Đỗ Anh Thơ – Đêm trăng suông nhìn qua cửa sổ con tàu
12/06/2010 | 12:00 chiều | 2 Comments
Category: Tạp văn
Thẻ: Xô viết Nghệ tĩnh
Nhằm khảo nghiệm độ bền của sức khỏe và thần kinh, tôi đồng ý với vợ, dẫn cháu ra bắc nghỉ hè bằng tàu hỏa. Thế rồi, tàu lắc tôi như lên đồng, một ngày một đêm, trên mảnh đất cực nam khô cằn, khiến cho tôi nằm bẹp dí trên giường, đầu đau như búa bổ. Tôi nhắm mắt, mặc cho cháu reo lên khi nhìn thấy cầu, thấy núi, thấy đồng lúa xanh và những con bò nhởn nhơ gặm cỏ. Tàu tới đèo Hải Vân. Lúc đó, tôi mới gượng ngồi dậy, âu yếm nhìn đứa cháu gái ngây thơ. Tôi thầm nghĩ, non sông gấm vóc tươi đẹp sẽ chào đón nó cùng hai đứa cháu ngoại của tôi, ở Đức cũng sắp về. Chúng sẽ được thưởng thức một mùa hè khó quên ở Nha Trang, cùng ông bà trước cảnh núi và biển, đẹp như tranh như thế nào! Niềm vui chợt hiện, thì nỗi buồn lại đến ngay. Tôi lần thẩn nghĩ rằng, với vốn tiếng Pháp tiếng Anh ít ỏi, tôi làm sao truyền cho chúng tình yêu quê hương đây? Chúng có cảm thấy mảnh đất này là thiêng liêng hay không? Tôi có tạo được cho chúng cuốn phim ký ức, hay chúng chỉ thấy đẹp nhưng bẩn, không an toàn như những người nước ngoài đi du lịch Việt Nam, rồi để lại mảnh đất nghèo này, đối diện với hiểm họa chiến tranh của kẻ thù bành trướng đang tới gần?
Miên man nghĩ làm cho tôi trằn trọc không ngủ được. Tàu vượt qua Quảng Bình vào đất Hà Tĩnh Nghệ An. Tôi thức cháu dậy. Hai ông cháu nhìn qua khung cửa. Trời mờ một màu sáng trăng suông, nhạt nhòa những xóm làng, núi sông, nghĩa trang, đường mòn Hồ chí Minh… bàng bạc trong không gian, thời gian như bất tận.
Bỗng cháu tôi ngây thơ nói: “Quê ông anh hùng lắm phải không? Nghệ Tĩnh là quê hương Xô Viết mà! cô giáo con bảo thế”. Rồi nó ôm lấy tôi, như sợ bạn ở giường trên chê dốt, nó hạ giọng hỏi: “Nhưng ông ơi, ‘xô viết’ nghĩa là gì hở ông?”
Tôi lúng túng, giải thích cho cháu rằng: tiếng Nga, “xô viết” nghĩa là “ủy ban”, ủy ban cách mạng, cháu ạ.
– ???.
Đầu óc non nớt của cháu chẳng hiểu nổi lời giải thích của tôi. Nó chán cảnh, nên lại vùi đầu vào chăn ngủ tiếp cùng bà, để một mình tôi với không gian đầy ắp kỷ niệm, những buổi nhầm sáng trăng suông với rạng đông, ký ức về chuyện kể của mẹ trong Xô viết Nghệ An, bao hình ảnh máu và nước mắt, như những tranh minh họa trong bảo tàng cách mạng, đâu đâu cũng có, về các lãnh tụ từ Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Lê Hồng Phong đến Hà Huy Tập… họ như đang dẫn đầu hàng đoàn công nhân, nông dân tay búa tay liềm, từ Tràng Thi lên Hưng Nguyên, xuống cửa Hội… để giết Tôn Thất Hoàn, truy tìm Trần Mậu Trinh. Họ như vẫn đang vung tay, hô to những khẩu hiệu cách mạng Thà hy sinh tất cả chứ không chịu làm nô lệ. Trước mắt tôi, bóng họ lắc lư rồi lùi về sau đoàn tàu trong ánh trăng suông,… lùi tới tận những căn lều lợp lá cọ xiêu vẹo, ẩn khuất xa xa kia, đang đứng cheo leo bên bờ suối, như đang thách thức, đang chờ họ đến hô to một tiếng để lao vào dòng lũ sắp tới!
