang lổ. Buổi sáng các em đi học về lẻ loi một vài người, mỗi bước chân các em di chuyển qua một ô vuông thép gai chiều ngang trong khi những ô vuông chiều dọc vẫn tiếp tục đan lên các em thành đường hằn gai nhọn qua đầu qua thân qua ngực. Tôi nhìn các em như người thợ vẽ nhìn bức chân dung có gạch ô vuông để vẽ lại, nhưng ô vuông của tôi thì xô lệch gai nhọn rét rỉ, nhưng chân dung của các em thì hiền hòa, thì tuổi trẻ, thì bình an hiếm hoi của quê hương.
… Tôi nhìn các em qua phạm trù của tôi, thứ phạm trù thuộc loại ô vuông thép gai và lỗ tròn ổ khóa. Trước mắt tôi không còn khoảng không trong suốt để nhìn thẳng nhìn rộng nhìn xa nhìn dài. Chỗ đứng của tôi không có cơ hội để nhìn gần nhìn sát nhìn sâu vào môi vào mắt vào châu thân.
Quê hương đã dành cho tôi, cho nhiều người khác chỗ đứng mới. Tôi muốn xứng đáng, quả thật xứng đáng với chỗ này tù đày rách rưới. Các em biết không?
… Quê hương chỉ còn có tuổi trẻ. Tuổi trẻ đang vỡ bờ nơi các em và hiện tại tương lai đang đưa các em vào nơi lâm nguy vô phương cứu chữa. Căn bệnh đã tràn lan khắp nơi với hàng trăm thứ vi trùng bên ngoài bên trong chia nhau đục khoét. Chúng tôi đã nỗ lực để tự cứu và thề sẽ đi đến cùng đường dù bằng tù đày xương máu.
Đó là lúc tôi 21 tuổi, học năm thứ ba đại học và đang nằm sau song sắt nhà giam để suy tư về quê hương, đất nước, Tổ quốc một cách cụ thể và đầy cảm xúc. Tôi đã viết bài thơ trên giấy bao xi măng dùng để lót nằm trên sàn nhà ẩm ướt băng giá của một mùa đông xứ Huế lạnh buốt xương da.
Cùng thế hệ với tôi vào thời điểm lịch sử đó, hàng vạn thanh niên sinh viên học sinh xuống đường để đấu tranh cho độc lập, hòa bình, tự do của Tổ quốc. Họ hát những bài ca đớn đau, hùng tráng hay hi vọng về quê hương đất nước. Có thể trích dẫn một số bài hát sau đây trong phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” của những nhạc sĩ sinh viên hay được sinh viên yêu mến.
Hát cho dân tôi nghe (Tôn Thất Lập)
Hát cho sông không sâu, cho tiếng kêu đò thật gần. Hát cho đêm qua lâu, cô gái đưa người vào bờ. Hát sâu trong xa xưa, tiếng hát Trưng Vương hồng thơm. Hát vang danh Lam Sơn, người cũng như mây lên non. Hát cho trăm năm son, sử vàng cũng biết môi thơm.
Hát cho quê hương (Trần Long Ẩn)
Đất nước ta sẽ hùng cường, nhân dân ta sẽ ấm no, khi áp bức, khi xích xiềng, khi ác thù bị gục ngã. Quê hương mình mãi sáng chói, muôn lửa hồng mãi rực tươi. Việt Nam ơi! Việt Nam ơi! Đây tiếng hát con tim đời đời.
Thừa Phủ ơi lòng ta hồng biển lửa (Thơ Võ Quê, nhạc Nguyễn Phú Yên)
Ơi người tù thiếu nữ trưa nay đang âm thầm quét lá khô vỉa hè vắng lặng. Hồn em đau, hồn em đau từng nhát chổi lạnh lùng. Ta biết lòng em rực hồng biền lửa, chờ gió ngày bão lớn thổi bùng lên.
Tổ quốc ơi ta đã nghe (La Hữu Vang)
Ôi Tổ quốc bao tiếng ca giờ lên đường. Đem máu hồng tô thắm đẹp cuộc đời. Lời xưa vang đâu đây chí kiêu hùng muôn phương tung bay. Đường ta đi hôm nay bao xác thù gục ngã tan thây. Tổ quốc ơi, bao thiết tha lời sông núi, thề nguyện cả cuộc đời trọn dâng cho quê hương này. Muôn hoa tươi thắm ngát hương trên bao nụ cười. Gian khổ nề chi ta ra đi.
Tự nguyện (Trương Quốc Khánh)
Nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng. Nếu là hoa tôi sẽ làm một đóa hướng dương. Nếu là mây tôi sẽ làm một vầng mây ấm. Nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương.
Hát từ đồng hoang (Miên Đức Thắng)
Rồi ngày mai đất ta vươn thơm mùi lúa mới. Rồi ngày mai đất ta hoa thơm hồng môi cười. Rồi ngày mai quê hương xanh lên mầu sông núi. Vì ngày nay dân ta quyết sống vì đất này.
Người về thành phố (Phạm Thế Mỹ)
Từ biển xanh lên trên non cao, máu các anh nhuộm đỏ đồng sâu, thắm trong tim tươi ngọn lúa mới. Nụ cười trên môi em thân yêu, trên hố hầm bom đạn tàn hoang, trên đất khô đã thành ruộng vàng.
