Loạt bài “Thơ đến từ đâu” – Đinh Thị Như Thúy: Sinh ra là tự do (2)
02/08/2010 | 1:00 sáng | 16 Comments
Category: Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Thơ đến từ đâu
Nguyễn Đức Tùng: Chị có phải là “người Huế” không?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi là người Huế đó chứ. Ba mẹ tôi đều là người Huế mà. Nhưng tôi vẫn thường đùa là Huế nhà quê chứ không phải là Huế Kim Long hay thành nội. Ba tôi quê ở làng Đồng Di, xã Phú Hồ, huyện Phú Vang. Một địa danh đã đi vào ca dao: Không đi thì sợ chính phủ tình nghi/ Mà đi thì sợ Đồng Di, Tây Hồ. Tôi nghe kể những người lính quốc gia trước đây, đã rất sợ nếu phải đi càn quét nơi này. Ở đây, thời đó, người chết nhiều hơn cả người sống.
Còn quê của mẹ tôi lại có một cái tên nghe rất lạ: Sịa.
Ba mẹ tôi đã vào Đà Nẵng sinh sống từ sau năm 1960. Vậy nên tuy sinh ra ở Huế, tuy giọng nói của tôi mang âm sắc Huế rõ rệt, ai nói chuyện với tôi đều nhận ra tôi là người Huế. Nhưng tôi lại có lỗi vô cùng vì tôi không biết gì nhiều, không gắn bó gì sâu sắc với vùng đất này. Những gì tôi biết về quê hương phần lớn đều qua sách vở và những câu chuyện kể. Huế vẫn luôn như một vùng đất lạ trong tôi. Đó thật sự là một điều đáng tiếc phải không anh?
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi bỗng nhớ đến câu thơ sau đây:
Je cueillis un nid dans le squelette du lierre
(Tôi tìm thấy tổ chim
Trên bộ xương của dây thường xuân)
(Yvan Goll, dẫn theo Gaston Bachelard)
Những nơi chốn mà ta đã sống, đã đi qua, đang sống, ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành tâm hồn một người. Đối với nhà thơ Đinh Thị Như Thúy, Huế, Tây Nguyên và những nơi khác để lại dấu ấn như thế nào trong thơ chị?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi lớn lên tại Đà Nẵng. Một thành phố tràn ngập biển. Tôi mê núi nên muốn có thời gian sống ở núi. Tôi chọn học đại học ở Đà lạt là vì thế. Giờ nghĩ lại tôi vẫn biết ơn mảnh đất đó. Đà Lạt là một nơi nhiều người ao ước có dịp đến, tôi đã sống ở đó những năm Đà Lạt còn nhiều yên lặng vắng vẻ. Yên lặng vắng vẻ nhưng vẫn rất “Tây”, vẫn sáng điện, vẫn café quán, vẫn những con đường dạo quanh hồ nước…
Khi về Đắc Lắc dạy học, sống ở một vùng heo hút, những năm đầu, điện đóm không, quán sá không, phải một thời gian sau tôi mới quen được. Nhưng vùng đất này quả thật là một nơi không để cho ai có cơ hội nhàm chán. Những khắc nghiệt dữ dội, những thay đổi sống động, của thiên nhiên đất trời cây cỏ qua từng thời điểm luôn làm tôi ngạc nhiên. Và tình yêu, và những buồn vui, được mất của những con người nhỏ bé, lương thiện. Tôi đã viết về những điều đó.
Còn Huế?
Tôi nhớ: Tháng 1 năm 2009, tôi về Huế để nhận tặng thưởng về Thơ của Tạp chí Sông Hương. Khi được mời lên phát biểu tôi đã không nói được gì. Tôi không phải là người ứng khẩu nhanh nhạy. Lời mời lại đột ngột quá. Nhưng lý do chính là tôi đang tràn ngập buồn vì thấu rõ sự lạc lõng khi đứng trên quê hương. Tôi nghe những giọng nói, tôi nhìn những khuôn mặt, tôi nghĩ về số 32 – Phủ Hoài Đức, ở Phường Phú Cát, nơi tôi sinh ra…
Số phận đã không cho tôi gắn bó với nơi này.
