Sơ lược hiện trạng tranh chấp Biển Đông và các phương pháp giải quyết – Hay là góp ý thêm với ông Phạm Quang Tuấn và Dương Danh Huy về phương pháp giải quyết vấn đề Biển Đông
03/04/2009 | 5:52 sáng | 4 Comments
Category: Quan hệ Việt – Trung, Vấn đề Biển Đông
Thẻ: Hoàng Sa-Trường Sa
Để giúp quí độc giả có thể phê phán về cách lựa chọn chiến lược cho việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, tôi xin trình bày một số việc, thiển nghĩ là cần thiết để mọi người có cái nhìn đúng về hiện trạng của việc tranh chấp, đó là phác họa tình hình tranh chấp của Biển Đông hiện nay như thế nào, trình bày các phương cách giải quyết hợp lý nó ra sao và sau đó sơ thảo hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam.
Tôi cho rằng tiếp tục tranh luận trên những cái «lặt vặt» thì sẽ chỉ là việc hoang phí thời gian.

Nguồn: Le Monde Diplomatique
Xét bản đồ sau đây. Tạm gọi vùng biển đánh dấu bằng chữ U (hay vùng lưỡi bò) là biển chữ U. Biển Đông có thể chia ra làm 3 vùng: 1/ Vùng phía nam Biển Đông (vùng nằm ngoài vùng biển chữ U); 2/ vùng biển ở giữa Biển Đông, gồm có quần đảo TS, tạm gọi là biển Trường Sa; 3/ vùng biển phía bắc, gồm có quần đảo HS và vùng cửa vịnh Bắc Việt, ta gọi là biển Hoàng Sa.
Trên bản đồ, đường màu xanh lá cây: hải phận của của Trung Quốc, xác định biển chữ U (hay đường lưỡi bò). Đường màu vàng của Việt Nam, màu tím của Phi và màu cam của Mã Lai. (Đài Loan có cùng quan điểm với Trung Quốc).
Phân ra như thế ta thấy tranh chấp vùng biển phía nam, vùng 1, hoàn toàn không dính dáng gì đến vùng 2 và 3. Vùng 2, chủ quyền TS có thể giải quyết chung với việc phân định hải phận các giữa nước tranh chấp. Tương tự, vùng 3, việc tranh chấp HS có thể giải quyết chung với việc phân định hải phận Biển Đông.
Tóm lại, ba vùng biển 1, 2 và 3 có thể giải quyết riêng rẽ và độc lập với nhau.
1. Biển nam Biển Đông là vùng biển nằm ngoài vùng đánh dấu chủ quyền của Trung Quốc (biển chữ U), gồm có vùng biển cửa vịnh Thái Lan, khu vực cửa sông Cửu Long và biển Natuna… (xem bản đồ). Tranh chấp vùng này do chồng lấn ZEE theo qui định của UNCLOS giữa các nước Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Mã Lai nhưng hầu hết đã được giải quyết. Hiện nay còn tồn đọng các tranh chấp giữa: Indonesia-Mã Lai và Mã Lai-Brunei. Riêng Việt Nam thì còn đòi hỏi một vùng nhỏ trong vùng khai thác chung giữa Thái Lan và Mã Lai ở cửa vịnh Thái Lan.
Nói chung, trường hợp Việt Nam, các tranh chấp ở vùng này đã được giải quyết. Từ nay ta không nói tới.
2. Khu vực biển Trường Sa: Khu vực này có tranh chấp giữa các nước Mã Lai, Brunei, Việt Nam, Phi, Trung Quốc (và Đài Loan) về chủ quyền các đảo TS và hải phận ZEE.
Việc tranh chấp này đến từ hệ quả của việc chồng lấn hải phận giữa các nước và hải phận các đảo, do hiệu lực lãnh hải và vùng kinh tế độc quyền (ZEE) mà UNCLOS đã dành cho các đảo. Trên bản đồ ta thấy khu vực biển tranh chấp tại đây chiếm khoảng ½ diện tích Biển Đông.
