K’ Tien – Cầm búa và cầm bút
28/07/2010 | 12:00 chiều | 7 Comments
Category: Chính trị - Xã hội
Thẻ: Tây Nguyên > Vũ Trọng Phụng
Đã lâu, có bữa, chắc bị rảnh dữ (lắm) nên ông Nguyễn Hưng Quốc rủ rê “Chúng ta thử đọc lại đoạn Vũ Trọng Phụng tả cảnh Mịch bị Nghị Hách hiếp dâm:
Vờ tìm ví da trong túi áo, nhà điền chủ mắt vẫn lẳng lơ nhìn chị nhà quê cho mãi đến khi cầm trong tay cái ví rồi mà vẫn không lấy tiền ra vội, lại hỏi:
“Con tính bao nhiêu?”
“Bẩm quan chả mấy tí, quan cho mấy xu cũng được ạ.”
“Được lắm! Con ngoan ngoãn lắm, để ta thưởng cho nhiều tiền! Con hãy lên xe để quan đóng cửa không rét quan… Ta đang đếm tiền đây.”
Chị nhà quê nhìn đến những đệm da đẹp đẽ, những chỗ kền mạ bóng nhoáng, con búp bê Nhật hay hay, treo ở bên miếng kính, ngọn đèn nhỏ sáng chói lọi trên nóc xe, thấy nó sạch sẽ quá, sang trọng quá, không dám bước lên. Nhưng mà quan đã với ra định đóng cửa xe, chị đành liều mà bước lên vậy. Quan đóng cửa đánh sập một cái rồi lại hỏi:
“Thế con làm vất vả như thế thì mỗi ngày được bao nhiêu?”
“Bẩm chỉ được mỗi ngày sáu xu và hai bát gạo.”
“Khổ nhỉ! Thế để quan cho năm đồng con may áo mặc tết nhé! Đây này, năm cái giấy bạc một đồng đấy, con đem về mà mua nhiêu, mua xã cho chồng.”
“Con xin quan lớn, cảm ơn quan lớn.”
“À, nhưng mà con đã có chồng rồi hay là chưa?”
Chị nhà quê cúi mặt không đáp, buộc tiền vào thắt lưng xong đứng lên:
“Thôi lạy quan, quan cho con xuống kẻo họ đợi.”
“Ấy khoan đã! mặt con tái đi như thế kia, khéo không thì trúng phong rồi đó, để quan lấy cho một tị dầu trong này mà bôi rồi về thì về.”
Nhà điền chủ nói xong lấy ở áo ra một lọ gì nhỏ, để đầu ngón tay vào miệng lọ lắc một cái, rồi quờ tay vào trán chị nhà quê. Chị này cứ để yên và co ro khép đôi đùi lại, kéo cái váy xuống.…
“Giời ơi! Con lạy ông, ông buông con ra!”
Giọng quan vẫn ngọt ngào:
“Con im, không được cưỡng…”
“Giời ơi, lạy ông! Ông đừng làm hại một đời tôi!”
“Im ngay! Quan sẽ cho nhiều tiền…”
“Bỏ ra! Ái!”
“Im cho ngoan nào…”
“Ối giời đất ơi! ối làng nước…”
Hai anh tài xế khôn ngoan và trung thành muốn át những tiếng ấy, cứ việc gõ búa thình thình vào một bộ phận nào đó trong động cơ.
…
Mãi đến lúc ông điền chủ ngồi lên bật đèn, chị nhà quê vẫn nằm đờ trong xe, hai tay bưng mặt, ngất đi. Lão này cúi xuống, hôn một cái hôn cuối cùng, lôi cái váy xuống, nhấc chị nhà quê ngồi dậy, mở cửa xe mà đẩy người ta xuống…
Thiệt là một ông già (dê) và hai anh tài xế mắc dịch. Ở thời buổi cách mạng mà cũng hiếp dâm – giữa ban ngày ban mặt – theo kiểu Nghị Hách thì lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và không chừng (dám) còn lôi thôi lớn.
Ngày 2 tháng 2 năm 2010, ông Phạm Thanh Sơn, giảng viên của trường sư phạm Vĩnh Phúc, sau khi bị bắt gặp quả tang đang cưỡng ép một nữ sinh của trường – tại một nhà nghỉ ở TP Vĩnh Yên – liền bị Sở GD-ĐT tỉnh Vĩnh Phúc ra quyết định điều chuyển ngay tức khắc.
Trước đó không lâu, ông Sầm Đức Xương – Hiệu trưởng trường THPT Việt Vinh – mới bị nghi ngờ là có hành vi cưỡng dâm cũng đã bị ông Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang (Nguyễn Trường Tô) cảnh cáo: “Tỉnh sẽ chỉ đạo xử nghiêm. Hiệu trưởng mua dâm nữ sinh là một việc động trời, không thể hình dung được.”