Ruộng đồng ơi, thị thành ơi, trời Việt Nam hôm nay rực sáng. Nhà của ta, ruộng của ta, cánh tay ta xây lại đời ta.
Bạn bè ơi, kẻ thù ơi, đường Việt Nam thênh thang ngàn lối. Người đã đi, người đã tới, bước chân anh nối lại Việt Nam.
Gia tài của mẹ (Trịnh Công Sơn)
Một ngàn năm nô lệ giặc Tầu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày, gia tài của mẹ một bọn lai căn, gia tài của mẹ một lũ bội tình.
Dạy cho con tiếng nói thật thà. Mẹ mong con chớ quên mầu da, con chớ quên mầu da nước Việt xưa. Mẹ trông con mau bước về nhà. Mẹ mong con lũ con đường xa, ôi lũ con cùng cha, quên hận thù.
Tôi trích dẫn khá nhiều để thấy rằng những tâm tình đó không đơn lẻ, không phải chỉ ở tác giả những bài ca mà là ở hàng triệu con tim cùng hát với họ, âm vang mãi cho đến tận sau này. Ở đây cũng xin nhấn mạnh rằng không đặt vấn đề quan điểm chính trị đối với cuộc chiến tranh Việt Nam, cho đến nay, vẫn còn tranh cãi giữa những người trong cuộc, mà muốn nói đến tâm tình của một thế hệ về quê hương, đất nước, lịch sử, Tổ quốc của mình. Những người đó có thể có người ủng hộ miền Bắc, có người là đảng viên cộng sản nhưng Tổ quốc của họ không bao giờ là Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc chỉ là anh em đồng bào, người em, người chị, người mẹ, người tù, mái nhà, con sông, rừng sâu, non cao, biển biếc, tiền nhân chống giặc Tàu giặc Tây xâm lược… Tổ quốc chung của mọi người Việt Nam từ xưa đến nay không có gì khác. Đó là tâm tình của những người tôi hiểu rất rõ vì cùng hoàn cảnh và cùng thế hệ ở miền Nam.
Ở miền Bắc tôi không hiểu nhiều, dù tôi có thể biết khi đọc qua sách báo. Tuy nhiên tôi có người bạn ở miền Bắc vào, gần gũi chia sẻ nhiều điều từ hơn 20 năm qua tại thành phố Đà Lạt, nơi tôi đang sống. Đó là nhà thơ Bùi Minh Quốc. Tôi đã viết một chương về anh trong cuốn sách Mảnh trời xanh trên thung lũng (Nhà xuất bản Văn Mới, Hoa Kỳ, 2007). Chương đó có tựa “Mẹ đâu ngờ”, viết về tập thơ của anh, có những đoạn sau đây:
“Như mọi người Việt Nam yêu đất nước yêu tự do, tôi đã hiến dâng tuổi trẻ cho cuộc chiến đẫm máu của nhân dân mình để giành Độc lập cho Dân tộc và Tự do cho mỗi con người.
Độc lập đã có, nhưng Tự do thì chưa.
Những dòng thơ này là chút của riêng còm cõi mà người viết tự trang bị cho mình vào tuổi ngoài năm mươi, và hi vọng được góp vào hành trang của nhân dân mình trên hành trình khổ ải giành Tự do.”
Đó là những lời mở đầu cho tập thơ Mẹ đâu ngờ của Bùi Minh Quốc. Lời mở ngắn gọn và cô đọng này đã tóm lược suốt cả quá khứ và tâm trạng hiện tại của nhà thơ, với khát vọng và nỗi đau thấm trong từng chữ.
… Như mọi người trẻ tuổi yêu nước, hành trình của Bùi Minh Quốc thời thanh xuân là một hành trình khổ ải và bừng bừng ngọn lửa dấn thân cho lý tưởng. Từ Hà Nội, anh tình nguyện đi Nam để vào mặt trận khi con đầu lòng chưa đầy sáu tháng. Vợ anh cũng tiếp tục theo chân anh khi con vừa đầy năm, cùng chiến đấu trên một chiến trường. Vợ anh, một nhà văn chiến sĩ tài hoa, đã ngã xuống trong một trận càn dưới lằn đạn xé ngực.
“Ngắm con trong ảnh lệ trào
mẹ đi đi mãi cha sao đền bồi
mẹ trao con lại cho đời
trao con khát vọng làm người tự do”
(“Cho bé Ly con yêu”)
Gian khổ, hi sinh của anh quá nhỏ bé trong cuộc trường chinh máu lửa của dân tộc.
“Chốt địch kia anh. Ta vượt lẹ! Em cười…
Tôi nhắm hướng giọng cười, bước theo mải miết
Mỗi bước đi, lòng mắc nợ bao người
Những món nợ suốt đời không trả hết
Dẫu một chữ cũng phải dốc trọn máu tim mình để viết
Cho thơ tôi bắt kịp giọng em cười”.
(“Nợ”)
Chính vì canh cánh món nợ đó mà ngòi bút máu tim của anh hôm nay bừng bừng phẫn nộ:
“Không có ai
không có ai
Có thể nhìn trời
Bình tâm mỗi sáng
Khi những thằng đểu còn trong Đảng
… Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ
Sao có lúc vang lên lạnh rợn thế này?