2.1. Mã Lai – Brunei – Việt Nam:
Mã Lai công bố bản đồ lãnh hải vào tháng 12 -1979, vùng biển theo bản đồ này bao gồm các đảo An Bang và Thuyền Chài của Việt Nam và đá Công Đô hiện do Phi kiểm soát. Năm 1983, Mã Lai chiếm đảo Hoa Lau của Việt Nam, tháng 12 năm 1986 chiếm các đá Kỳ Vân và Kiệu Ngựa cũng của Việt Nam. Tháng 6 năm 1999 chiếm thêm hai đá Investigator và Erika Reef.
Riêng ở đảo Hoa Lau, Mã Lai cho đổ đá xây dựng đảo này thành một đảo nhân tạo, có sân bay và bồn chứa nước quan trọng. Quan chức Mã Lai lần đầu tiên thăm các đảo TS tháng 11 năm 2007, cùng tháp tùng có 65 nhà báo.
Brunei công bố hải phận của mình theo tinh thần UNCLOS năm 1983, là một khu vực biển hình chữ nhật, chiều dài là chiều dài bờ biển, chiều rộng 265 hải lý, đối đẳng qua đường trung tuyến với đảo Phú Quí của Việt Nam (không hiển thị trên bản đồ). Brunei không nhìn nhận hiệu lực đảo Hòn Hải của Việt Nam, là điểm A6 của hệ thống đường cơ bản. Nhưng vùng biển này nằm gần như trọn vẹn trong vùng biển của Mã Lai, công bố năm 1984, biểu hiện qua đường màu cam trên bản đồ.
Thái độ bất chấp Brunei của Mã có hai lý do, một phần là do lịch sử, một phần do Luật Biển 1982.
Thứ nhất, trước 1963, Brunei, dưới quyền bảo hộ của Anh, đã gia nhập liên bang Mã Lai. Nhưng đến năm 1984 thì được Anh nhìn nhận độc lập. Thứ hai, trong hải phận của Brunei có nhóm đá Louisa, trên đó Mã đã cho xây dựng một hải đăng. Ngoài ra, trong vùng biển của Mã Lai gồm có các «đảo» mà họ chiếm của Việt Nam như đã ghi trên.
Như thế tranh chấp giữa Mã và Brunei là: Tranh cãi về lịch sử và chồng lấn hải phận ZEE do ảnh hưởng đảo Louisa mà Mã Lai đã giành chủ quyền.
Lý lẽ của Mã Lai về lịch sử không đứng vững, tương tự trường hợp quan hệ «thuợng quốc – chư hầu» giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng nếu «đảo» Louisa được nhìn nhận là đảo, hải phận của Brunei sẽ thu nhỏ lại không còn bao nhiêu. Đó là lý do giải thích hải phận của Mã Lai phủ trùm lên hải phận Brunei.
Tuy nhiên, các đảo (cồn, đá…) ghi trên của Mã Lai thực ra phần lớn là các đảo thuộc TS của Việt Nam, ngoại trừ đá Louisa.
Do ảnh hưởng lãnh hải và vùng kinh tế độc quyền (ZEE) của các đảo này, Việt Nam có quyền lên tiếng đòi hỏi vùng biển chính đáng của mình, theo qui định của luật biển UNCLOS. Vùng biển xác định giữa đường màu vàng và màu cam trên bản đồ là vùng chồng lấn hải phận giữa Việt Nam và Mã Lai.
Tranh chấp giữa Việt Nam và Mã Lai như thế là tranh chấp về chủ quyền các đảo và hải phận phải phân định do ảnh hưởng các đảo này.
Như thế, giải pháp thuần lý để giải quyết tranh chấp giữa Việt – Mã là xác định trước hết chủ quyền các đảo Trường Sa. Sau đó là phân định hải phận.
2.2. Việt – Phi:
Chiếu theo lịch sử, Phi Luật Tân không có thẩm quyền với các đảo TS. Nước này bị ràng buộc do hiệp ước 1898 ký kết giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha.
Hiệp ước 1898 qui định Phi được giao cho Hoa Kỳ. Hoa Kỳ xác định vùng biển của đảo quốc này, theo đó vùng biển của Phi không có một hòn đảo nào thuộc TS.
Tham vọng của Phi bắt đầu từ năm 1951 khi Tổng thống xứ này là ông Quirino cho rằng quần đảo Spratly (tức Trường Sa) thuộc về Phi vì chúng ở gần nước Phi. Lý lẽ này không hề được luật pháp quốc tế chấp nhận.
