Lâm Hoàng Mạnh – Còi không hụ du ký (6): phần 1
12/08/2010 | 1:00 sáng | 2 Comments
Category: Tổng hợp
Thẻ: cuộc chiến Việt - Trung > Hữu Nghị Quan
(Xem kì 1, kì 2, kì 3, kì 4 & kì 5)
Một người bạn ở Pháp gửi cho tôi những tấm hình thu nhặt được trên mạng, anh bảo: “Viết về cửa khẩu Lạng Sơn mà không có những bức ảnh tư liệu, làm sao bạn đọc hiểu biên giới Việt-Trung xưa và nay.”
Mail anh viết: “Đây là postcard (bưu ảnh) do người Pháp chụp, vào khoảng 1895 gì đó”.
Một buổi đi tập Thái Cực Quyền, tôi hỏi một ông người Lạng Sơn về Hữu Nghị Quan, ông kể:
“Năm 1956, ông Hồ và Mao đổi tên Mục Nam Quan (Nhìn về phương Nam) thành “Hữu Nghị Quan” và hai ông trồng cây đa “hữu nghị” ở đó, thế mà bây giờ cây đa đó cách chỗ cột cây số 0, cửa Hữu Nghị tới… 500 mét về đất Trung Quốc.”
Ông kể tiếp về diễn biến cuộc chiến Trung-Việt 17-2-1979, vùng biên giới Lạng Sơn và lý do vì sao cầu Kỳ Cùng bị sập.
“Sáng sớm 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn sang 6 tỉnh biên giới. Riêng Lạng Sơn, vì lực lượng ta mạnh, nó chỉ bắn pháo sang, gây đổ nhà cửa. Báo Nhân dân đăng tin (khá hài hước), “Đánh nhau to trên cửa Hữu Nghị”.
“Hai bên giao chiến được gần một tuần, Việt Nam yếu hơn, lùi về đến gần ải Chi Lăng (cách Lạng Sơn chừng 40 km). Ở sông Cầu gần Bắc Ninh, mọi người phải đi đắp chiến lũy, gọi là ‘phòng tuyến sông Cầu’. Hà Nội nhốn nháo, hoảng loạn”.
“Cầu Kỳ Cùng được lệnh phá, vài ngày 23 hoặc 24-2-1979, không thể chậm hơn. Thế rồi sau gần 10 ngày, Trung Quốc tuyên bố rút quân. Khoảnh đất Việt Nam từ cột cây số 0 vào sâu đất Việt Nam vài trăm mét, mãi đến năm 1992 mới gỡ được hết mìn, trước đó Trung Quốc coi đó là “vùng đệm”. Quân đội Việt Nam không dám vào. Vào là bị Trung Quốc nổ súng.”
Ảnh tư liệu về cuộc chiến Trung-Việt 17-2-1979
Giao chiến ở cửa khẩu Hữu Nghị Quan
Tù binh Trung Quốc bị bắt trong cuộc chiến 2-1979
Tù binh Trung Quốc trong nhà giam
Tù binh Việt Nam bị Trung Quốc bắt
(còn tiếp)
© 2010 Lâm Hoàng Mạnh
© 2010 talawas
Bình luận
2 Comments (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Còi không hụ du ký (6): phần 1”)








Phùng Tường Vân phân tích đúng là Lâm Hoàng Mạnh nhầm. Họ Mao đổi tên Trấn Nam quan ( nghĩa là cửa ải trấn áp phương Nam) thành Mục Nam quan ( 睦 南 关 ). Năm 1954 tôi đã “ mục kiến sở thị” (tận mắt nhìn thấy) ba chữ này. Nay không rõ có còn không? Chữ “mục” trên theo từ điển Thiều Chửu có nghia là hòa, kính, thân… nghĩa cũng gần như “mục” (穆 ) là hòa mục. Không rõ lúc này Mao thật sự có tinh thần “ bốn phương vô sản đều là anh em” hay là họ Mao chơi chữ đây? Vì ngoài chữ “mục”
( 目) là mắt, nhìn kỹ… còn có chữ “mục” (牧) nghĩa là chăn dắt nữa. Cửa quan của thiên triều thường đóng mà thân thiện thì thật hiếm thấy. Bởi vì các ông CS cũng thâm nho lắm. Sau này lúc TQ nghi VN ngả theo Liên Xô, ông Hồ cũng từng chơi chữ “hồ” ( 湖) (hồ nước, chỉ họ Hồ) với “hồ” (壶 ) là bầu rượu trong câu “Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ” gửi cho với Chu Ân Lai kia mà!
“Năm 1956, ông Hồ và Mao đổi tên Mục Nam Quan (Nhìn về phương Nam) thành “Hữu Nghị Quan” và hai ông trồng cây đa “hữu nghị” ở đó,…”
(LHM)
Hình như “Mục Nam Quan” không có nghĩa là “Nhìn về phương Nam” ông Lâm à, có người cho chữ “Mục” này là chữ “mục” trong “hòa mục”, “cửa ải hòa hiếu ở phương Nam”, mình cũng không rõ là có đúng không.