Đồng chí – dao đã nằm ém nhẹm dưới lòng tay
Mưu mô đã xong và mọi ngả đường đã giăng cạm bẫy
Khí trời, khí trời mỗi ngày ta thở
Bị ô nhiễm bởi bao lời dối trá
Phổi ta nám rồi – ta dẫu có làm sao…
Những lũ trẻ, trời ơi, lũ trẻ
Chúng lớn lên sẽ hít thở thế nào
Nếu dối trá vẫn chồng lên dối trá.
… Suốt một đời bạc tóc dưới mưa bom
mẹ lầm lũi đào hầm nuôi cách mạng
Con xin nói
Với tất cả tấm lòng và
lương tri cộng sản
mẹ chẳng phải đảng viên
nhưng mẹ có tấm thẻ đỏ trái tim ròng ròng máu ứa
chính mẹ chứ không ai – mẹ phải nắm quyền
hỏi tội những thằng thẻ đỏ tim đen.”
(“Những ngày thường đã cháy lên”)
Đó là những dòng anh viết không lâu trước khi bị khai trừ Đảng. Anh vẫn còn nhân danh “lương tri cộng sản”. Đối với anh “lương tri cộng sản” chính là chống bất công áp bức, đòi độc lập tự do và công bằng xã hội, theo lời kêu gọi “vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian” trong bài “Quốc tế ca”. Đối với anh, thẻ đỏ phải là tim đỏ, không chấp nhận thẻ đỏ tim đen. Tiếc thay những kẻ thẻ đỏ, tim đen lại có quyền lực thu hồi tấm thẻ đỏ của anh.
… Bùi Minh Quốc là một trong những người cầm bút đã có can đảm lội ngược dòng. Tôi đặc biệt yêu thích sự trung thực của anh, trước hết là trung thực với chính mình:
“Bao nhiêu năm ta ngỡ mình tự do
Những giáo điều đã thành những tín điều khi nào vậy?
Chất độc ngấm ngọt ngào không ai nhận thấy
Đất sét nhào nên thần tượng để tôn thờ.
Không có gì quý hơn độc lập tự do
Chân lý ngỡ thấm rồi ngờ đâu chưa hiểu hết
Sau bao phen đối đầu cùng cái chết
Vẫn chưa tan nỗi sợ trước uy quyền
… Không có gì quý hơn
Độc lập
Tự do
Ta hôm nay lại ôm đầu đánh vần từng chữ
Việc chi mà xấu hổ
Khi mỗi giọt máu mình khát độc lập tự do”
(“Không có gì quý hơn độc lập tự do”)
Sám hối về những sai lầm của mình là việc vô cùng khó khăn. Có người né tránh, có người xấu hổ. Nhất là đối với những người đang nắm quyền lực lại càng khó khăn hơn vì người ta nghĩ rằng thừa nhận sai lầm sẽ khởi đầu cho mất mát, sụp đổ. Bùi Minh Quốc thì không. Anh không có quyền lực gì để mất. Anh chỉ sợ mất chính mình. Nếu không muốn mất mình, nhất định phải sám hối.
… Ngày trước anh trung thực và bây giờ anh cũng trung thực. Anh đã sai lầm và anh đã sám hối. Lỗi không phải ở anh, ở thế hệ của anh mà chính là lỗi của những người đã lợi dụng lịch sử. Chính sự sám hối sẽ cứu rỗi dân tộc và con người chứ không phải là những lời lẽ ba hoa về chính nghĩa và chiến thắng.
Trên đây là tâm tình về quê hương, đất nước, Tổ quốc của những người mà tôi hiểu khá rõ. Mở rộng ra, nhân dân Việt Nam và đặc biệt, người lính của cả hai miền Nam – Bắc trong cuộc chiến nghĩ gì? Những chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa của miền Nam tự hào chiến đấu bảo vệ tổ quốc, quê hương, đồng bào khỏi sự xâm lăng của cộng sản. Người chiến sĩ của miền Bắc, từ khi “Đoàn Vệ quốc Quân một lần ra đi, dù có sá chi mong ngày trở về. Ra đi ra đi bảo tồn sông núi. Ra đi ra đi thà chết chớ lui”, với tư cách chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hi sinh”, vì miền Nam ruột thịt, chống đế quốc Mỹ xâm lược. Chẳng có ai chiến đấu vì “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” cả.
Vậy thì “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của người cộng sản Việt Nam là gì, của ai? Những người cộng sản Việt Nam không phải sinh ra đã là cộng sản. Trừ một số ít lãnh tụ và đảng viên nòng cốt được đi học lý thuyết Mác – Lê ở Nga, Tàu, đại bộ phận là nông dân, công nhân, dân nghèo và một số ít trí thức đi theo Đảng vì bị cướp đất, cướp nhà, chịu bất công áp bức và muốn bảo vệ Tổ quốc trước sự xâm lăng của ngoại bang. Dĩ nhiên họ gắn bó ràng buộc với nhau trong tổ chức Đảng và trong bộ máy nhà nước khi đã giành được chính quyền. Về sau họ cũng được học tập về chủ nghĩa, kinh tế chính trị Mác – Lênin nhưng thuở ban đầu, như trong một chuyện vui của chính những người cộng sản, nhiều người trong các cuộc kết nạp hay trong các cuộc họp, nhìn lên ảnh của Marx và Lenin, không biết ai là ai, chỉ biết “Thưa ông râu dài và ông râu ngắn”.