Mỗi ban mai/ Những ám ảnh của giấc mơ đêm đè nặng/ Như chiếc đòn gánh trên vai người thiếu phụ chân đất đầu trần/ Gánh đậu hủ qua cầu Bạch Hổ ban trưa/ Hai tà áo gió cuốn về hai phía.
Trong bài “Người đàn bà không giấc ngủ” tôi đã viết như thế. Một người bạn của tôi đã hỏi: sao không viết là gánh cơm hến vì gánh cơm hến có màu sắc Huế rõ rệt hơn? Tôi không lý giải. Tôi nhớ, đã nghe mẹ tôi kể về những dấu chân hằn trên mặt nhựa đường nóng chảy mùa hè ở Huế. Đậu hủ thường được bán vào tầm trẻ con ngủ trưa dậy. Người bán dạo phải gánh khắp phố phường vào ban trưa. Tôi nghĩ về sự mưu sinh vất vả, và những giằng xé khác trong bản thân mỗi con người, mà sự vất vả về thân xác kia chỉ là một.
Nguyễn Đức Tùng: May mà chị đã không sửa gánh đậu hủ thành gánh cơm hến, nếu không thì chúng ta đã mất đi một câu, thậm chí một bài, thơ khá hay.
Mặc dù ngoài đời cả cơm hến lẫn đậu hủ gánh tôi đều thích; và cơm hến thì đúng là đặc trưng cho Huế thật. Câu chuyện (vui) của chị gợi ra nhiều vấn đề của thơ Việt Nam: để thoát ra được khỏi luồng chảy lờ đờ hiện nay, các nhà thơ sẽ phải dùng sức rất nhiều, phải làm việc ghê gớm lắm, chống lại sự sáo rỗng, sự giả dối và nhiều thứ khác. Chống lại các huyền thoại.
Tôi cũng thường tự hỏi: thơ của các nhà thơ nữ hiền lành, dịu dàng cũng như tính cách của họ trong cuộc đời. Họ có thể làm mới mà không “nổi loạn” được chăng?
Đinh Thị Như Thúy: Những bài thơ là chân dung thật sự của người viết, phải không anh? Tôi nhớ trong một bài phỏng vấn anh đã nhắc đến Maya Angelou với câu nói: tôi là người phụ nữ da đen, vì vậy, thơ tôi lúc nào cũng có hơi hướm của một người phụ nữ da đen. Những nhà thơ nữ (Việt Nam), tôi nghĩ cũng có người hiền lành, dịu dàng, cũng có người không như thế. Cả trong thơ và trong đời.
Có thể tôi phải hỏi lại anh về chữ “làm mới” trong câu hỏi này? Một bài thơ tỏa lan hơi thở sống động của cuộc sống hiện đại từ đề tài cho đến cách thể hiện phải chăng là một bài thơ mang tinh thần mới?
Tôi thấy rất nhiều tác giả nữ bây giờ viết rất táo bạo anh ạ. Và thật thú vị, khi ta được tiếp nhận nhiều cách viết, cách thể hiện khác nhau với nhiều đề tài khác nhau như vậy. Điều đó cho thấy sự vận động không ngưng nghỉ của thơ. Tôi nghĩ cứ để cho mọi người được viết một cách tự do về những điều họ muốn viết. Và những gì còn lại phải chờ thời gian.
Tuy nhiên, trên thực tế, tôi cũng thấy: có những điều tưởng nổi loạn táo bạo trong thơ, lại không mới. Cũng như vấn đề trẻ hay già, có người già nhưng làm thơ rất trẻ trung, có người mới viết lại viết rất già nua cũ kỹ đó thôi. Như vậy, rốt cuộc, có lẽ vẫn phải là: hơi hướm của một người phụ nữ da đen như đã nói ở trên phải không anh?
Nguyễn Đức Tùng: Tôi cho rằng hiện nay có những nhầm lẫn lớn về quan niệm đối với thơ hay và thơ mới, thậm chí có thể mở rộng ra đối với các sáng tạo văn học khác. Đây là một đề tài lớn, tôi chỉ xin nhận xét về một khía cạnh nhỏ.