Nói tóm lại: Đảng và Nhà nước không thuận tình cho cán bộ cưỡng dâm hoặc hiếp dâm – dưới bất cứ hình thức nào. Chỉ có chuyện hiếp dân thì ngó bộ đường lối chính sách, của chính quyền cách mạng, chưa được rõ ràng hay minh bạch gì cho lắm. Bởi vậy nên chuyện dân Việt bị hành hung, bị bắn giết, bị cướp bóc, bắt giam… vẫn xẩy ra đều đều – nhất là đối với những người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng hay còn gọi chung là miền sơn cước.
Hiện trạng ở Tây Nguyên, theo trình bầy của nhà văn Nguyên Ngọc – đọc được trên Diễn Đàn Forum, vào ngày 20 tháng 8 năm 2008 – có một số vấn nạn cần phải quan tâm. Xin được ghi lại vài điểm chính, có những chữ in đậm, theo nguyên bản:
“1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn… Đầu thế kỷ XX, các dân tộc bản địa chiếm 95% dân số. Đến năm 1975, tỷ lệ này là 50%. Hiện nay người bản địa chỉ còn 15-20% trên toàn địa bàn…
2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên. Từ sau năm 1975, quyền sở hữu tập thể truyền thống của cộng đồng làng đối với đất và rừng nghiểm nhiên bị xoá bỏ, tất cả đất và rừng đều bị quốc hữu hoá. Như đã thấy ở trên, quyền sở hữu này chính là nền tảng vật chất, kinh tế của làng ; bị bứng mất đi nền tảng này, làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, tất yếu tan vỡ…
3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng. Cho đến nay, trừ một vài vùng nhỏ như một ít khu vực quanh núi Ngok Linh, vùng Komplong…, có thể nói về cơ bản rừng Tây Nguyên đã bị phá sạch, hậu quả về nhiều mặt không thể lường.
4. Người bản địa bị mất đất. Việc mất đất, không phải trong một xã hội bình thường mà là từ tay người dân tộc bản địa sang tay người nơi khác đến là người Việt, đã khiến vấn đề đất đai trở thành vấn đề dân tộc. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp của sự mất ổn định nghiêm trọng đã và đang diễn ra ở Tây Nguyên.
5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một. Việc mất rừng, tan vỡ của làng, cơ cấu dân cư bị đảo lộn lớn và đột ngột, người bản địa bị mất đất và mất gốc rễ trở thành lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình… tất yếu đưa đến đổ vỡ về văn hoá.”
Nguyên Ngọc nói đúng nhưng không đủ. Ông quên (hoặc không tiện) đề cập đến nhiều vấn đề khác, có liên quan tới sinh hoạt tôn giáo và chính trị, của người dân Tây Nguyên.

Hình bìa cuốn No Sanctuary: Ongoing Threats to Indigenous Montagnards in Vietnam’s Central Highland. Nguồn: HRW
Sự quên lãng của ông, may thay, được bổ túc bởi một phúc trình của tổ chức Quan sát Nhân quyền Quốc tế (No Sanctuary: Ongoing Threats to Indigenous Montagnards in Vietnam’s Central Highland) dài 55 trang, cùng 74 trang phụ lục – đính kèm danh sách 355 người dân Tây Nguyên hiện đang bị giam giữ bởi nhà đương cuộc Hà Nội, từ năm 2001 đến nay. Xin trích dẫn một đoạn ngắn, trong bài giới thiệu, về phúc trình này:
Các viên chức Việt Nam tiếp tục ép buộc người công giáo Tây nguyên phải từ bỏ tôn giáo của họ, mặc dù những luật lệ mới ban hành cấm đoán việc này. Một số cán bộ địa phương ngăn cấm việc di chuyển giữa các làng mạc — đặc biệt đối với những tôn giáo không được chính quyền công nhận — và ngăn chặn việc hội họp tại nhiều khu vực, dù nó được chủ trì bởi các vị mục sư được chính quyền công nhận.”
Chính quyền Việt Nam dai dẳng truy diệt những người chống đối ôn hoà, không thừa nhận những sinh hoạt tôn giáo, và truy lùng những nơi ẩn lánh tại Cambodia, bằng cách bắt giữ và giam cầm những người thiểu số can dự vào những hoạt động này. Bị đàn áp nặng nề nhất là những giáo hữu Tin Lành thuộc các giáo hội độc lập hay không trình báo và những người hỗ trợ cho các phong trào bất bạo động nhằm bảo vệ đất đai của tổ tiên truyền lại”.