Đảng viên cộng sản cũng không phải thuần nhất, giữa đảng viên lãnh đạo, có chức vụ cao với đảng viên thường. Ngay đối với những đảng viên cao cấp, dù trước đây họ tin tưởng vào “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của những người vô sản trên toàn thế giới, liệu họ còn tin được nữa không khi bắt đầu có sự xung đột giữa hai nước đàn anh Liên Xô – Trung Quốc. Và họ buộc phải thay đổi suy nghĩ trước cuộc chiến xâm lược của Trung Quốc năm 1979 trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Khi đó cả cương lĩnh của Đảng và Hiến pháp của nhà nước đều ghi rõ Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp, trực tiếp và nguy hiểm. Làm sao có thể có cùng “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” với Trung Quốc. Về sau này khi tình hình thay đổi, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam lại bắt tay hữu hảo với người “anh em đồng chí bốn tốt” có “mười sáu chữ vàng” theo một chính sách ngoại giao hèn nhát mà có người mỉa mai là “ngoại giao Hàn Tín lòn trôn”.
Có những người cộng sản gộc đã phản tỉnh về chủ nghĩa như Trần Độ, Nguyễn Hộ… Có những đảng viên cộng sản lão thành, công thần của chế độ như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên, Dương Danh Dy, Nguyễn Trung… đã công khai lên tiếng báo động về ý đồ xâm lược của bọn bá quyền phương Bắc. Nhiều văn nghệ sĩ, trí thức đảng viên như Phạm Đình Trọng, Tô Hải, Tống Văn Công…, các thành viên của Viện IDS, nhóm Bôxít đã tố cáo chính sách sai lầm của những người lãnh đạo hiện nay, đặc biệt liên quan đến ý đồ xâm lược và sự chi phối của đế quốc Đại Hán mới, qua các vụ mất biển, đảo, biên giới, cho thuê đất rừng, khai thác bôxít và mới nhất là việc tổ chức Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Những người này nhất định không có chung “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” với các “Ba Tàu” cộng sản. Và nếu có cuộc chiến tranh quân sự xâm lược nổ ra do cộng sản Trung Quốc phát động, tôi tin rằng tuyệt đại bộ phận những người cộng sản Việt Nam sẽ cùng với toàn dân tộc, cầm súng chiến đấu chống lại để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Nếu các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, đòi lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa của sinh viên, văn nghệ sĩ, trí thức ở Sài Gòn và Hà Nội không bị đàn áp dập tắt, tôi tin rằng sẽ có hàng vạn, hàng triệu người Việt tham gia.
Vậy thì “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” chẳng là cái gì và của ai cả, chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền của những người lãnh đạo cộng sản, cũng như bất cứ thứ gì gắn với “xã hội chủ nghĩa”, như “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, chỉ có một nghĩa duy nhất là dưới sự lãnh đạo độc quyền của Đảng Cộng sản. Ngoài ra không có gì khác. Để bảo đảm quyền và lợi ngày càng quá lớn của một thiểu số đã lợi dụng nhân dân khi giành được chính quyền.
Anh Phước thân mến ;
Thực tế không có “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh và có lẽ đại bộ phận dân tộc Việt Nam cũng đồng ý rằng chỉ có Tổ quốc Việt Nam của mọi người Việt Nam. Và vì thế tôi đã có thể cùng anh và các bạn ngồi uống rượu nói chuyện về đất nước dưới mái nhà ven hồ thơ mộng của anh ở Dallas vào một tối mùa Hè năm 2009.
Đà Lạt tháng 10/2010
© 2010 Tiêu Dao Bảo Cự
© 2010 talawas
Bình luận
10 Comments (bài “Tiêu Dao Bảo Cự – Về Tổ quốc và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”)
Tôi chú ý đến những bài viết về Việt Nam của Tiêu Dao Bảo Cự từ thập niên 1990. Khi ông bị quản chế hành chính tôi cũng đã nhiều lần lên tiếng tranh đấu cho quyền tự do phát biểu của ông, và của nhiều nhà hoạt động dân chủ khác, trên các diễn đàn, tại những hội nghị và với các tổ chức nhân quyền.
Dù quá khứ Tiêu Dao Bảo Cự có lý tưởng gì chăng nữa thì sau khi Việt Nam thống nhất, độc lập nhưng chưa có được tự do, hạnh phúc, với tâm của một người trí thức nhìn ra sự thực, ông tiếp tục lý tưởng tranh đấu của mình để rồi lại phải đối mặt với những đàn áp, quyền tự do phát biểu của ông, của người Việt, còn bị chà đạp.
Thập niên 1980, tôi cùng với nhóm sinh viên thuộc Ân xá Quốc tế ở Đại học Berkeley có tổ chức nói chuyện cho Đoàn Văn Toại, một thủ lãnh sinh viên chống chính quyền Sài Gòn trong những năm trước 1975. Sau khi trình bày những vi phạm nhân quyền, những đàn áp thành phần từ trí thức, văn nghệ sĩ, tôn giáo của chính quyền Hà Nội mà theo ông còn tệ hơn chính quyền Sài Gòn, một người tham dự buổi nói chuyện đã hỏi, đại ý là nếu đàn áp của chính quyền Hà Nội ngày nay còn xấu hơn trước, vậy ông có hối tiếc gì vì đã tranh đấu để bây giờ Việt Nam có một chế độ còn đàn áp người dân hơn. Đoàn Văn Toại trả lời rằng ông không hối tiếc vì với ông bất cứ khi nào thấy bị chính quyền đàn áp, tước đoạt quyền phát biểu thì ông sẽ tranh đấu chống lại chính quyền đó.