Một số người cho rằng muốn làm mới trong thơ thì cần viết rất táo bạo như chị vừa nói. Viết táo bạo theo họ có nghĩa là đụng đến các đề tài cấm kỵ như tình dục, dung tục v.v…
Thật ra, táo bạo không phải chỉ ở đề tài mà còn là, và căn bản là, ở phong cách thể hiện, nội dung xã hội và tư tưởng thẩm mỹ. Không có phong cách riêng, không có nền tảng tư tưởng khai phá, sự nổi loạn về đề tài sẽ bị dừng lại vì nhiều lý do. Các đề tài cấm kỵ văn hóa sau một thời gian ngắn bị đập phá sẽ không còn tính chất cấm kỵ nữa. Tác phẩm khó đứng được với thời gian. Những người có ý thức muốn làm mới văn chương về chính trị nhưng không dựa trên một nền tảng tư tưởng thẩm mỹ cách tân, sẽ sáng tạo ra các tác phẩm mang tính “chửi bới”, thiếu chất văn học, không có tính thuyết phục lâu dài.
Ngược lại, một nền văn học nhút nhát, thường xuyên tránh né chạm mặt với các sự kiện chính trị sôi động sẽ không bao giờ là một nền văn học lớn. Nhiều tác giả tài năng của Việt Nam trước đây, có người thậm chí được gọi là nhà văn lớn, hiện nay đều tàn đi, nhỏ lại, phần lớn là theo kiểu như thế.
Tôi có tỏ ra khó tính quá chăng, thưa chị?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi không biết anh có tỏ ra khó tính quá không. Nhưng những điều anh nói trên đây rất thú vị.
Tôi cũng đã có nhiều suy nghĩ khi đọc các tác phẩm về những đề tài cấm kỵ và nhiều băn khoăn trong tôi đã được giải đáp khi nghe anh.
Nguyễn Đức Tùng: Trong một bài thơ của chị trên Tiền Vệ, tôi nhớ câu này:
Nơi chỉ biết tranh đoạt mà không biết chinh phục.
Nơi chỉ biết đòi hỏi mà không biết lao động nghiêm túc.
Nơi đầy ắp những hèn hạ đố kỵ soi mói khó chịu với tất thảy những gì tốt đẹp chung quanh.
Điều này tôi tin là đúng với người Việt ở khắp nơi, hiện nay, trong nước cũng như hải ngoại. Một nhà thơ bạn tôi mới đây nhận xét: Đinh Thị Như Thúy là một tiếng nói mới giữa những nhà thơ trẻ hiếm hoi, có mang được những vấn đề xã hội vào trong thơ của mình. Chị nghĩ sao về điều này?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi là người cảm tính, tôi thường chỉ viết được về những gì ập vào tôi, ám ảnh tôi, làm nên sự run rẩy chao đảo trong tôi. Tôi nghĩ, những vấn đề xã hội (nếu có như anh nói), có thể cũng đã đi vào thơ tôi bằng con đường đó chăng?
Cuộc sống bên ngoài luôn tác động vào ta theo một cách nào đó. Và theo một cách nào đó, chúng ta phải tìm được cách dung hòa những tác động đó để tồn tại, và giữ được bản thân ta thăng bằng trong tồn tại. Có một thực tế tôi thấy, là môi trường sống bây giờ đã có quá nhiều thay đổi theo chiều hướng xấu. Tôi luôn có cảm giác bị nhiễm độc bởi những gì phải ăn, phải hít thở, phải nghe, phải tiếp nhận… hằng ngày. Như trong bài thơ:
ngày nhiễm độc
đã dai dẳng trở lại nhiều lần cơn sốt u buồn làm nhoè mờ mọi cảm giác, đó là ngày hai mươi mốt tháng bảy bờ biển phía nam thái bình dương phủ đầy tảo đỏ, người đàn bà trở mình ngồi dậy sự đau nhức trú ngụ trong từng ống xương đã làm nên những cơn ác mộng suốt đêm, thế giới đang bị nhiễm độc những độc tố đang đi vào mỗi vật thể theo những con đường khác nhau, những con cá nhiễm độc những trái táo đỏ nhiễm độc, nhiễm độc dòng sông nhiễm độc bầu trời nhiễm độc sữa, nhiễm độc truyền thông nhiễm độc những ruộng rau muống những nồi thịt hầm, nhiễm độc những tách café sủi bọt, những vô cảm những thản nhiên những cơ hội những đổi thay tráo trở của những con chữ trong những bài thơ của những nhà thơ