Từ năm 1968 đến 1975, Phi cho quân đi chiếm một số đảo của Việt Nam, có cây cối và nước ngọt như các đảo Thị Tứ, Loai Ta, Vĩnh Viễn, Song Tử Đông…
Năm 1979, theo một nghị quyết do TT Marcos ký, toàn bộ quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Phi, ngoại trừ một vài đảo, đặt tên là Kalayaan.
Phi vừa thông qua một đạo luật mới, tháng 3-2009, nhằm hợp hiến và hợp pháp hóa các đảo TS, trong đó một số đảo họ đã chiếm của Việt Nam. Đạo luật này cũng xác định hải phận và chủ quyền các đảo TS theo bản đồ sau đây.

Các đảo được khoanh xanh ở trong và khoanh vàng ở ngoài có ghi chú: Regime of Islands. Như thế có thể hiểu khoanh xanh là lãnh hải 12 hải lý và khoanh vàng là ZEE của các đảo. Vùng ZEE sẽ được xác định tùy theo độ lớn nhỏ của các đảo.
Nhưng các đảo mà Phi nhận là của mình phần lớn đều thuộc các đảo TS mà Việt Nam có chủ quyền. Do ảnh hưởng các đảo này, theo qui định của UNCLOS, Việt Nam có quyền đòi hỏi hải phận của chúng.
Do đó giữa Việt Nam và Phi có chồng lấn hải phận. Vùng biển chồng lấn biểu diễn trên bản đồ là vùng biển xác định bởi đường màu vàng và màu tím không còn đúng với thực trạng vì Phi vừa thay đổi luật, rút lại đòi hỏi lãnh hải vùng này.
Như thế, việc giải quyết tranh chấp chồng lấn hải phận giữa Việt Nam và Phi cũng là việc giải quyết tranh chấp chủ quyền các đảo TS.
2.3. Trường hợp Trung Quốc:
Trung Quốc hoạch định hải phận của mình qua đường chữ U (lưỡi bò). Việc này được giải thích qua hai thời kỳ: trước năm 1958 và sau 1958. Trước 1958 là dựa trên lý do biển lịch sử. Sau 1958 vì khái niệm «biển lịch sử» bị đặt lại vấn đề, hơn nữa Trung Quốc đã ký kết và thông qua Luật Quốc tế về biển 1995, do đó có thể hiểu ngầm hiện nay Trung Quốc giải thích vùng biển của mình trên căn bản có chủ quyền các quần đảo HS, TS, dải Đông Sa (Macclesfield) và bãi ngầm (Minzhou dao) Scarborough.
Như thế, ở vùng biển TS, Trung Quốc có chồng lấn với các nước Việt Nam, Phi, Mã Lai, Brunei.
Bản đồ mới hiện nay của Trung Quốc thì không có chồng lấn với Indonesia, trong khi các bản đồ cũ thì đường chữ U bao gồm luôn đảo Natuna của Indo. Như thế Trung Quốc đã khéo léo nhượng bộ, đặt Indonesia ra ngoài vòng tranh chấp vì nước này có «trọng lượng» lớn nhất trong vùng, có thể «cầm chân» Trung Quốc nếu xảy ra cuộc chiến tại đây.
3. Vùng biển Hoàng Sa:
Vùng biển này chỉ có tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Về lịch sử tranh chấp, ta có có thể chia ra làm ba thời kỳ chính: 1909-1954 thời kỳ Pháp thuộc. Thời kỳ 1954-1975 Việt Nam Cộng hòa và từ 1975 đến nay thời kỳ CHXHCNVN. Các thời điểm quan trọng: năm 1946 Trung Quốc chiếm nhóm An Vĩnh. Năm 1974 dùng quân sự xâm chiếm toàn bộ HS.
Việc phân định hải phận giữa Việt Nam và Trung Quốc tại vùng biển này có thể lấy khởi điểm từ cửa vịnh Bắc Việt cho đến vùng biển giữa đảo Hải Nam và các tỉnh miền Trung Việt Nam. Trên tinh thần Luật Biển 1982, mỗi bên có quyền mở rộng vùng biển ZEE của nước mình đến 200 hải lý tính từ đường cơ bản. Trường hợp vùng biển phân định có chiều rộng nhỏ hơn 400 hải lý thì việc phân chia sẽ dựa trên nguyên tắc «lấy đường trung tuyến» giữa hai bờ biển, ở đây là đảo Hải Nam và bờ biển các tỉnh miền Trung của Việt Nam. Nhưng sự hiện diện của quần đảo HS làm cho việc phân định rất khó khăn cho phía Việt Nam.