Không chỉ có Đoàn Văn Toại hay Tiêu Dao Bảo Cự đã tranh đấu cho một nước Việt Nam độc lập, tự do mà chúng ta đã thấy rất nhiều người, bất kể quá khứ đã và đang tiếp tục con đường đó. Họ là Trần Xuân Bách, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Đan Quế, Thích Quảng Độ, Chân Tín, Nguyễn Văn Lý, Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Đỗ Nam Hải, Trần Khải Thanh Thuỷ, Lê Thị Công Nhân, Trần Kim Anh, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Trần Luật, Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức và còn rất nhiều nữa.
Những việc làm hiện tại của một trí thức mới nói lên bản chất và lí tưởng thật sự của họ.
– Bùi Văn Phú
QUÊ HƯƠNG VÀ CHỦ NGHĨA
Nguyễn Quốc Chánh, Saigon
Chủ nghĩa dạy em, thù hận hờn căm
Chủ nghĩa dạy em, độc ác bất nhân
Chủ nghĩa dạy em, lọc lừa xảo trá
Chủ nghĩa dạy em, dối gian trăm ngả
Chủ nghĩa dạy em, bội phản vong ân
Chủ nghĩa dạy em, giết chết lương tâm
Chủ nghĩa dạy em, vô thần đấu tố
Chủ nghĩa mù, rước voi dày mả Tổ
Chủ nghĩa ngu, thờ đồ tể ngoại bang
Chủ nghĩa bưng bô, xây dựng thiên đàng
Chủ nghĩa lừa em, những con bò sữa
Chủ nghĩa bất lương, ma cô nhà chứa
Chủ nghĩa tú bà, dụ dỗ thơ ngây
Chủ nghĩa cò mồi, vơ vét luôn tay
Chủ nghĩa cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc
Chủ nghĩa lưỡi câu, móc mồi dân tộc
Chủ nghĩa bịp lừa, bánh vẽ tự do
Chủ nghĩa cá ươn, tư tưởng vong nô
Chủ nghĩa chết đi, Quê Hương vẫn sống
Ai nhân danh hạnh phúc
Thứ hạnh phúc ngục tù
Ai nhân danh dân chủ
Thứ dân chủ si ngu
Ai nhân danh chân lý
Thứ chân lý đui mù
Bao nhiêu năm, ai nhân danh chủ nghĩa,
Tự-Do xích xiềng, Dân-Chủ dối gian
Mác-Lênin, đâu phải người Việt Nam!
Sự thật đó có làm em đau nhói ?
Vẫn chập chờn lượn bay bầy quạ đói
Chồn cáo kia có rình rập trước sau
Ngẩng mặt cao và đừng sợ đớn đau
Đứng lên em bằng tâm hồn biển động.
Em đứng lên như đại dương dậy sóng
Tiếng sét thần tuổi trẻ nổ ầm vang
Những tượng hình, chủ nghĩa, phải tiêu tan
Cây Dân-Chủ bừng lên ngàn sức sống,
Em bây giờ khôn lớn
Mắt rực lửa yêu thương,
Biết đâu là sự thật
Em tìm thấy con đường.
Tự-Do sẽ nở hoa
Trên quê hương khốn khó
Anh như con ngựa già
Vẫn cúi đầu kiên nhẫn
Đốt những đám cỏ khô
Dọn đường cho em đi làm lịch sử
Em hãy ngồi xuống đây
Anh kể câu chuyện này
Trên cánh đồng cỏ cháy
Ngậm ngùi như khói bay
Con ngựa già một đời
Chưa thấy được ngày vui
Mắt mỏi mòn trông đợi
Những mầm cỏ xanh tươi.
Đã bao nhiêu năm rồi
Hướng nhìn về xa xôi
Tâm tư đau nhức nhối
Cuộc đời vẫn nổi trôi
Em nhìn về tương lai
Cố dấu tiếng thở dài
Mắt dường như ngấn lệ
Có phải vì khói cay?
Em thấy đó, trên đường đi không đến,
Quê hương đau, chồn cáo vẫn nghêng ngang
Những con thú người nhảy múa kiêu căng
Ngửa mặt hú một bài ca chủ nghĩa.
Ngôn ngữ văn nô, đỉnh cao trí tuệ.
***
Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh sinh năm 1958 ở Bạc Liêu, hiện sống tại Sài Gòn. Tác giả của nhiều tập thơ như Ðêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ vật và Của căn cước ẩn dụ, và Ê, tao đây. Thơ của ông đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng Anh. Trong bài phỏng vấn dành cho nhà văn Vi Ký, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về đảng Cộng Sản:
“Ðảng Cộng sản thắng Tây và Mỹ bằng máu của dân tộc, bằng vũ khí của Nga và Tàu, rồi nộp “độc lập dân tộc” cho cộng sản Tàu và Nga. Ai chỉ ra tình trạng thế chấp và bán đứng đó đều bị cho là phản động. Kẻ phản động có thể gây tai họa cho Ðảng nhưng lại là phúc của dân.