người đàn bà với cơn rúc rỉa trong ống chân, nghe ngóng sự đau nhức ứ căng tưởng chừng trong ống xương không là tuỷ mà tràn đầy độc tố, những cào cấu man dại vào thịt da rướm máu là phản ứng tức thời muốn thanh lọc mình bằng thương tích, đau đớn hãi sợ nàng quẫy cựa muốn hét lên nhưng không một tiếng vang nào được thoát ra từ vòm họng trống rỗng, ngay lúc đó nàng cay đắng nhận ra mình đã đánh mất chiếc lưỡi trong những triền miên trốn chạy, ôi những lời định nói những bài hát định thì thầm những tiếng gọi định gửi vào không gian thinh lặng lúc bình minh tất thảy đã thành vô vọng rồi sao
từ đó nàng tập nói bằng mắt bằng hơi thở bằng những cọng tóc mai cứ chực xoã bung khi bị kích động, từ đó nàng tập nuốt những suy nghĩ xuống bụng và vùng bụng dưới của nàng luôn căng tức nóng ran, chỉ một thời gian sau nàng đã có cái vẻ nặng nề chậm chạp ưu tư của môt thiếu phụ mang thai đang chờ ngày sinh nở
(5.7.2009)
Vì vậy, viết là một cách để tôi thanh lọc bản thân. Tôi thường nhìn ngó tôi trong những trạng huống khác nhau để thấu rõ những cảm xúc suy tư của mình. Tôi cũng mong rằng những bài thơ tôi viết ra sẽ không chỉ là lời thì thầm của mình nói với chính mình, mà nó sẽ tìm được sự sẻ chia từ ai đó khi họ tình cờ đọc được.
Nguyễn Đức Tùng: Tôi rất thích cách nói của chị, và xin nhắc lại, tổng quát hơn: viết là để thanh lọc.
Hình như sự thanh lọc này cũng can dự vào một nỗi ám ảnh dữ dội ngấm ngầm mà tôi thường tìm thấy trong thơ Đinh Thị Như Thúy:
Cách biệt không là núi
Cách biệt không là sông
Ngoảnh mặt về bóng tối
U u miền gió giông
Cuộc sống của chị ra sao? Điều gì làm cho chị hạnh phúc?
Đinh Thị Như Thúy: Cuộc sống tôi bình thường như nhiều người khác anh ạ. Tôi có chồng, có hai con trai. Chồng tôi dạy toán cùng trường với tôi. Ngoài thời gian đi dạy, tôi lo công việc nhà và viết khi có điều gì đó thôi thúc. Bạn bè tôi cho rằng: tôi không được buồn, vì không có lý do để buồn.
Nhưng như nhiều người làm thơ khác tôi vẫn thường băn khoăn: Đời sống ta đang sống có thực sự là một đời sống không? (Nguyễn Quang Thiều). Tôi biết cuộc sống luôn bất toàn. Đôi khi có những tan vỡ dịu dàng kiểu như: Sự vỡ tan mang khuôn mặt trăng rằm. (Không là cổ tích). Và những xa cách không phải do khoảng cách địa lý mà tự lòng người.
Điều gì làm cho tôi hạnh phúc? Trong một bài tùy bút, tôi có viết: Cuộc sống đã làm ta yêu vì những điều nho nhỏ như thế này, đúng không? Và hạnh phúc phải chăng cũng thế? Hạnh phúc đôi khi không đến từ những điều gì đó thật lớn lao mà đến từ những điều thật nhỏ bé. Ví như bông hoa này? Hay màu trời xanh kia? Hay một ly cafe cùng bè bạn? Một bàn tay xiết chặt? Một cái ôm ghì thương yêu trong bóng tối?
Một ngày bình yên, nhẹ nhõm cho mọi người thân trong gia đình, và một điều thú vị nho nhỏ từ cuộc sống cho tôi. Với tôi vậy là hạnh phúc rồi. Anh có thất vọng vì câu trả lời này không?
