Tản mạn trong mùa trồng cây
26/03/2009 | 3:02 sáng | 3 Comments
Category: Kinh tế - Môi trường
Thẻ: cảnh quan đô thị > môi trường > tản văn
Mùa xuân là mùa gieo trồng, − người sống trong cư dân nông nghiệp như phần đông chúng ta đều biết rõ điều ấy. Vẫn biết, chuyện trồng cây lưu niên như sẽ bàn dưới đây, có thể làm trong nhiều thời điểm khác trong năm, nhưng nói chuyện này vào mùa xuân vẫn là thuận miệng thuận tai hơn.
Cây hoa gạo: Nên đặt hàng nông dân!
Trong một bức ảnh còn lại từ hồi cuối thế kỷ XIX chụp cảnh chăn vịt trên Hồ Gươm, nếu quan sát kỹ, ta sẽ nhận ra hai thứ trong bức ảnh đó vẫn còn tồn tại đến hiện nay: ấy là tháp Hòa Phong và cây gạo bên bờ hồ. Tháp Hòa Phong vốn thuộc quần thể kiến trúc chùa Ông Thượng (quan Thượng Giai); chùa này đã bị phá hết, chỉ còn sót lại ngọn tháp này ở phía ven hồ. Nhưng cây gạo thì vì ở sát mép nước nên không bị đốn hạ, hơn thế, còn ở đúng phần đất dành để trồng cây ven hồ, nên vị trí của nó vững như… trời trồng vậy. Chỉ có điều, cây gạo nay đã già lắm, đã ngoài trăm tuổi rồi, và dù đã hàng trăm mùa trổ hoa rồi kết quả rồi bung vỏ quả tung ra các chùm bông có kèm hạt giống, nhưng chưa hề thấy một cây gạo con nào mọc lên được và sống được ở các khoảng đất xung quanh gốc cây này! Quả thật, trên thứ đất đắt như vàng của vùng trung tâm thành phố, chuyện để cho cây cối tự sinh sôi nối dòng nối dõi là khó lắm thay. Nhìn suốt một vòng Hồ Gươm hình như không thấy có cây gạo thứ hai nào; ấy vậy mà cây gạo này lại là một trong vài ba thứ cây có danh hơn cả trong hàng trăm cây cối ven Hồ Gươm; bên cạnh nó may ra chỉ kể tên được mấy cây lộc vừng cùng ở bờ phía đông và cũng đã cao niên lắm mà thôi, còn thì những sấu những me những xà cừ chỉ có tên chung thôi, không thể có tên riêng, những liễu những đào thì thay đi lúc nào cũng được!
Nhiều người khi thấy mùa hoa gạo ngày một thưa vắng, đã lên tiếng, nhưng chừng như cơ quan chuyên lo về cây cối trong thành phố (hình như là Công ty công viên cây xanh?) chưa bao giờ cho ươm giống cây gạo! Các giống cây được đưa trồng cho vỉa hè và các công viên thường là me, là sấu, thậm chí dùng cả đến cây keo lá tràm là thứ vóc nhỏ, chóng già cỗi, vốn chỉ thích hợp để phủ xanh đất trống đồi trọc! Muốn có thêm một ít cây gạo trên phố trong tương lai, có lẽ chỉ còn trông chờ vào nông dân các vùng xung quanh.
Thật thế. Cây gạo vốn không phải giống khó gây trồng; có thể trồng bằng cách gieo hạt, cũng có thể bằng ươm cành. Nếu nông dân các tỉnh các miền từ Bắc đến Nam đã có thể sản xuất nhiều giống cây từ lộc vừng bản địa đến bách tán xứ lạnh và cau châu Phi để cung cấp cho sở cây xanh của các thành phố, thì không lẽ họ không sản xuất nổi giống cây gạo? Đầu mùa hè này, nếu có dịp đi ra ngoại thành, các bạn hãy thử nhìn những vòm hoa gạo ở ven con đường số 1 ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, bạn sẽ hiểu là những ngân hàng gien cây hoa gạo (kapok, mộc miên hoa) vẫn còn tiềm tàng, vẫn trong tầm tay nông dân các địa phương này, nghĩa là không sợ mất giống! Nếu họ biết bắt tay vào việc sản xuất, lại cũng biết tiếp thị, tức là giao dịch với các cơ quan phụ trách về cây trồng ở các thành phố, thị xã, v.v… thì cả hai phía sẽ đều được lợi. Ta sẽ hy vọng được thấy cây hoa gạo hiện diện nhiều hơn trên các không gian quen thuộc của chúng ta, cả thành phố lẫn các vùng quê.
Lộc vừng: đã đến lúc rời bonsai xuống đường?
Nhiều năm trước, dư luận đã không ngớt lên tiếng lo ngại vì nạn triệt hạ lộc vừng: loại cây này vốn mọc hoang trong rừng, bị tróc nã đem về bán cho người thành phố làm cây bonsai, thu gọn vào chậu cảnh các cỡ.
Tôi biết một nhà nọ từng mua một chậu bonsai lộc vừng về chơi rồi đặt trên sân thượng. Qua mấy năm, cây lớn quá cái cỡ cây trong chậu, chủ nhà bèn đưa xuống trồng ở hè phố trước nhà. Chỉ một vài năm đã được một vòm cây cao vài ba mét, vòm lá cũng tỏa rộng vài ba mét, mỗi năm lại có hai lứa hoa cuối xuân và đầu thu, rất ưa nhìn! Lộc vừng trong chậu đã thành cây trên đường phố.