Những ai vì Ðảng sẽ kết án kẻ phản động, còn những ai vì con người thì sẽ hoan hô kẻ phản động. Hãy nhớ câu nói lịch sử của ông Nguyễn Văn Thiệu: “Ðừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”.
(Source: http://www.lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=3176:3176&catid=37:bandoc&Itemid=56 )
TỔ QUỐC NÀO CHO BÁC TIÊU DAO
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
than ôi
theo bác Tiêu Dao
không là cái gì sất.
Nó chỉ là khẩu hiệu bịa ra
từ miệng “Bác” Hồ thiên tài vĩ đại
cha già
của cái Tổ quốc thật
bằng xương bằng thịt
của tổ tiên, ông bà, cha mẹ
anh chị em
láng giềng bà con làng xóm
qua bốn ngàn năm lịch sử
trên mảnh đất hình chữ S của chúng ta.
“Bác” Hồ kính yêu của Tổ quốc “ta”
bằng cái lỗ mồm
dưới hàm râu lưa thưa của “Bác”
không rậm rật như hàm râu cụ Mác
đã đẻ ra cái Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
của quý ngài cộng sản Việt Nam.
Ôi, cao quý thay
Ôi, xinh đẹp thay
Cái Tổ quốc này
Tổ quốc bác Tiêu Dao thờ phụng
Tổ quốc miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Có “kụ” Hồ lãnh đạo
Có nền chuyên chính vô sản anh minh
Có gông cùm
Ngục tù tối tăm
Nhưng bác Tiêu Dao phải đấu tranh cho bằng được
để Tổ quốc thật VNCH tiêu diêu miền Cực Lạc
để cho cái Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của “Bác” Hồ
ngự trị trên quê hương
Vì nó hơn hẳn cái Tổ quốc bình dị xoàng xỉnh
của miền Nam Tự Do
Nơi người dân sinh sống hòa bình
Nơi con người được tự do nói
tự do làm, tự do sống
tự do xuống đường biểu tình rầm rộ.
Cái Tổ quốc VNCH này quá tầm thường
không được bác Bảo Cự thích
Cho nên bác phải cùng các đồng chí
đấu tranh ngày đêm
để hoàn thành cuộc kách mạng
long trời lở đất
để có cho bằng được cái Tổ quốc
“Bác” Hồ
bịa ra lừa gạt chúng ta.
Tôi nghĩ nếu TDBC thực sự ân hận vì đã lầm lỡ theo CS thì đó cũng là cái khổ đau ray rứt cho ông ta cũng như Đào Hiếu, Huỳnh Bá Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Thích Trí Quang, Chân Tín và rất nhiều người trong Nam khác nữa…có thể họ cũng vì thích cái ta trí thức hiểu biết đạo đức hơn người…Người Bắc theo CS vì họ bị nhồi sọ, bị bưng bít không có thông tin hai chiều, vì bị khủng bố, vì bị nắm bao tử…
Bà con tôi và cả trong xóm tôi trước 75 có nhiều người là cảm tình viên hoặc hoạt động trực tiếp cho CS: ông N. làm cho hãng Xăng dầu Esso cũa Mỹ lương cao có thể nuôi cả gia đình sung túc, ông N. là đại úy Quân cảnh khi “giải phóng” mới vào hãnh diện tuyên bố tao đã theo cách mạng, lấy chiếc Jeep của mình chở bộ đội đi tiếp quản khắp nơi…Bạn tôi có đứa luộc cả bao bố khoai lang phơi khô để tiếp tế cho cán bộ ven đô…Còn có cả ông trung đoàn trưởng VNCH dẫn toàn bộ trung đoàn của mình theo “cách mạng” nữa kìa. Ông Thế Uyên là một sĩ quan cấp tá VNCH, chủ trương nhóm “Thái độ” tranh đấu cho một đất nước VN “XHCN” không CS! VNCH thua là phải.
Có lẽ họ theo CS vì thơ ngây, không biết thực chất của CS chứ không phải họ biết rõ cuộc sống ở miền Bắc như độc giả TOTE viết mà vẫn theo. CS triệt để khai thác điểm này và chỉ dùng họ như một miếng chanh. Họ đáng thương hơn đáng trách và nếu họ ân hận thực sự tôi nghĩ sự sai lầm của họ cũng là một cơn ác mộng ám ảnh theo họ suốt đời. Thế là đủ. Những người Bắc kỳ di cư năm 54 có nói sao về CS miền Bắc thì đồng bào miền Nam ít khi quan tâm…Điều đáng nói ở đây là những kẻ đã từng sống, từng biết rõ miền Nam trước kia mà vẫn theo đóm ăn tàn…
Chuyện đã qua không ai có thể thay đổi quá khứ được nữa, hãy để cho những người tỉnh ngộ có cơ hội chọn chỗ đứng chính xác cho họ, cho con cháu họ giữa CS và không CS.