Trung Quốc đã công bố bản đồ lãnh hải năm 1996, xác định vùng biển Hoàng Sa, đòi hỏi ZEE 200 hải lý cho các đảo ở đây.
Tức là, phân định vùng biển ở đây, sẽ là phân định từ bờ biển Việt Nam với các đảo HS, nếu Việt Nam bỏ HS cho Trung Quốc. Đây là việc không thể chấp nhận vì HS thuộc chủ quyền của Việt Nam mà Trung Quốc xâm lăng bằng bạo lực.
Việc phân định ở đây vì thế không thể đặt ra trước khi giải quyết việc tranh chấp chủ quyền các đảo HS.
4. Về đề nghị phân định hải phận, «bỏ qua tranh chấp các đảo»:
Nếu đề nghị này được thực hiện thì đây là một phương pháp rất có hại cho Việt Nam.
- Các đảo tranh chấp giữa Việt-Phi hay Việt-Mã đều thuộc chủ quyền Việt Nam. Bỏ qua nó, tức không tính hiệu lực hải phận theo UNCLOS, thì chỉ có Việt Nam là thiệt hại, các vùng biển tại đây phải xem là mất. Việc giải quyết chủ quyền các đảo sau này, giả sử chúng phải trả lại cho Việt Nam thì Việt Nam cũng sẽ không bao giờ giành lại quyền lợi của mình.
- Giả sử việc giải quyết tranh chấp song phương về hải phận, thí dụ Việt-Phi hay Việt-Mã được thực hiện. Nhưng đối với Trung Quốc thì vẫn chưa giải quyết, chắc chắn Trung Quốc sẽ phản đối, việc này sẽ thường xuyên đem lại bất ổn cho khu vực. Thí dụ: giả sử rằng Việt Nam vừa phát hiện một mỏ dầu quan trọng trong vùng thuộc về Việt Nam vừa phân định xong với Phi (hay với Mã). Ta sẽ thấy phía Trung Quốc sẽ đe dọa, thậm chí dùng vũ lực, để giành vùng biển đó. Trường hợp hai lô 5.2 và 5.3 nằm trên thềm lục địa Việt Nam do BP khai thác là một trường hợp để suy nghĩ.
- Tuy nhiên, tranh chấp giữa Việt Nam và hai nước Phi, Mã không trầm trọng. Một vài đảo Việt Nam ở khu vực biển của Phi hay của Mã Lai thì quá gần hai nước này so với Việt Nam. Do đó hai nước này khó có thể chấp nhận việc phân định đồng đẳng với các đảo này của Việt Nam. Một giải pháp ngoại giao có thể nghĩ tới, Việt Nam có thể nhưọng bộ ở vài điểm để có thể xây dựng một liên minh với hai nước này để chống Trung Quốc.
Do đó, việc giải quyết tranh chấp bằng cách để các đảo sang một bên, sau đó phân định hải phận Biển Đông, trước hết là không thuần lý, sau đó tồn đọng vấn đề chủ quyền các đảo phải giải quyết sau này. Vấn đề quan trọng nhất là vấn đề Trung Quốc vẫn không giải quyết. Mà nếu vấn đề này không giải quyết thì không có vấn đề nào được giải quyết.
5. Giải quyết tranh chấp HSTS bằng một trọng tài quốc tế:
Việc giải quyết tranh chấp với Trung Quốc vì thế phải qua một tòa án quốc tế.
Ta biết, phía Việt Nam có hồ sơ lịch sử chủ quyền các đảo HSTS là vững chắc hơn hết. Nhưng khó có thể giải quyết tranh chấp HSTS bằng một trọng tài quốc tế, ít ra trong thời điểm hiện tại.
Đã hai lần trong quá khứ Trung Quốc từ chối đề nghị của Pháp đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền HS ra một trọng tài phân xử năm 1932 và năm 1947.
Nhưng không phải vì vậy mà không thể không có việc phân xử trong tương lai.