Quan sát rộng ra, có thể thấy ở Hà Nội, không ít cây lộc vừng đã tự phát từ bonsai xuống đường. Và đã có những nơi đem lộc vừng trồng làm cây trên hè đường, chẳng hạn ở khu đô thị Dịch Vọng. Đây là một chiều hướng thú vị. Chỉ tiếc là người ta chưa thật hiểu rõ đặc tính trổ hoa của loại cây này nên chưa chú ý đặt nó ở những nơi mà vòm hoa có thể soi bóng nước.
Chừng như cây lộc vừng còn đang trở thành đối tượng sản xuất giống, − có thể mới chỉ để cung cấp cho các vườn tạo bonsai. Nhưng theo cái hướng mà ta đã thấy, có thể tin rằng lộc vừng đã và sẽ xuống đường!
Cũng thì là giống cây me cây phượng…
Tôi không phải chuyên gia về thực vật nên không biết có bao nhiêu thứ cây me; quan sát các vùng trong nước, tôi biết thứ cây me quen gọi là phượng vĩ, − thứ cây ngoại nhập mà nay đã được dùng để định tính cho một thành phố (Hải Phòng), cũng biết thứ me hoa vàng, thứ cây này hình như hồi này đang được trồng nhiều trên phố xá Hà Nội. Nhưng chỉ khi đi ra mấy nước Đông Nam Á, tôi mới nhận ra những điểm yếu của các thứ phượng trồng ở ta, nhất là phượng hoa vàng. Vóc dáng thấp nhỏ, vòm lá không dày, − đã là những điều không tốt cho xứ nóng nước mình rồi; lại thêm một nỗi là những chùm quả to màu nâu đen đúa chĩa thẳng lên trời, trông như những đám cành khô chết lẫn trong vòm lá xanh, khá phản cảm (loài cây bằng lăng hoa tím cũng có chung nhược điểm khó chấp nhận này!). Chẳng biết, cũng thì nhập ngoại, sao lại chọn nhập thứ cây nhiều nhược điểm này? Trong khi đó, ở các nước như Malaysia, Cambodia, Singapore đều có một loại cây, có lẽ cũng trong họ phượng thôi, nhưng vóc cây lớn, thân thường phân nhánh chĩa theo hình chữ V ra bốn phía thành các cành lớn, lá đậm và dày hơn chút ít so với lá phượng vàng xứ ta, và nhất là trên vòm cây không hề thấy các chùm quả khô, chỉ thấy đậm một vòm xanh dày mát mắt; thảng hoặc trên các ngọn non có trổ những bông hoa nhỏ màu hồng nhạt, không thấy các chùm quả nặng nào. Có người nói ở Singapore thứ cây này được ưa trồng nhất, vì phần gốc chiếm ít đất mà vòm cây lại vươn lên cao rộng, tốt cho mặt đất xứ nóng. Loại phượng này (tôi hỏi tên nhưng chưa ghi được chính xác, tạm gọi là một loại phượng) tiếc thay lại ít thấy ở xứ ta, hình như thậm chí còn chưa được nhập nội. Tôi nghĩ nên nhập cây giống loại này thẳng từ Cambodia; giống này hẳn có thể trồng khắp nơi trong nước ta, không kể phía bắc hay phía nam.
Và nhân đây, xin được góp ý kiến với những người làm công việc trồng cây xanh ở các thành thị nước ta: các vị nên học hỏi kinh nghiệm và trao đổi nguồn giống với các nước trong vùng, trước hết là các nước Đông Nam Á.
20/02/2009
(Bài đã đăng trên Thể thao & Văn hóa, 24/02/2009)
Bình luận
3 Comments (bài “Tản mạn trong mùa trồng cây”)
Đọc bài của ông tôi hiểu được những xót xa này, nó là một vết cứa vào lòng. Chắc chắn không chỉ của riêng ông.
Mỗi người VN mỗi năm trồng một cây thì chúng ta sẽ có hon 80 triệu cây xanh cho đất nước.
Ở những nơi tốc độ đô thị hóa cao như TPHCM, mảng xanh dần mất đi và vì thế những sự tích, góc nhân văn, những kỷ niệm cũng mất đi. Con người trở nên trơ trọi trong không gian khô cứng.
Tôi sống ở ngoại thành HCM, tôi có những chuyện vui bên những gốc cây nhiều năm tuổi. Con đường phóng qua nhanh chóng và những cây cũng ra đi nhanh chóng.
Tôi chỉ còn giữ những mảng xanh trong nhà của mình thôi. Ở bên ngoài xa kia, các công trường đang thi công và đốn hạ những hàng cây còn lại.
Nhà nước hiện nay chưa có cơ chế, quy định bảo vệ những hàng cây che bóng nằm dọc các con đường mới mở rộng.
Đi qua Singapore, ông Lý Quang Diệu biết đem văn hóa yêu cây đô thị về áp dụng ở thành phố ấy, lúc đầu ngân sách nhà nước bỏ ra rất lớn để trồng cây xanh, ông kể trong hồi ký rằng hồi đó chính quyền đã phạt rất nặng một tay bác sỹ “cây tặc” đào trộm cây đem về nhà mình,… bây giờ Singapore có những rặng cây phượng vĩ tán cao rộng, những hàng cây đại (hoa sứ) cổ thụ (frangipani) đẹp mê hồn.
Còn ở ta nạn “cây tặc” hoành hành, những cây cổ thụ quý hiếm bên bờ hồ Hoàn Kiếm trốc rễ bật gốc vì quá nghiêng, rất phí phạm, nên nhớ người Nhật bảo vệ cây rất có truyền thống, những cây thông già đến mùa đông được người ta đóng cọc (cây tre lớn- rất mỹ thuật) cao rồi lấy dây treo cành của cây thông lên để dưới sức nặng của tuyết không bị gẫy, một nét đẹp văn hóa tìm thấy từ trong tranh mộc bản thời thế kỷ 18, mà vẫn lưu lại đến ngày nay,…