Trong thập niên 1940s mà nói , “tui theo Việt Minh vì khao khát Độc lập cho Đất nước hay Giải phóng nô lệ cho dân tộc thì nghe có thể rung động, chấp nhận. Chứ ở thấp niên 1960′ mà bảo, “tôi đã hiến dâng tuổi trẻ… để giành Độc lập cho Dân tộc và Tự do cho mỗi con người.” thì không lọt lỗ tai. Nếu ai có lỡ nghe thì có lẽ nên bắt chước Sào Phủ mà đi tìm suối lớn suối nhỏ…
Bởi vì, nguời trong Nam ai cũng biết chế độ miền Bắc đang làm gì… Cải cách Ruộng Đất , Nhân văn giai phẩm, Quê hương cách mạng Liên Sô, Mao Chủ Tịch… mấy thứ này thì ông Tiêu Dao Bảo Cự cất vào chỗ nào? Độc lập ở đây không cho Dân tộc và Tự do không cho mỗi người mà cho “Phe Xã hội chủ nghiã hay cho loài người tiến bộ”. Có thể đó là điều mà ông Tiêu Dao cảm nhận như chân lý cho mình trong khi sự thực phổ biến cho “sinh viên tiến bộ hay yêu nước “trong giai đoạn lịch sử 1950s, 1960s và đầu 1970s là: ..”cho đến khi sắp chết, có thể tự nhủ ,”Tất cả sức lực và sinh mệnh cuả ta đã “hiến dâng” cho sự nghiệp cao qúi nhất loài nguời: Sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại.”
Có thấy cái bóng ma “Độc lập , Tự do” cuả bác Bảo Cự thì mới biết cái kích thước cuả nhạc sĩ Tô Hải là bao. Thiển nghĩ, nên lưu lại cho con cháu sự thực và trải nghiệm chân thành thì quí báu hơn là những lý lẽ hùng hồn nhưng gượng ép để biện minh cho lựa chọn vốn lầm lạc cuả mình…
Và viêc anh Nguyễn Xuân Phuớc khám phá ra cái “TỔ QUỐC Xà HỘI CHỦ NGHIÔ cuả Bác là điều đáng ngưỡng mộ.
“Nếu các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, đòi lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa của sinh viên, văn nghệ sĩ, trí thức ở Sài Gòn và Hà Nội không bị đàn áp dập tắt, tôi tin rằng sẽ có hàng vạn, hàng triệu người Việt tham gia”
Tôi nghĩ ngược lại, Nếu các cuộc biểu tình … có hàng vạn, hàng triệu người Việt tham gia, tôi tin rằng chúng [các cuộc biểu tình] sẽ không thể bị dập tắt .
Tôi có một ý kiến để lý giải thêm tại sao đất nước này vẫn lình xình mãi mãi chuyện bất công vô lý.
Ông nhà thơ CS Tố hữu có câu thơ: Đảng ta đó TRĂM TAY, NGHÌN MẮT… Nghĩa là soi mói, thù lâu nhớ dai về chủ nghĩa lý lịch, dù tài giỏi đến mấy cũng không mọc mũi sủi tăm lên được nếu trong cải cách ruộng đất (Dù đã được sửa sai…. Lấy lệ) bị qui là địa chủ… Nhưng cái trăm tay, nghìn mắt ấy lại như bị đui mù trước vấn nạn tham nhũng như con hổ VINASÍN đổ món nợ khổng lồ cho cháu chắt dân tộc này….!
“Những người đó có thể có người ủng hộ miền Bắc, có người là đảng viên cộng sản nhưng Tổ quốc của họ không bao giờ là Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc chỉ là anh em đồng bào, người em, người chị, người mẹ, người tù, mái nhà, con sông, rừng sâu, non cao, biển biếc, tiền nhân chống giặc Tàu giặc Tây xâm lược… Tổ quốc chung của mọi người Việt Nam từ xưa đến nay không có gì khác. Đó là tâm tình của những người tôi hiểu rất rõ vì cùng hoàn cảnh và cùng thế hệ ở miền Nam.” (Tiêu Dao Bảo Cự)
Câu nói này của ông Tiêu Dao bảo Cự nếu áp dụng cho những người bình thường (trong miền Nam) nhưng “ủng hộ miền Bắc” (nguyên văn), thì còn hợp lý do chỗ họ không hiểu rõ miền Bắc và tin vào lời tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước” của phía Cộng sản. Nhưng nếu áp dụng cho những người (miền Nam) là “đảng viên cộng sản” (nguyên văn) có tầm cỡ kiến thức tốt nghiệp đại học như tác giả TDBC thì tôi nghĩ là ngụy biện. Tại sao? Xin thưa rằng, nếu ông TDBC quan niệm Tổ quốc như những gì ông nói trên đây, thì thử hỏi làm sao ông có thể CAN ĐẢM tuyên thệ gia nhập vào ĐCSVN trước sự CHỨNG KIẾN long trọng của những ông râu xồm, mắt xanh, mũi lõ Mác, Ăng-Ghen, Lê-Nin, Xít-Ta-Lin và lá cờ NGA màu đỏ với cái búa liềm vàng? Thử hỏi, nếu không có ý niệm giai cấp vô sản toàn thế giới đoàn kết lại, nếu không có ý niệm Tổ quốc của những người vô sản trên toàn thế giới, tức là cái “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” chung cho mọi người vô sản, không phân biệt chủng tộc, màu da, ranh giới quốc gia, v.v… thì mấy cái ông râu rậm, mũi lõ này là cái quái gì đối với ông TDBC và các đồng chí của ông, để ông phải kính ngưỡng, trang trọng tuyên thệ trung thành và gia nhập Đảng trước mắt họ?