Khái niệm chủ quyền về biển là một khái niệm hoàn toàn mới, chỉ bắt đầu từ năm 1958 qua Hội nghị LHQ lần thứ nhất về Luật Biển. Luật quốc tế về biển cũng thế, chỉ mới có vài thập niên trở lại. Công ước Montégo Bay, xác định bộ Luật quốc tế về Biển hiện nay, chỉ mới có năm 1982. Tòa án Quốc tế về Biển của LHQ (Le Tribunal International du Droit de la Mer, TIDM) đã đặt ra dựa trên luật này nhưng đến nay vẫn chưa thụ án. Mọi tranh chấp hiện nay đều giải quyết qua Tòa án Quốc tế (Cour Internationale de Justice – CIJ).
Nhiều lý lẽ cho rằng, việc đưa ra tòa án quốc tế chỉ có thể thực hiện nếu tất cả các bên cùng đồng thuận. Đúng là như vậy trong thời điểm hiện nay. Nhưng thế giới không ngừng biến đổi, con người ngày càng văn minh hơn, do đó trong tương lai sẽ không còn những trường hợp bế tắc do bên này hay bên kia ngăn cản việc phân xử. Vấn đề là tương lai đó là khi nào?
Bất kể tương lai đó là khi nào, phía Việt Nam phải lạc quan rằng vấn đề chủ quyền các đảo HSTS sẽ phải được đưa ra phân xử trước một tòa án quốc tế. Các thế hệ Việt Nam phải vận động mọi cách để việc đó xảy ra. Việt Nam cần phải giữ nguyên trạng Biển Đông cho đến thời điểm đó. Không được gấp gáp. Mọi hành động vội vã, như hợp tác khai thác v.v… sẽ sụp ngay vào bẫy của Trung Quốc.
6. Về công hàm của ông Phạm Văn Đồng và các dữ kiện liên hệ trên các Atlas:
Nếu phía Việt Nam tâm niệm: Việc giải quyết tranh chấp sẽ phải do một tòa án quốc tế. Như thế dầu muốn dầu không Việt Nam sẽ phải đối diện với công hàm của ông Đồng.
Hiệu quả của công hàm này có thể làm cho Trung Quốc thắng kiện về HS và TS, do đó phía Việt Nam cần phải vô hiệu hóa nó. Việt Nam có giữ được HS và TS hay không là do hiệu ứng của công hàm này. Đây không phải là một vấn đề chính trị mà là một yếu tố pháp lý.
Nhiều người cho rằng công hàm này không có giá trị pháp lý. Ông Nguyễn Nhã vừa lên tiếng như thế, cho rằng công hàm này chỉ có giá trị về lãnh hải 12 hải lý. Nhưng thực ra, chính ông Phạm Văn Đồng, sau này là ông Nguyễn Mạnh Cầm, đã xác nhận lại, công hàm có mục đích công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại HS và TS. Ông Đồng cho rằng chỉ công nhận «trong thời chiến» và ông Cầm thì là «tạm công nhận».
Nhiều người không tin rằng các Atlas trên thế giới ghi nhận việc này. Thực ra tất cả các cuốn Atlas mà tôi có tham khảo, sách nào cũng có ghi, khác nhau là phương cách ghi nhận. Thông thường là cách ghi nhận là như lối ghi nhận của bà Monique Chemillier-Gendreau trong cuốn La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys: trong thời kỳ chiến tranh, e ngại phật lòng đồng minh, nên VNDCCH có cùng quan điểm với Trung Quốc về chủ quyền HS&TS. Nhưng có một số ghi thẳng do hiệu quả công hàm của ông Phạm Văn Đồng.
Đây là một thực tế, các học giả Việt Nam không thể trốn tránh được nữa. Trong quyển sách Biên giới Việt-Trung 1885-2000: Lịch sử thành hình và những tranh chấp của tôi xuất bản năm 2005, cũng ghi nhận là công hàm của ông Đồng không có giá trị, nhưng sau vụ BP rút lui, tôi cho rằng chúng ta phải nhìn công hàm này bằng con mắt thực tiễn của một nhà khoa học, cố gắng tìm phương pháp hóa giải nó, bằng lý trí và bằng trái tim yêu nước, nếu muốn bảo vệ bờ cõi, đất nước mình.