Nguyễn Đức Tùng: Thưa không.
Don’t want nothing
That can’t be
Left out in the rain
(Đừng đuổi theo hoài
Điều chi chẳng đặng để ngoài trời mưa)
(Gary Snyder)
Hay là:
Hạnh phúc rất đơn sơ
Nhịp đời đi chậm rãi
Mái nhà yên bóng trưa
Ong hút chùm hoa cải
(Huy Cận, trích theo Đặng Tiến, báo Diễn Đàn)
Như thế thì hạnh phúc ấy ngày xưa Huy Cận đã có rồi, lúc nhỏ tôi cũng đã có rồi, bây giờ chị cũng có nữa, vậy thì tôi chỉ mong là có nhiều người hiện nay sẽ được như chị. Có vẻ như chúng ta không cần nhiều lắm những thứ xa vời ảo tưởng khác chăng? Bao nhiêu người sẽ đồng ý với chúng ta?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi mong là ít thôi. Nếu ai cũng bằng lòng với những điều nhỏ bé thì ai sẽ làm nên những điều lớn lao cho xã hội? Mà xã hội bây giờ lại rất cần những người làm được những điều lớn lao anh ạ. Là tôi nghĩ thế.
Nguyễn Đức Tùng: Tôi hiểu điều mong ước của chị. Ai cũng mong như thế, nhưng tôi không mấy tin vào chuyện “những điều lớn lao”, không tin vào tự sự về các anh hùng, vĩ nhân và những huyền thoại tương tự. Có lẽ nên bắt đầu từ những việc tốt đẹp giản dị và nhỏ nhặt nhất chăng? Bởi vì: đã lạc đường càng đi nhanh càng lạc, đã gãy đổ càng lớn lao càng gãy đổ.
Nhưng tôi đi hơi xa, xin trở lại với thơ của Đinh Thị như Thúy nhé?
Vì sao chị viết?
Đinh Thị Như Thúy: Câu hỏi này của anh thật sự làm tôi lúng túng. Trả lời được, thì tôi, có khi không viết được nữa anh ạ.
Đôi khi tôi viết như một cách trò chuyện với mình, nhìn vào bản thân mình, nhìn cuộc sống quanh mình với một tâm thế khác? Có khi tôi viết để trốn chạy sự mỏi mệt? Có khi tôi viết với lòng hân hoan say đắm. Có khi tôi viết trong buồn bã chán chường hoang mang.
Tôi không có những khát vọng lớn lao muốn thay đổi cuộc sống quanh tôi. Tôi viết với mong muốn thay đổi bản thân tôi. Nhưng, có khi nào tôi thay đổi thì cuộc sống quanh tôi cũng sẽ đổi khác không, anh?
Dù gì đi nữa, thì thơ tôi là chính tôi, với tất cả những suy tư chiêm nghiệm của tôi trước mọi vấn đề đến với tôi trong đời sống. Tôi trung thực và chân thành với cảm xúc và suy tư của mình. Tôi nghĩ, thơ ca được viết ra, trước tiên, để an ủi chính người làm ra nó.
Nhưng tôi có biết một cô giáo. Dạy văn anh ạ. Cô này không bao giờ đọc sách. Nhất là thơ. Cô ấy bảo với tôi là: sách là sản phẩm của những người có tâm trí điên loạn. Họ viết ra để gieo rắc sự điên loạn của họ. Đọc họ có khi ta sẽ điên loạn như họ, nên tốt nhất là đừng đọc!
Nguyễn Đức Tùng: Những nhà thơ nào mà chị thường đọc nhất hay chịu ảnh hưởng nhiều nhất?
Đinh Thị Như Thúy: Việc đọc của tôi thật lung tung lộn xộn. Cái gì tôi cũng thích đọc, dù không phải cái gì đọc tôi cũng hiểu hết được. Tôi không có nhiều bạn bè văn chương nên việc trao đổi tác phẩm cho nhau để đọc cũng hạn chế. Thị trấn Krông Pắc nơi tôi đang sống không bày bán nhiều sách báo. Thỉnh thoảng tôi được một số người làm thơ gửi tặng những cuốn thơ của họ và tôi thấy đó là những món quà rất quý.