“Hơn 350 người thiểu số đã bị kết án tù từ năm 2001, hầu hết là những người tranh đấu ôn hoà cho quyền tự do chính trị và tôn giáo. Phần lớn những người này bị kết án dựa theo luật hình sự của Việt Nam, rất mập mờ so với luật hình sự quốc tế, bao gồm cả tội ‘phá hoại chính sách đoàn kết” hay “phá hoại nền an ninh” hoặc làm “xáo trộn trật tự công cộng’. Hơn 60 người thiểu số đã bị cầm tù sau khi họ bị cưỡng bách hồi hương từ Cambodia là nơi họ đi tìm quyền tỵ nạn”.
(Vietnam: Montagnards Face Religious, Political Persecution / Việt Nam: Người Tây Nguyên Bị Ngược Ðãi Vì Tôn Giáo Và Chính Trị – bản tiếng Việt cũng của HRW)
Tây Nguyên, qua sự mô tả của nhà văn Nguyên Ngọc thì tiêu điều, và ảm đạm: “người bản địa bị mất đất và mất gốc rễ trở thành lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình.” Còn qua phúc trình của HRW, cũng như của hai tổ chức BAJARAKA và Montagnard Human Rights Organization (có trụ sở đặt ở tiểu bang South và North Carolina, Hoa Kỳ) thì ngột ngạt, bất an, và tàn bạo.
Lại còn một Tây Nguyên (hoàn toàn) khác nữa – nhộn nhịp, háo hức, tươi vui, và lúc nào cũng tưng bừng lễ hội – qua sự mô tả của những cơ quan truyền thông Việt Nam, thuộc lề bên phải:
- Ký giả Thạch Yên, viết trên báo Dân Trí (số ra ngày 17 tháng 11 năm 2007) về Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên 2007,” được tổ chức ở Ban Mê Thuột, như sau: “quy mô và rất hoành tráng với nhiều chương trình mang đậm âm hưởng núi rừng và con người Tây Nguyên.”
- Cũng trên báo Dân Trí, số ra ngày 5 tháng 9 năm 2008, ký giả Bình An mô tả Lễ hội cồng chiêng các dân tộc tỉnh Kon Tum “là lễ hội dân gian và nghệ thuật cồng chiêng quy mô và hoành tráng nhất từ trước đến nay. Nhiều tác phẩm văn hoá đặc sắc của các dân tộc tham gia lễ hội góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát triển loại hình sinh hoạt văn hoá độc đáo này. Không gian văn hoá cồng chiêng của các dân tộc Kon Tum đã thu hút và lan toả rộng lớn trên phạm vi toàn thế giới. Nhất là khi cồng chiêng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.”
- Lễ hội cồng chiêng năm 2009 – theo ghi nhận của ký giả Đoàn Dự, báo Đất Việt – “diễn ra tại Quảng trường 17/3 ở TP Pleiku, với chủ đề Âm vang cồng chiêng và sức sống Tây Nguyên. Theo kịch bản của tổng đạo diễn Lê Tiến Thọ, Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL, phần mở màn sẽ diễn ra trong tiếng cồng chiêng và tiếp nối bằng màn trình diễn nghệ thuật kéo dài 70 phút của khoảng 3.000 nghệ nhân, diễn viên với 4 chủ đề chính: Thiên nhiên – đất và người Gia Lai, Tây Nguyên; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Hội nhập và phát triển; Sức sống cồng chiêng kết nối khối đại đoàn kết dân tộc.”
Tôi cũng hy vọng, như ông thứ trưởng Lê Tiến Thọ, là ”sức sống cồng chiêng (có thể) kết nối khối đại đoàn kết dân tộc” trong tương lai gần – khi mà Tây Nguyên được hồi sinh, và âm vang cồng chiêng sẽ vang khắp đại ngàn mà không cần đến bất cứ ai chi tiền để làm… đạo diễn! Còn ngay bây giờ, sau khi đọc những bài viết của những ký giả, phóng viên, nhà báo (về những lễ hội ồn ào ở Tây Nguyên) tôi chỉ nghĩ ngay đến lúc Mịch bị Nghị Hách đè hiếp – trong khi “hai anh tài xế khôn ngoan và trung thành muốn át những tiếng ấy, cứ việc gõ búa thình thình vào một bộ phận nào đó trong động cơ.”