Trở lại trường hợp nếu Việt Nam phân định hải phận song phương với các nước như Phi, Mã Lai…, Việt Nam có thể trao đổi và dàn xếp để phân chia Biển Đông với các nước này, nhưng Việt Nam vẫn không thoát khỏi những áp lực của Trung Quốc, ngay trên những vùng thuộc hải phận của mình, mà tôi có lấy trường hợp BP một thí dụ. Quan trọng hơn nữa, do hiệu lực của công hàm này, Trung Quốc có thể tấn công các đảo TS của Việt Nam bất kỳ lúc nào, cho dầu Việt Nam có những liên minh quân sự với các nước Phi, Mã Lai.
7. Chính sách hòa giải dân tộc và phương pháp hóa giải công hàm ông Đồng:
Phương pháp do tôi đề nghị để hóa giải hiệu lực công hàm của ông Đồng, thực ra là một tiến trình đáng lẽ nhà cầm quyền Việt Nam đã phải thực hiện từ lâu, vừa sau 30-4-1975.
Ở hầu hết các nước trên thế giới, sau một cuộc nội chiến, dân tộc xâu xé với nhau do chiến tranh, hòa bình lập lại thì nước nào cũng công bố chính sách «hòa giải dân tộc» để hàn gắn những vết thuơng trong quá khứ. Ta thấy dân tộc giữa các nước cũng vậy, thí dụ Pháp và Đức, hai dân tộc này đã nhiều lần xung đột với nhau trong lịch sử, gần đây là hai trận Đại chiến Thế giới làm chết hàng chục triệu người, hận thù tính ra không biết là bao nhiêu, nhưng họ đã hòa giải với nhau, theo nhiều tiến trình văn hóa, chính trị khác nhau, để hôm nay hai nước cùng ngồi chung thanh bình trong khối EU.
Mặt khác, nhìn lịch sử Việt Nam, ta thấy dân tộc Việt Nam là một dân tộc đặc biệt có nhu cầu hòa giải hơn bất kỳ một dân tộc khác. Lịch sử chuyển đổi chế độ của nước ta là lịch sử của sự giết chóc. Một triều đại mới giành được ngôi báu, việc đầu tiên là tận diệt dòng dõi của triều đại cũ. Sau năm 1975 cũng thế, kẻ thắng trận tìm cách diệt trừ mọi mầm mống, mọi vết tích văn hóa của chế độ cũ.
Do đó đề nghị của tôi về chính sách «hòa giải dân tộ », song song với quá trình tăng tốc dân chủ hóa Việt Nam, là một điều thuận lý và cần thiết cho dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, tôi khai triển ra thêm để có thể hóa giải công hàm của ông Đồng như trong bài viết vừa rồi. Vì thế, đây không hề là một hình thức «tự sướng» một cách ích kỷ như có người phê bình, mà là một phương pháp đứng đắn, nhằm đem lại hạnh phúc, phồn vinh cho cả một dân tộc.
Chỉ có phương pháp dân chủ hóa nhanh chóng như thế, Việt Nam mới không lâm vào cảnh hỗn loạn, vẫn giữ nguyên sức mạnh quân đội và đội ngũ giữ gìn trận tự xã hội, đồng thời có thể huy động lực lượng toàn dân cho một mục tiêu chung.
Mọi hình thức tuyên truyền hiện nay để vực dậy lòng yêu nước chỉ là một việc làm dối trá. Chỉ có sự hòa giải và một chế độ dân chủ thực sự mới có thể thổi bừng tình yêu nước thực sự. Từ đó việc bảo vệ đất nước mới có tính chính thống để sự hy sinh không còn là vô nghĩa.
8. Sơ thảo hồ sơ thềm lục địa Việt Nam
8.1. Hệ thống đường cơ bản: Việt Nam không có nhu cầu phải thay đổi hệ thống đường cơ bản vì hiện nay những tranh chấp hải phận với các nước chung quanh, ngoại trừ Trung Quốc, mà hệ thống đường cơ bản có ảnh hưởng tới, đều đã được giải quyết. Hệ thống đường cơ bản giúp cho Việt Nam bảo vệ hữu hiệu hơn vùng biển miền nam Việt Nam, từ hòn Khoai (Cà Mau) đến đảo Hòn Hải, một biển vùng hiểm yếu chiến lược. Vùng nước phía trong đường cơ bản được xem là «nội hải», Việt Nam có toàn quyền phần biển này như trên đất liền.