May mắn là tôi có nối mạng internet. Tôi thường nói năm 2005 là năm vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của tôi. Năm đó tôi in tập thơ đầu tiên, tập Cùng đi qua mùa hạ, và quan trọng hơn, năm đó tôi nối mạng internet.
Những trang web văn chương mà tôi thường xuyên đọc là trang Tiền Vệ và trang Văn Chương Việt. Tôi đã học hỏi được rất nhiều từ những tác phẩm văn chương in ở các trang này. Cả những tác phẩm của những người mới viết, và những tác phẩm của các tác giả nổi tiếng. Cả văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Tôi nghĩ tất cả đều ảnh hưởng đến tôi và các bài thơ của tôi theo một cách nào đó. Tôi rất biết ơn những người dịch vì nhờ họ tôi có cơ hội tiếp nhận những bài thơ rất hay rất khác biệt.
Có một cuốn sách ảnh hưởng nhiều đến tôi anh ạ. Đó là cuốn Khải hoàn môn của Erich Maria Remarque (bản dịch của Cao Xuân Hạo). Tôi thường đọc lại cuốn này khi tôi có thời gian và muốn tự “thưởng” cho mình một cảm giác dễ chịu.
Nguyễn Đức Tùng: Theo chị thế nào là một bài thơ hay, thế nào là một bài thơ dở?
Đinh Thị Như Thúy: Những bài thơ hay thường mang đến cho tôi một cảm giác khát khao. Có thể mơ hồ có thể rõ rệt. Nhưng đó là cảm giác làm tôi không yên ổn. Tôi phải ngay tức khắc làm một điều gì đó. Như hít thở thật sâu, hay bước ra sân chạm tay vào cây lá. Những bài thơ hay khiến tôi thấy mình yếu đuối hơn lại thấy mình mạnh mẽ hơn, thấy yêu cuộc sống và yêu những thân phận. Và thấy cần làm một điều gì đó cụ thể, rõ rệt cho những người thân và cho cả những người xa lạ.
Những bài thơ hay theo tôi còn là những bài thơ có khả năng khơi gợi sự sáng tạo trong người khác. Tôi thường bị thôi thúc viết khi đọc thơ của các nhà thơ: Thanh Thảo, Inrasara, Mai Văn Phấn, Ý Nhi, Giáng Vân, Lê Vĩnh Tài, Hoàng Vũ Thuật… và nhất là khi đọc thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Mặc dù tất cả những điều nhà thơ này viết ra đều mang một vẻ rất riêng về một vùng đất mà tôi chưa hề biết đến. Nhưng những gì thể hiện trong đó đã khiến tôi phải có cái nhìn khác vào đời sống mà tôi đang sống. Tôi gọi đó là những bài thơ chứa đầy ánh sáng.
Nguyễn Đức Tùng: Về nghệ thuật, tôi cũng nhìn thấy một vài điểm tương tự trong phong cách của thơ Đinh Thị Như Thúy và thơ Nguyễn Quang Thiều, và có thể một số nhà thơ khác nữa, như đặc tính dàn trải, giàu chi tiết, nhiều hình ảnh, nặng tính toàn thể. Tôi nghĩ rằng phong cách ấy sẽ ngày càng có nhiều độc giả hơn.
Làm thơ đối với chị dễ dàng hay khó khăn?
Đinh Thị Như Thúy: Với tôi cuộc sống không có gì dễ dàng. Làm thơ cũng vậy.
Nguyễn Đức Tùng: Chị có thường sửa đi sửa lại một bài thơ hay không?
Đinh Thị Như Thúy: Hầu như không anh ạ. Những bài thơ đã được viết ra rồi, cũng như những sinh thể đã được sinh ra rồi, sẽ có một số phận và tôi chấp nhận số phận đó của nó. Như đã nói ở trên, tôi thường viết nương theo cảm xúc và viết là một cách để tôi tự trò chuyện, khám phá, hay thanh lọc bản thân tôi. Bài thơ, do đó, khi viết ra đã làm được điều mà nó phải làm. Nếu có những vụng về, nhạt nhẽo thì cũng đã rồi. Tôi không thích phải can thiệp vào nó bằng cái nhìn tỉnh táo quá. Mà chắc gì sửa đi sửa lại sẽ làm cho bài thơ thú vị hơn?