© 2010 K’ Tien
© 2010 talawas
Bình luận
7 Comments (bài “K’ Tien – Cầm búa và cầm bút”)

4. Trích từ tiểu thuyết “Những người đàn bà đến từ Hỏa tinh” chưa xuất bản:
Hắn mở cửa bế tôi xuống xe. Mắt và mồm tôi bị bịt kín bằng. Hắn bế tôi đến gốc cây to, đỡ trọn lưng tôi, đặt tôi xuống. Hắn mở túi đồ mang theo lấy ra sợi dây thừng ni lông. Hắn xoay người tôi lại, uốn thế đứng hơi khòm, rồi kéo ưỡn mông tôi. Hắn dùng sợi dây thừng ni lông cột hai tay tôi vào gốc cây. Hắn từ từ tốc váy tôi lên. Trước khi rời nhà hắn không cho tôi bận quần lót và phải bận váy trắng dài phủ qua đầu gối. Hắn dùng hai tay vỗ mạnh liên hồi vào mông tôi. Khi mông tôi ửng đỏ, bắt đầu cong cớn vì đau thì hắn mới lấy tay xoa xoa đều khắp mông tôi. Mắt và mồm tôi vẫn bị bịt kín bằng cái khăn lụa tẩm mùi nước hoa rẻ tiền Lát sau, một tay hắn tháo tung cây kẹp, tóc tôi xổ tung. Tay kia hăn thò xuống xoa bóp mu mép lồn tôi. Trong khi đó, lưỡi hắn rà quanh lỗ đít tôi. Hắn làm như thế độ vài phút thì đột ngột hắn cuốn lưỡi nhọn, thẳng, cứng thọc sâu vào lỗ đít tôi. Lưỡi hắn giờ như cái khoan ngoáy sâu, cố đục thủng tảng sắt. Càng ngoáy, đục, khoan… hơi thở hắn càng mạnh, gấp, đứt quãng. Vài phút sau, hắn đút ba ngón tay sâu vào lồn tôi, ngoáy theo độ mạnh và sâu của lưỡi hắn đang trong lỗ đít tôi. Lỗ lồn, lỗ đít của tôi đều bị hắn bịt kín. Mồm và mắt tôi vẫn bị bịt kín bằng khăn lụa tẩm mùi nước hoa rẻ tiền. Hai lỗ mũi tôi nước chảy thành giòng theo hơi thở gấp, mạnh, đứt quãng của hắn. Bỗng hắn bắt đầu hú, rống giữa rừng vắng. “Mi là ai? Mi là ai? Mi là ai?” Mồm hắn hú rống liên tu. Hắn hỏi hắn hay hắn hỏi tôi. Không còn ý nghĩa. “Ta là con người. Ta là con người. Ta là con người.” Câu trả lời vọng từ trong tôi, trong hắn. Hai kiếp người hiện hữu. Nước trong người tôi chảy cuộn lui trở vào bên trong. Rồi hắn lộp chộp đứng bật thẳng người, tuột vội quần qua khỏi đầu gối, dốc mông tôi ưỡn cong hơn, nhô cao hơn để hắn dễ thọc cặc hắn vào lồn tôi từ ngả sau. Trong trí tôi hiện rõ dòng xoáy con nước, cơn lốc và những lỗ hổng ổ gà trên mặt đường nhựa đen bốc khói đỏ rực. Màu máu. Mùi máu. Vị máu. Hai tay hắn bóp mạnh đầu vú tôi theo tiếng thở như xe lửa phóng. Tôi thấy tôi đang chết ngất trong cơn đau xé thịt…”
3. Trích từ tiểu thuyết “Âm vọng”:
… mạ cầm roi dâu đuổi rượt quất túi bụi vô mông chửi mi là thứ quỷ tha ma bắt mạ cũng không với tới được mình nhìn mạ cười ha ha ha ha ha đã điếu cho mạ tức cành hông chơi rồi chú___vọc tay vô vú mình bóp hay thè lưỡi liếm hay đòi ăn tươi nuốt sống con hến của mình cũng không được còn hù dọa mi mà méc mạ là tau không cho mi cưỡi trên lưng con bọ hung xe bus là mình sợ nước trong quần tuôn chảy vắt hoài không ráo trong hai hốc mắt phun ra cay xót xa khó thở như bị ma đực rựa đè mặt trời sáng ni không ló lên chơi u mọi với mình trên thành phố san josé ni nữa những con ngỗng lỡ thì xăn quần lội nước mấy con kiến bò lóp ngóp trong nước bầy ruồi mới đẻ túi qua lăn qua lăn lại trong mấy cái đọi chứa đầy hột é kê dưới chân tủ gác măng rê ngày nảo ngày nao chừ xa ngái gió thổi tốc áo lạnh hở lưng mình lui cui bắt từng con cho nó ngủ dưới đất có con không ngủ được chạy đi chơi ô làng không đứa mô cho mình lại gần o phừng đứng vái tứ phương trên mui thuyền cầu mưa xoá sạch máu nước mắt tiếng la tiếng hét khàn đục cái vật chi to bằng bị thịt người như cái chày đâm thẳng sâu tuốt luốt vô cái cối của mình trợn trừng mắt