…Uống một viên thuốc ngủ, tôi lên giường nằm. Đúng lúc đó, nghĩa địa dòng họ tôi vút qua, cùng với tấm biển đề: Thành phố Vinh hẹn gặp lại!
Chỉ còn hơn 200km nữa thì tàu đến ga Hà Nội. Quãng đường còn rất ngắn, tôi muốn nhờ thuốc ngủ, đưa tôi vào giấc mơ, được về nằm bên mộ tổ tiên, cha mẹ, mà ngước lên, ngắm đoàn tàu cao tốc đi qua trong ánh trăng suông, có tiếng gà gáy: “Hãy tin ta, trời sắp sáng!” Rồi tiếng chim bìm bịp. Tôi nhìn đồng hồ, kim chỉ đúng một giờ đêm.
Kỷ niệm chuyến đi khó quên cùng cháu ra Hà Nội ngày 1/6/2010.
© 2010 Đỗ Anh Thơ
© 2010 talawas
Bình luận
2 Comments (bài “Đỗ Anh Thơ – Đêm trăng suông nhìn qua cửa sổ con tàu”)
Bác Đỗ Anh Thơ thân kính,
Đọc đoản văn “Đêm Trăng Suông…”, thấy chan chứa một nỗi bùi ngùi, đã có đôi hàng định gửi lên trang trải cùng bác và bạn đọc, đã đặt cho nó một cái subtitle tự lấy làm đắc ý (sic) là “Đêm trăng suông nghe bìm bịp kêu” nhưng lại nhận ra rằng nói đến “trăng suông” đến “bìm bịp” kêu (của bác) là không thể không đụng đến những nỗi niềm cay đắng, bất hạnh của dân tộc và đất nước trên một nửa thế kỷ nay, e không được “thư giãn” lắm giữa một cuối tuần vui vẻ, nên xin tạm gác lại để gửi đến bác một bài thơ của Vũ Hoàng Chương rất là “khít khao” với cái tâm trạng (thường khi) ủ ê của chúng ta vào thời (cực) nhiễu nhương này, đây:
Nguyện Cầu
Ta còn để lại gì không?
Kìa non đã lở, nọ sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về
Trông ra bến hoặc, bờ mê
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương
Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ, dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi
Đêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian
Một phen đã nín cung đàn
Nghĩ chi còn mất, hơi tàn thanh âm.
(VHC)
20:21, 2010-06-12
TRĂNG SUÔNG
Kính thưa tác giả Đỗ Anh Thơ,
Người bạn học sau phổ thông đầu tiên của tôi người Yên Thành. Lúc đó tôi làm „phiên dịch“ để giải thích cho … mấy tay Hà Nội rằng: Con„khái“ là con cọp. Nghệ An với lạc Quỳnh Lưu và dưa hấu. Và Cửa Lò: Lò đâu, và Cửa ở đâu? / Đến đây chỉ thấy con tầu buông neo… Tất cả có lẽ cũng sẽ … mờ theo trăng nhạt.
Xin trân trọng ghi ít cảm tưởng sau khi đọc bài đầy thi hứng của ông.
Cẩn bút.
Trăng suông, trăng suông;
Ngàn năm trăng buông…
Đời qua trước mắt,
Như cảnh chèo tuồng.
Ngẩn ngơ thế sự,
Tàu đi trong trăng;
Có gì vĩnh cửu?
Nơi đâu vĩnh hằng?
Nghĩ. Rồi lại nghĩ:
Mần chi bận tâm?
Trăng suông, đời nhạt,
Muôn sự vô thường.