Đối với Hoa Kỳ, dĩ nhiên quan tâm nước này không phải là quyền lợi ở vùng nội hải của Việt Nam, mà là quyền tự do lưu thông trên biển. Sau chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vào cuối tháng 6 năm 2008 của TT Nguyễn Tấn Dũng, Hoa Kỳ đã ký kết với Việt Nam một số thỏa thuận về kinh tế, trong đó tập đoàn ExxonMobil được quyền khai thác một vài lô thuộc vùng Tu Chính – Vũng Mây.
Nhưng chi tiết quan trọng là tuyên bố của Hoa Kỳ: «Hoa Kỳ tôn trọng và ủng hộ việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam».
Việc «tôn trọng và ủng hộ» của Hoa Kỳ về vấn đề toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam nên hiểu là Hoa Kỳ không can thiệp nhằm chia cắt Việt Nam, không ủng hộ các lực lượng ly khai tại Việt Nam. Điều nên quan tâm là Hoa Kỳ công nhận lãnh thổ của Việt Nam trên căn bản nào?
Thái độ Hoa Kỳ cho phép ExxonMobil khai thác vùng Tu Chính – Vũng Mây có nghĩa là Hoa Kỳ công nhận vùng đó thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Tuy nhiên, thời gian qua đã có những biến động về kinh tế, Hoa Kỳ lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, do đó cần hòa hoãn với Trung Quốc để mua thời gian phục hồi. Không thể bi quan để có những hành động hấp tấp, làm thiệt hại cho các thế hệ tương lai.
Do đó việc hủy bỏ, hay thay đổi đường cơ bản theo chiều hướng bất lợi cho Việt Nam là việc không nên làm.
8.2. Hồ sơ thềm lục địa:
Nhiều người lên tiếng rằng Việt Nam cần nộp hồ sơ thềm lục địa đúng hạn 13-5-2009, nếu không đúng thời hạn thì có thể sẽ mất cho nước khác có nộp hồ sơ. Việc này tương đối, nếu ta xét hồ sơ của Việt Nam đã nộp cho LHQ về hải phận và chủ quyền các đảo chứa đựng gì?
Hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam rất đơn giản, các đảo HS và TS thuộc về Việt Nam. Nếu Việt Nam không thay đổi hồ sơ cũ (1977, 1982), nhờ hiệu lực ZEE và thềm lục địa của các đảo, Việt Nam không cần lập hồ sơ thềm lục địa mở rộng, vì không còn thềm lục địa trong Biển Đông nữa để «mở rộng».
Một thềm lục địa có thể mở rộng qua hai điều kiện: 1/ Có thềm lục địa để mở rộng và còn thềm lục địa «vô chủ» để mở rộng.
Nhiều nơi, như bờ biển miền Trung hay bờ biển của Phi, chưa ra đến 200 hải lý thì không còn thềm lục địa nữa mà là đáy đại đương. Trường hợp này thềm lục địa không thể mở rộng (vì không có thềm lục địa để mở). Trường hợp thứ hai, vùng biển ở miền Nam Việt Nam, ra ngoài 200 hải lý vẫn còn thềm lục địa (hay bờ thềm), nơi này có thể mở rộng thềm lục địa. Nhưng nếu hiệu lực các đảo của Việt Nam choán hết các vùng này thì không còn thềm lục địa trong Biển Đông để các nước có thể «mở rộng».
Hiện nay, các nước trong vùng, chỉ có Indonesia đã nộp hồ sơ hoàn tất trước ngày hạn định.
Do đó việc nôn nóng trước các sự kiện chưa chắc là một hành động khôn ngoan. Phía Việt Nam cần suy nghĩ chín chắn, lựa chọn giải pháp có lợi nhất, không nên chạy theo dư luận. Đây là một lựa chọn «chiến lược», không thể nộp sớm hay để lộ tin tức, giúp cho đối phương tìm phương pháp hóa giải.