không tròng trắng dã ngàn ngàn con đỉa bám tỉa rỉa xương mình đau đau đau lắm đau hơn roi dâu quất tới tấp vô người mình đau như điện châm vô hai mươi mấy đầu móng tay cháy ì xèo cha mạ lâm râm khấn nguyện cho ma quỷ nhả chị lài mụ tra thôi hút thuốc cẩm lệ chừ khấn vái mấy ông ở lỗ nhả chị lài ra tụi hắn đeo dính cứng chị lài la hét cào cấu ma hú quỷ gào đàn ghẹ lở lói chạy tán loạn tìm lỗ ẩn núp nọc độc bò cạp đực bầy chuột đồng hè một tay đào thủng bức tường bùn lầy hoang tưởng bong bóng biển bể bùm bùm bùm mạn hay mui thuyền tròng trành như cái đầu của cha khi say rượu đong đưa ru võng à ơi ơi à mọi người cùng hả họng hét mình cũng rú ai cũng gào ông mặt trời cười ha hả không cả mùi thơm của lá me sống mưa nơi ni không cười mà mím chặt môi như mắt chú___với mạ chảy hoài chảy huỷ như thứ nước muối lạt nhiều lần mình đưa lưỡi quẹt ngang quẹt dọc mạ lắc đầu ôm người mình thật chặt thở không ra hơi áo quần giầy dép tất nơ cột tóc hùa nhảy ùm xuống nước cá lòng tong tôm lột da chơi trò bịt mắt bắt dê đếm năm mười mười… chị lài vội vàng đi đun nước ấm lau sạch sẽ người mình chị hỏi em có dễ chịu không mình chỉ thấy cái mỏ ác của chị phồng lên như bánh tráng mè đen rồi xẹp xuống như bụng tắc kè mình chỉ muốn quẹt sợi tóc lên đó mi được mấy tuổi rồi dạ thưa em mười bốn tuổi rưỡi con ni cả đời mười bốn tuổi rưỡi …
Giá tự do
Đêm trước ngày vượt biển
mẹ thắp nhang lâm râm khấn nguyện
“Lạy trời phù hộ cho con tôi thoát…
thoát công an
thoát tù tội
thoát bầy cá đói mồi
thoát bọn thú dữ mặt sạm, cằm bạnh, mắt trợn trắng dã, nước dãi ứ đầy miệng đang chực chờ ngoài biển khơi.”
Nhưng trời che mắt, bịt tai, ngoảnh mặt.
Con gái tuổi trăng rằm
ba lần bị
chín giống đực xịt tới tấp tinh khí vào âm hộ-hậu môn-mắt-mũi-miệng-tóc-tai-bụng-đùi-ngực…
Thân xác người thiếu nữ
là bữa cỗ ngon cho bầy cá
dưới ánh trăng rằm.
2. Trích từ tiểu thuyêt “Xứ nắng”:
Chuyện xảy ra trong một đêm không trăng…
Người chú họ chuyên buôn bán đường xa. Cái hòm gỗ vuông vức, sơn đỏ, đựng đủ tượng Đức Chúa Con, Đức Mẹ Đồng Trinh, các vị Thánh, tràng hạt, thánh giá… chú luôn đeo cứng bên mình. Ban ngày là cái ghế, ban đêm là cái gối. Năm thì mười hoạ chú ghé nhà, ở chỉ độ dăm ba ngày. Một hôm vì lý do gì đó, hứng chí chú lấy tờ giấy bạc 50 đồng quấn thuốc lá hút, nhả khói trắng bay lững lơ. Mấy chục nóc nhà trong xóm bàn mãi câu chuyện “đốt tiền” cả năm sau khi chú rời khỏi. Chú kể những câu chuyện nơi chốn xa xôi, thành thị phố xá làng mạc đã từng đi qua. Mọi người trố mắt hả miệng vểnh tai nằm-ngồi-đứng nghe chật nhà. Mười sáu tuổi, trăng rằm, tròn lẳng, mẹ cùng cái xó bếp cũng lắng tai nghe. Rồi một đêm mẹ ngủ, thiếp sâu, một cánh tay đàn ông khổng lồ chụp lấy bẻ quặp người mẹ ra sau, nhét kín chiếc khăn vào miệng mẹ. Một tay kéo tuột quần. Mười sáu tuổi trong một đêm không trăng… Mười sáu tuổi trăng rằm, tròn lẳng. Trăng mẹ gẫy vụn nhàu nát như bánh tráng phồng ướt đẫm nước mưa.
Người chú họ ra đi nơi chốn xa xôi gió cát với những bức tượng kể cả Đức Chúa Con trần truồng nghẻo đầu bị đóng đinh trên thập tự giá. Khuôn mặt Đức Mẹ Sầu Bi tràng hạt xanh đỏ tím vàng lấp lánh trái tim các vị thánh mở toang đỏ choé.
Tấm hình nhỏ, in mặt Đức Mẹ Đồng Trinh, chú nhét vội vào túi áo mẹ trước ngày rời nhà. Cầu nguyện, cháu cứ cầu nguyện, Đức Mẹ sẽ giúp, cháu sẽ được cứu rỗi… Cầu nguyện, cứu rỗi. Mười sáu tuổi, tuổi trăng rằm, tròn lẳng, màng trinh mẹ rách toạc.