Nguyễn Đức Tùng: Một trong những định nghĩa căn bản nhất của thơ là: sự sắp xếp tối ưu của các chữ tối ưu.
Định nghĩa này có lẽ đang bị thử thách trong thời kỳ hiện nay, nhất là với chủ nghĩa hậu hiện đại.
Đọc tiểu sử một số nhà thơ, tôi có nhận xét riêng: những người làm thơ dài hơi có khuynh hướng làm một lần, ít sửa lại, những người làm thơ ngắn, cô đọng, có khuynh hướng ngược lại, sửa đi sửa lại nhiều lần. Sự khác nhau này gợi ra nhiều vấn đề về sáng tạo và nhất là về mỹ học. Ví dụ: sự khác nhau giữa những người làm thơ có vần và những người làm thơ tự do, xa hơn, giữa lối đọc cổ điển và lối đọc hiện đại.
Ngoài ngôn ngữ thơ, tôi cũng quan tâm đến cấu trúc: một bài thơ của chị kết thúc như thế nào?
Đinh Thị Như Thúy: Khi những dồn nén ám ảnh thôi thúc trong tôi đã chảy trôi hết theo câu chữ thì bài thơ kết thúc. Ví dụ như bài “Với con tàu mắc cạn”. Cảm giác bất lực của những con tàu đứng sừng sững trên cát dọc bờ biển Nguyễn Tất Thành – Đà Nẵng sau cơn bão làm tôi ngột ngạt. Tôi đã nghĩ đến những thân phận mắc kẹt đâu đó trong cuộc đời. Tôi thấy như thể tôi cũng đang mắc kẹt. Và tôi viết. Khi tôi có cảm giác được giải thoát thì bài thơ đã hoàn thành.
Với con tầu mắc cạn
Sinh ra là để đi
Để dịch chuyển tự do
Để đối mặt với bát ngát xa xăm phơi mở những chân trời sóng
Chiều nay con tầu mắc cạn chết sững sờ bãi cát
Bất lực chịu đựng bao ánh mắt
Thảng thốt giấc mơ về lại biển khơi
Chiều nay con tầu đã làm tôi buồn quá
*
Chúng đã từng bồng bềnh duyên dáng
Từng ngạo nghễ rướn tấm thân vạm vỡ
Từng rúc vang những hồi còi náo động
Những cánh tay đã vẫy chào
Những hải âu đã bay vờn
Những lượn sóng bạc đã dựng tường thành cao vút
Những sao đêm đã nhấp nháy cười
Chúng có thể tan nát nơi ghềnh đá
Có thể nhàn rỗi rũ buồn trong bến cảng già nua
Có thể chìm sâu đáy đại dương
Không một tưởng tượng nào về con tầu sừng sững cô đơn đứng chôn chân trên cát mịn
*
Sinh ra là để khát khao
Rạch trên bao la xanh những con đường bạc
Mỗi lần rời bến là một lần sáng tạo
Những lối đi những hải cảng không trùng lắp
Một chân trời khép mở một chân trời
Chiều nay con tầu kinh ngạc chết trong bất động
Kinh ngạc chết mãi không sao hiểu được
Vì sao
Đám đông hiếu kỳ ném vào con tầu cái nhìn giễu cười thương hại
Mơ hồ những dự báo đáng sợ
*
Sinh ra là để mơ
Những giấc mơ sẽ vẫn tiếp tục tràn trề biển khơi và ánh sáng
Khi những giây leo xanh xanh lạnh bắt đầu bò lan
Khi bóng tối mục ruỗng thân tầu lặng lẽ đến
Cùng những con còng lăng xăng gió
Đà Nẵng, 10.10.2009
Nguyễn Đức Tùng: Đây là bài thơ hay và cũng là một trong những bài hay của Đinh Thị Như Thúy. Chị đi tìm điều gì khi đọc một bài thơ (của người khác)?
Đinh Thị Như Thúy: Có nhiều điều để tìm kiếm lắm chứ anh. Cảm xúc, nội dung, đề tài, cách thể hiện. Tìm những điều tôi có. Tìm những điều tôi thiếu.