© 2009 Trương Nhân Tuấn
© 2009 talawas blog
Bình luận
4 Comments (bài “Sơ lược hiện trạng tranh chấp Biển Đông và các phương pháp giải quyết – Hay là góp ý thêm với ông Phạm Quang Tuấn và Dương Danh Huy về phương pháp giải quyết vấn đề Biển Đông”)
Xin đính chính: tên tác giả nhiều sách, tài liệu nghiên cứu Biển Đông tôi đã dẫn trong góp ý trước là ông Vũ Hữu San (có thể xem tại: vuhuusan.110mb.com/nuocViet.htm). Dự đoán VN sẽ không được gì thêm ở những vùng biển đang tranh chấp về thềm lục địa hay EEZ với các nước, nhất là tranh chấp với TQ. Nhưng ở những vùng biển của VN mà thềm lục địa rộng tới 200 HL hiện không có tranh chấp, VN vẫn hy vọng được thềm lục địa mở rộng, dù chưa biết thêm bao nhiêu hải lý (như vùng nằm bên dưới Đồng bằng Cửu Long). Xét thật giản đơn: Thềm lục điạ mở rộng được tính từ chân thềm lục địa hiện hữu ra thêm 60 hải lý hoặc hơn, tuỳ đặc trưng điạ chất đáy biển.
Tôi đồng ý với ông Trương Nhân Tuấn là VN nên cố giữ nguyên trạng ở TS,càng lâu càng tốt,cho đến khi tình hình biến chuyển thuận lợi cho một giải pháp qua thương thuyết. Ở HS, trước mắt không thấy có thay đổi lợi cho VN. Nhưng phải đăng ký kịp thời hạn hồ sơ thềm địa lục địa mở rộng (TLDMR)để EEZ ra tới 350 HL. Theo tin, Phi đã nộp hồ sơ đăng ký. Một vùng có tranh chấp giữa hai nước thì không được dành cho bên nào. Không biết Phi, Mã và TQ đòi hỏi TLDMR tới đâu, nhưng nếu chồng lấn lên TLDMR của VN mà không bị phản đối,họ sẽ được chấp thuận. Cả ở HS và TS, theo ông Trần Hữu San, TLD của VN rất rộng,hơn 200 HL (tất nhiên hồ sơ phải có chứng cớ giá trị),do đó đủ điều kiện được TLDMR. Dù vậy,vì có tranh chấp nên VN ít hy vọng được gì thêm, nhưng ít ra đạt được mục đích vô hiệu hóa những đòi hòi chỗ chồng lấn của TQ ở HS&TS,và của Phi,Mã ở TS. Rốt cuộc,sẽ trở lại nguyên trạng hay chỉ thay đổi ít.
Tôi tin VN đã lập xong hồ sơ (sau 10 năm chuẩn bị), chỉ chưa đưa ra thôi. TQ cũng làm vậy
Theo cách hiểu của tôi việc đòi hỏi 200 hải lý hay hơn nữa cho vùng đặc quyền kinh tế theo tinh thần công ước biển UNCLOS trên cơ sở đặc điểm địa hình thềm lục địa của nước ta. Trong khi xác định chủ quyền hai quần đảo chủ yếu lại dựa vào bằng chứng lịch sử. Hai công việc này có thể tiến hành đồng thời chứ không buộc phải lựa chọn một trong hai. Cả hai đều đòi hỏi người tham gia nắm rõ luật pháp và thông lệ giải quyết các vấn đề tương tự trong lịch sử. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có những khác biệt. Chẳng hạn, công việc thứ nhất đòi hỏi sự thông thuộc về địa hình ven biển, thềm lục địa thì công việc thứ hai đòi hỏi người ta kiến thức về lịch sử, tài liệu, thư tịch cổ.
“Cưa đôi” như thành thông lệ lâu nay vận dụng trong việc phân chia vịnh Bắc Bộ, Bãi Tục Lãm, Thác bản Dốc giữa ta và Trung Quốc. Bây giờ đến lượt Hoàng Sa, Trường Sa thật đáng quan ngại. Do vậy, việc tách hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa riêng biệt với các vùng biển, các đảo khác cũng là một sự thận trọng cần thiết.
[…] Bài sau cùng của Trương Nhân Tuấn viết rất dài nhưng không chứa đựng điểm gì mới và vẫn đưa cái giải pháp “hòa giải dân tộc” để chiếm lại tất cả Biển Đông, mà trong bài trước tôi đã chứng minh là không có tác dụng gì cả. Tuy nhiên, những chuyện đó xin để độc giả thẩm định. Chỉ có một điểm duy nhất trong bài là mới, thì lại sai một cách rất tệ hại. […]