Những ngày kế, mẹ lết như rắn, “nơi ấy” tấy rộp sưng đỏ. Người mẹ lệch hẳn sau đêm không trăng ấy. Hé mồm là chết, nghe rõ chưa? Trong tay, chú ôm khư khư cái hộp gỗ vuông vức sơn đỏ chứa toàn đấng cứu rỗi, cứu chuộc. Ban ngày là cái ghế, ban đêm là cái gối. Để lại người sống dưới mấy chục nóc nhà biết bao nghi vấn, lẫn tiếc ngẩn ngơ tờ giấy bạc 50 đồng, cùng khối tưởng tượng khổng lồ đất đá bầu trời gió cát nơi chốn xa xăm, nhưng không thể hình dung ra được những khuôn mặt con người bên kia chân cầu mục nát. Bên trên đỉnh nón rách tưa viền.
Chỉ riêng mẹ, với cái mầm sống đang bắt đầu nhú nụ.
Cái mầm sống cứ thế mà tăng trưởng. Cái bụng mẹ phình to. Ban đầu người trong nhà đè mẹ ra đánh đập, tra hỏi, xỉ vả, qủy đầu thai, ma ám, hàng xóm tránh né, dèm pha xì xào. Mọi người quên tuốt luốt người chú họ ra đi biền biệt cùng cái hòm gỗ vuông vức sơn đỏ, ban ngày là cái ghế, ban đêm là cái gối, đựng đầy tượng, toàn đứng cứu rỗi, cứu chuộc.
Chín tháng mười ngày đứa bé chui ra từ nơi chốn vật lạ mà người chú họ đã đâm vào. Mẹ, mười bẩy tuổi, bẻ gẫy sừng trâu. Đúng ba ngày sau khi sinh, đứa bé gái đỏ hỏn được bồng đi cho người đàn bà ở làng cạnh nhà không con nhưng đầy của.
Câu chuyện một đêm không trăng xảy ra đã bao nhiêu năm, bao vật đổi sao dời, giờ vẫn như cơn mộng du, chuyện cổ tích. Một lần là một đời ám lấy mẹ.
Đây là những đoạn trích tiêu biểu từ những cuốn tiểu thuyết tôi viết trong hai mươi năm qua về sự đớn đau, khốc liệt của kẻ bị hiếp dâm và hậu quả của sự bị hiếp dâm.
Khác hẳn tiếng nói của những kẻ có cu, điển hình như tác giả Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Mạnh Côn…
…………….
1. Trích từ tiểu thuyết “Bóng gãy của thần tích”
Cả cái may-ô trắng hắn nhét tọng vào mồm má. Cái may-ô hắn thường khoác trên vai trần khi trời đổ nắng. Màu da của hắn đen thui như dầu hắc rải đường. Thường ngày hắn hiền lành nhất bọn. Ít nói, ít cười, nhưng khi tung tiền hay cho quà hắn lại là tay hào phóng nhất. Ở hắn toát ra cái mùi Có Thể Tin Tưởng được, nhưng ngay lúc này đây, má ngập ngợp mùi bia rượu. Má cố giãy giụa dưới cánh tay hắn. Bóng tối đặc lềnh dù trời sáng trưng. Cánh tay hắn nặng hơn toàn thân má. Nó là khối quyền lực. Hắn nhấc bổng người má, tấn mạnh vào tường, tạo tiếng to đùng. Má ngất nửa thân dưới. Hắn khoá tréo hai tay má đằng sau. Tấm thân hắn là lò lửa. Con trâu điên biết chính xác hành động muốn gì. Cái may-ô hắn tọng trong mồm làm má nghẹt thở. Má thấy mình đang bị ai vất xuống vực thẳm từ trời cao. Hàng triệu vòng tròn xoay tít trong tròng mắt. Sức mạnh quyền lực thật khủng khiếp. Thịt dần thịt. Hắn như cọp say máu, xé toạc má. Hắn đâm vật gì cứng như khúc củi vào háng má, sâu thấu đỉnh óc. Đớn đau má hét, Không Được. Cơn đau bùng theo từng cái thốc người của hắn. Mạnh bạo. Liên tục. Mớ tóc dài của má hắn xoắn ghì trọn mấy vòng tay. Hắn nhai nát đầu vú má. Hơi thở hắn như sấm rầm. Má cố cắn cào cấu nhưng không được. Hai chân má cố đẩy cũng không được. Má không thể bám vào vật thể hay ý niệm nào cả. Ôi! Quyền năng của kẻ có sức Mạnh. Má Vỡ Tan Tành.
Giờ đây, mỗi khi đi tiểu hay đi cầu, Võ Thị Gái nghĩ ngay đến khúc củi dài, khô, cứng, đầu nhọn hoắc thọc sâu vào lỗ-đít-lỗ-đi-tiểu-Ôi-đớn-đau-đến-dường-nào.