Tuy nhiên cũng như khi viết, phần nhiều là: tôi đọc thơ chỉ vì thích đọc thôi. Tôi cũng thích được trôi chảy cùng sự trôi chảy của người khác trong các bài thơ của họ. Sự tìm thấy là điều đến sau, và không phải khi nào cũng cần tìm cho bằng được phải không anh?
Nguyễn Đức Tùng: Mặc dù là người nổi tiếng về các bài thơ xúc động lòng người, có khuynh hướng mạnh về xã hội, chính trị, Auden lại là người cho rằng thơ không nhắm hướng tới một vấn nạn nhân sinh gì cả. Ông nói đại ý: tôi hỏi một người trẻ tuổi mới tập viết, tại sao anh làm thơ? Nếu anh ta trả lời rằng anh có một điều gì đó để bày tỏ, phải nói ra cho bằng được, thì tôi sẽ khuyên anh ấy từ bỏ công việc này.
Theo chị, thơ có mục đích gì không?
Đinh Thị Như Thúy: Mục đích của bài thơ là làm xúc động lòng người đó thôi. Và khi lòng người lay động thì người ta có thể làm tiếp một điều gì đó, mà mơ hồ đâu đó trong bài thơ thúc giục. Nhưng những mục đích như thế trong thơ không thể do cố tình mà làm nên được. Tôi nghĩ: tự thân bài thơ sẽ làm được một điều gì đó, nếu nó thực sự được viết ra từ thẳm sâu những xúc động của người viết, trước một vấn đề nào đó của đời sống con người.
Nếu khi viết, người viết có mục đích rõ ràng quá, tính toán sắp đặt gửi gắm quá, tôi nghĩ có khi bài thơ sẽ bị mang vác những thứ không phải là thơ.
Nguyễn Đức Tùng:
Đã có điều gì đó không kịp thời
Đã có cái gì đó chắn ngang đường
(Đinh Thị Như Thúy)
Là một thứ thơ trữ tình mà có tư tưởng, duyên dáng nữ tính mà cứng cỏi. Thơ của chị đầy những nhận diện, chị có sẽ đi đến tận cùng quá trình nhận diện ấy trong thơ chăng?
Đinh Thị Như Thúy: Tôi không thể nói trước điều gì anh ạ. Biết đâu sẽ có những thay đổi nào đó trong tôi làm thơ tôi khác đi. Duy chỉ một điều tôi chắc không thể khác là những gì tôi viết ra vẫn sẽ trung thực với chính những cảm xúc suy tư trong tôi. Tôi chỉ mong có nhiều khả năng hơn, nhiều cơ hội hơn để được động chạm sâu xa hơn, rõ rệt hơn, cụ thể hơn những đau khổ thực sự của đời sống quanh mình.
Nguyễn Đức Tùng: Những ý kiến của chị rất xúc động. Xin cám ơn chị về cuộc trao đổi thú vị này.
© 2010 Nguyễn Đức Tùng
© 2010 talawas
Bình luận
16 Comments (bài “Loạt bài “Thơ đến từ đâu” – Đinh Thị Như Thúy: Sinh ra là tự do (2)”)
« Trang trước 1 2
Khi một triết gia bị bí vì không thể hiện được hết các đường bay diễm ảo của trí tuệ qua ngôn ngữ thì người dùng toán lý. Cùng một thể ấy, thơ đến từ sự bất lực của người ta trong việc sử dụng ngôn ngữ để diễn tả các uẩn khúc của tâm hồn. Khi ngôn ngữ thông thường không đi trọn các ngõ ngách của tâm hồn thì người ta sử dụng ngôn ngữ thơ, cũng như khi không diễn tả được những gì thị quan cảm nhận được từ các vật thể chung quanh bằng ngôn từ thì người ta phải diễn tả nó qua hội họa; và khi không diễn tả hết sự cảm nhận các âm thanh đang đi vào tai mình qua lời nói hay chữ viết người ta sẽ dùng âm nhạc. Tất cả đều bắt đầu bằng lời nói, bằng ngôn ngữ… Lời nói và ngôn ngữ đến từ đâu mới là một câu hỏi đáng hỏi hơn là thơ đến từ đâu. Đôi lời góp thiển ý.