Những bài ca mà Tiêu Dao Bảo Cự đã dẫn có tác dụng làm suy yếu tiềm lực chiến đấu – trước mắt – là của những người lính miền Nam. Trong khi những bộ đội miền Bắc được nghe những bài hát khác. Tôi tự hỏi các nhạc sĩ trong Nam ấy có những ý đồ gì? Khách quan hay là chưa hiểu CS?
Tổ quốc XHCN là tổ quốc của những lãnh tụ CS mà chúng ta đang có ngày hôm nay? Tất nhiên tổ quốc XHCN là của riêng họ thì họ phải tìm mọi cách và bằng mọi giá để bảo vệ. Còn kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì tôi xin chịu không thể hiểu được ý nghĩa của nó. Nó có phải là cái đuôi của tổ quốc XHCN?
Có lẽ TQ sẽ không cần đến một chiến tranh hao tổn người lẫn vũ khí nữa vì bài học 1979 đã có ít nhiều tác dụng, chỉ cần gậm nhấm lần lần ĐCSVN bằng đủ mọi thủ đoạn mà người CSVN vẫn hay dùng đối với dân mình.
Nếu có một cuộc chiến tranh xảy ra VN sẽ nhanh chóng bại trận vì vũ khí của TQ trội hơn, vì sự phân hóa nội bộ ngay trong hàng ngũ Đảng đó là chưa kể người dân quá chán ngán sự lừa bịp của CS thì những lời kêu gọi kháng chiến của Đảng dễ gì ai nghe. Chiến đấu cho ai và vì ai? Ai sẽ là người vùng lên chiến đấu chống ngoại xâm trong lúc Đảng vẫn nắm tất cả quyền lực (quân đội, CA) trong tay? Đảng đã không đoàn kết được dân tộc thành một khối thì chuyện chiến đấu bảo vệ tổ quốc không CS là một bức tranh hết sức ảm đạm và khôi hài.
TQ hoàn toàn nắm rõ nhược điểm này của ĐCSVN và sẽ khai thác tận tình. Sự lệ thuộc của VN vào TQ đã có từ trước nay càng lộ liễu hơn mà ai cũng thấy. Điều gì sẽ xảy ra nữa cho một dân tộc đã từng bất hạnh vì CS xem ra không mấy sáng sủa hơn.
“Vậy thì “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” chẳng là cái gì và của ai cả, chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền của những người lãnh đạo cộng sản, cũng như bất cứ thứ gì gắn với “xã hội chủ nghĩa”, như “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, chỉ có một nghĩa duy nhất là dưới sự lãnh đạo độc quyền của Đảng Cộng sản. Ngoài ra không có gì khác. Để bảo đảm quyền và lợi ngày càng quá lớn của một thiểu số đã lợi dụng nhân dân khi giành được chính quyền.” (Tiêu Dao Bảo Cự)
Nếu nói như ông Tiêu Dao Bảo Cự thì tất cả mọi người từng theo ĐCSVN (trong đó có chính ông) đều bị LỪA một cách vô cùng thảm hại và ngu xuẩn. Bởi vì quý ông đã đi theo tiếng gọi của ông Hồ, người đã nói nhiều nhất tới cái gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Ông Hồ đã dạy quý ông rằng “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”, đã đồng hóa “Tổ quốc” với “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”.
Người ta không thể nào giản dị phịa ra một khái niệm LỚN được nhiều người, có thể nói là hàng triệu người, qua nhiều thế hệ từ năm 1945 đến nay tin tưởng và hy sinh cho nó, như cái ý niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” mà không hề chứa đựng một nội dung gì hết như ông Tiêu Dao Bảo Cự đã nói trên đây. Nó, theo ông TDBC, đơn thuần chỉ là một câu thần chú huyền bí do giới lãnh đạo ĐCSVN phịa ra để LỪA người khác và nó đã LỪA được rất nhiều người hy sinh ngay cả chính mạng sống của họ vì ý niệm xạo và ảo đó. Điều này, theo thiển ý, không thể nào tin được.
Thành thật mà nói, tôi không tin những gì ông TDBC nói trên đây. Tôi e rằng đấy chỉ là một loại ngụy biện để chạy tội sai lầm của mình trong quá khứ khi ông, vì lý do này hay lý do khác, đã phản bội lại đồng bào và nhân dân miền Nam, nơi đã nuôi dưỡng ông lớn khôn một thời, để ông nhẫn tâm bội bạc “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản”, lén lút phản trắc đâm sau lưng đồng bào và chiến sĩ miền Nam Tự do, và làm cho VNCH đã gục ngả đưa dân tộc đến thảm họa ngày hôm nay. Theo tôi, khi ông tuyên thệ gia nhập ĐCSVN trước lá cờ Đảng (lá cờ đỏ, búa liềm vàng, tức là lá cờ Liên Xô) và hình mấy ông Tây râu rậm, mũi lõ, Mác, Ăng-Ghen, Lê-Nin, v.v… chắc chắn ông đã phải học qua các điều lệ của Đảng, trong đó hàm chứa điều lệ trung thành với TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (của ông) và nó hoàn toàn không phải là cái Tổ quốc như ông nói trong bài, mà nó, than ôi, chính là cái mà tác giả Nguyễn Xuân Phước đã giảng giải rất rõ ràng trong bài của ông, nhưng nay ông đã phủ nhận.