Cái bụng càng trương to thì khoảng cách vô hình càng xa lạ. Cái khoảng cách vô hình xa lạ làm Võ Thị Gái ngột thở. Nước mắt không chảy ra từ cửa mắt mà từ cửa mình, thoảng mùi húng lủi khô và vị chát mướp đắng. Phải chi nước ép từ tim, tuôn từ mắt, thì Võ Thị Gái có thể cười được dễ dàng với mọi người chung quanh, hay chỉ cười với riêng mình mỗi đêm trước khi chìm vào giấc ngủ, mang theo chùm tia sáng mặt trời lúng búng giữa trưa, hay mùi dú dẻ chín lịm, mọng căng phủ ấm da thịt giữa đêm rằm. Giờ thì, mùi lá bí xanh, màu hoa bí vàng rất đỗi buồn bã. Vũ trụ tối om.
….
Hai đứa ngọ nguậy 24/24. Hai con ghẹ lột, càng & que đỏ hói. “Người không ra người. Ngợm không ra ngợm.” Chòm xóm rỉ tai xầm xì. Những tín hiệu câm truyền nhiễm như thứ dịch ma quái mới phát hiện. Nhu cầu ôm ấp, vỗ về, chở che của người mẹ bị giết non, không thời gian tức tưởi, xót lòng. Mỗi ngón tay chỉ trỏ, là mũi tên độc gắm phập tim Võ Thị Gái. “Hai quỷ con đội mồ sống dậy chọc phá xóm này.” “Mắt hai đứa trắng dã, da đen thủi đen thui, cái hĩm không lỗ, bịt kín lông dày trui như rễ tre. Không khóc mà tru. Phải giết phải triệt tiêu phải bóp mũi phải chôn sống phải… bà con làng xóm ơi!” Những lúc tai má nghe như vậy thì hồn xác má bay tận đẩu đâu, hết ngó trời rồi ngó đất như kẻ mê sảng. Luồng ánh sáng loé trong đầu, sáng màu kỳ lạ, choé ngời như gươm, má chỉ thấy và nhớ thế. Một buổi chiều, dài hơn tất cả những buổi chiều của đời má gộp lại. Má ra sau bếp, lấy cái thau thường ngày dùng rửa chén, vo gạo, giặt quần áo. Cái thau duy nhất trong nhà. Má tráng sơ, bỏ hai con ghẹ con vào. Càng & que níu lấy nhau, rồi cùng bấu vào khoảng không. Má ủ hai đứa trong cái mền rách tươm viền, lủng nhiều lỗ, rồi cặp cái thau ngang hông, như ẵm con đi chơi, đi chợ. Má đi dần ra ngõ, chẳng biết đi đâu, làm gì với hai con ghẹ con. Thanh gươm sáng lửng lơ trên đầu, chỉ chực chờ cắt ngọt cổ má. Má cứ đi… trời vẫn cứ chiều, miệng gọi Vừng ơi! Vừng ơi! Vừng ơi! không ngớt. Cổng trời vẫn đóng kín. Không gian toé ngàn tia sáng dọc ngang thấp sát dần trên tóc má, âm vang tí tách, như muối hầm rang, như củi khô lùng bùng cháy. Má đi về phía cuối làng. Mưa bắt đầu đổ hột to như hột bắp. Cái thau ngập nước, hai con ghẹ con vẫn ngọ nguậy, níu nhau, vừa hát vừa run, rồi nhìn nhau cười rất đỗi vô tư. Má nghiêng thau, chắt nước, hai con ghẹ tuôn ra theo nước, cái mền cũng tuột, má túm cả mền cả hai con ghẹ bỏ lại trong thau, rồi tiếp tục đi. Sấm chớp xẹt lửa cháy từ đuôi tóc má cháy dần lên, tới đỉnh đầu thì bị mưa xối tắt ngúm. Sữa từ hai bầu vú má phun ra hai vòi. Hai vòi phun ngay họng hai con ghẹ con. Má cởi áo cởi quần, ủ thêm cho hai con ghẹ, rồi khẽ khàng đặt cái thau dưới gốc cây ổi đang hừng hực lửa. Ba chân bốn cẳng má ù chạy, nghe tiếng rượt đuổi vọng từ không trung, “phải giết phải triệt tiêu phải bóp mũi phải chôn sống…” Càng chạy lửa càng bám sát lưng, cùng tiếng tru của hai con ghẹ đuổi theo. Tru được là sống được. Má yên chí một cách mãnh liệt. Bước chân chạy của má lướt trên mọi vật thể đang hiện hữu, tồn tại trên đời. Má chạy mãi, chạy hoài, chạy đến khi đụng phải trời đêm.
“Cũng trên báo Dân Trí, số ra ngày 5 tháng 9 năm 2008, ký giả Bình An mô tả Lễ hội cồng chiêng các dân tộc tỉnh Kon Tum “là lễ hội dân gian và nghệ thuật cồng chiêng quy mô và hoành tráng nhất từ trước đến nay. Nhiều tác phẩm văn hoá đặc sắc của các dân tộc tham gia lễ hội góp phần gìn giữ, bảo tồn và phát triển loại hình sinh hoạt văn hoá độc đáo này. Không gian văn hoá cồng chiêng của các dân tộc Kon Tum đã thu hút và lan toả rộng lớn trên phạm vi toàn thế giới. Nhất là khi cồng chiêng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.”
“Ấn tượng” và “lộng lẫy” là câu “Không gian văn hóa cồng chiêng của các dân tộc Kon Tum đã thu hút và lan tỏa rộng lớn trên phạm vi toàn thế giới”, nhạc sĩ Trần Quang Hải cho thêm thông tin sau đây :
“Kể từ khi được Unesco công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể của thế giới”, cồng chiêng Tây Nguyên bỗng thay đổi chóng mặt. Trong dàn cồng chiêng cổ, tôi thấy xuất hiện ngày càng nhiều cồng chiêng sản xuất tại Thái Lan. Trông thì đẹp mã, bóng bẩy, sơn son, phết vàng, về mặt chất lượng thì âm cũng chuẩn, cao độ cũng tốt, nhưng đó không phải là cồng chiêng của người Tây Nguyên.
Cồng chiêng do bàn tay người Tây Nguyên làm ra, nó thấm đẫm hơi thở của núi rừng. Mỗi một cái cồng, cái chiêng, có khi phải tỉ mẩn rèn, đúc cả năm trời mới làm xong. Cứ hoàn thành một dàn cồng chiêng, là lại tiến hành tế lễ, giết gà, mổ bò, mổ trâu.
Người Tây Nguyên tin rằng, lớp đồng đen trên bề mặt cồng chiêng được phết thêm máu gia súc dùng trong tế lễ, thì cái cồng, cái chiêng đó đánh lên, mới phát ra đúng âm thanh của Tây Nguyên. Ấy thế mà hiện nay lại có những chàng trai Tây Nguyên dám đem những cái cồng, cái chiêng ông bà, tổ tiên để lại ra gọt chỗ này, cạo chỗ kia, rồi tạo nên âm giai thất cung thay thế vào để chơi nhạc mới.
Người ta dùng những cái cồng, chiêng lai căng ấy chơi đủ thứ nhạc từ Pop đến Rock mà không hiểu rằng, sở dĩ cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới” là bởi nó là báu vật riêng có của núi rừng Tây Nguyên, và chỉ duy nhất cồng chiêng Tây Nguyên mới phát ra được thứ âm thanh độc đáo rặt Tây Nguyên. Vậy mà…
Chưa hết đâu, cách trình diễn cồng chiêng dạo này cũng được “cách tân” triệt để. Trước kia, một dàn cồng chiêng cần đến cả chục người cùng tham gia biểu diễn. Kỹ thuật đánh hết sức phong phú, và phải rèn luyên lâu năm mới thuần thục. Còn bây giờ, có khi, người ta gắn cồng, chiêng vào một cái khung, rồi một người đứng gõ cốc cốc. Cứ cái đà này, tôi nghĩ, cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ đánh mất mình, mà còn có thể đánh mất luôn danh hiệu cao quý “Di sản văn hoá phi vật thể thế giới”.
[…] http://www.talawas.org/?p=22757 […]
Nếu như vậy thì chẳng hóa ra tác giả, ông Tửơng Năng Tiến muốn ví von cái nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay mà cụ thể các ông trùm đứng đầu là Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng…, cái tập thể pháp nhân ấy tư cách của nó cũng không khác gì tư cách của tên Nghị Hách khốn nạn, đê tiện mà trong văn học ta y là biểu tượng bẩn thỉu chó má nhất hay sao ?
Và, cũng cùng một mạch suy diễn ấy ông cũng cho cả cái “bộ sậu” chung quanh cái chính phủ ấy từ bộ trưởng bộ này bộ khác cho đến những nhà nghệ sĩ nhân dân…ngày nay cùng họp bầy đàn với chủ, những kẻ vẫn hàng ngày góp sức với chủ, không bỏ lỡ một dịp nào mà không tụng ca hành vi của chủ, những kẻ ấy tư cách cũng không khác bầy côn quang đô thị nọ mà trong khi chủ đang làm cái công việc hiếp dâm một thiếu nữ thì mọi sáng kiến của chúng chỉ còn là cầm những kìm, búa, lắc lê, con đội… đập váng lên để trùm át tiếng kêu thương của dân tộc à quên của cô gái đáng thương nọ hay sao ?