Hoàng Giang – Trao đổi với André Menras Hồ Cương Quyết
22/05/2010 | 12:33 chiều | Chức năng bình luận bị tắt ở Hoàng Giang – Trao đổi với André Menras Hồ Cương Quyết
Category: Chính trị - Xã hội, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: Hồ Chí Minh
Cher André Menras! Hồ Cương Quyết quí mến!
Tôi là người cùng thế hệ với anh, chí ít cũng thuộc thế hệ đấu tranh chống cuộc chiến do Mỹ tiến hành tại Việt Nam, một thế hệ mà nhiều thanh niên trên thế giới đã từng tham gia cuộc đấu tranh này tự hào gọi là thế hệ HỒ CHÍ MINH. Tôi cũng mang quốc tịch Việt Nam như anh, chỉ có điều tôi chỉ có một quốc tịch. Tôi cũng có những nỗi niềm tự hào cùng với những nỗi đau, có lẽ cả nỗi xấu hổ như anh về những công dân bị chính Tổ quốc mình bỏ rơi, về sự nhu nhược của một thế hệ lãnh đạo nhà nước và một quân đội đã từng một thời được coi là anh hùng mà anh đã nêu trong bài “Từ biển khơi, những nghi ngại cùng những điều xác tín”. Cảm ơn anh đã đồng cảm với đất nước và người dân của chúng tôi, đất nước và những người dân mà anh đã từng ngưỡng mộ và gắn bó; nói đúng hơn, đất nước và người dân của chúng ta, vì hiện nay anh đã là người Việt Nam, là người có chung một Tổ quốc với chúng tôi và anh cũng đang có những trăn trở, những nỗi đau và nỗi xấu hổ như chúng tôi.
Trong bài trao đổi này với anh tôi chưa vội trách ai mà tôi chỉ muốn trao đổi với anh những điều tôi đang trăn trở.
Loài người thuộc động vật sống theo bầy đàn. Có thể nói, không có con đầu đàn thì hoạt động bầy đàn sẽ không thể xảy ra. Người chỉ huy càng có năng lực và càng sáng suốt thì hiệu quả hoạt động của tập thể càng cao. Ngược lại, hiệu quả hoạt động bầy đàn không tốt phần lớn đều do năng lực và tầm nhìn kém cỏi của người chỉ huy; trường hợp ngoại lệ thường rất hiếm hoi và hầu như không có. Có thể nói, sau khi Cụ Hồ Chí Minh qua đời chúng ta đã không có một con đầu đàn hoàn thiện. Tập thể những thủ lĩnh còn lại là những con đầu đàn không hoàn thiện; họ chỉ là những thủ lĩnh xuất sắc dưới sự điều khiển của một thủ lĩnh tối cao dày dạn và bao quát; do sinh trưởng từ một nền kinh tế tiểu nông phân tán, họ bộc lộ ngay sở đoản khi họ là thủ lĩnh độc lập; nhưng họ đã biết bổ sung cho nhau những ưu điểm và biết bọc lót cho nhau những khiếm khuyết của bản thân nên họ đã dẫn dắt được dân tộc này đi đến chiến thắng vinh quang trong cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược Việt Nam mà thế hệ chúng ta đã tham gia và chứng kiến. Điều đó có thể có được và đã xảy ra là do dân tộc Việt Nam, trong đó có những con đầu đàn ấy với ký ức cùng sự tự trải nghiệm sau gần một trăm năm sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và những năm sống dưới gót giày của phát xít Nhật, những năm tuy ngắn ngủi nhưng đã trả giá bằng hơn hai triệu người chết đói nên đã thấm thía hơn ai hết câu nói của Hồ Chí Minh: “Không có gì quí hơn độc lập tự do” nên đã quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”. Lúc ấy ai đi ngược xu thế lịch sử này sẽ bị lịch sử lên án và trào lưu lịch sử đó nhấn chìm. Thế hệ chúng ta – trong đó có anh, biểu hiện qua cái họ và cái tên Việt Nam mà anh đã tự đặt cho mình – đã thấm nhuần tư tưởng ấy nên đã tự giác đứng vào hàng ngũ chiến đấu do họ lãnh đạo. Chúng ta đã đi đầu, còn họ đứng trên đài chỉ huy, tuy rằng một số ít trong họ, nhưng ở cấp thấp hơn đã cùng chúng ta xông lên hàng đầu và đã cùng đồng đội của mình ngã xuống.
Thế nhưng,“Cuộc cách mạng nào cũng phải trả giá bằng một bước khi lực lượng lãnh đạo tiên phong đã nhảy lên nắm được quyền thống trị và chỉ còn nghĩ đến lợi ích của bè cánh mình, còn quần chúng cách mạng thì vì quá say sưa trong thành quả chung vừa giành được bỗng trắng tay vì những quyền cơ bản cho mình là sự bình đẳng, tự do bị các thiết chế mới ràng buộc và trở lại thân phận gần như cũ hoặc chỉ khác cũ về hình thức. Các phạm trù mới mẻ của đời sống tư tưởng xã hội mà cách mạng mang lại dần dần chỉ còn là cái vỏ xơ cứng được lợi dụng để vô hiệu hóa mục tiêu đích thực của cách mạng. Đó là tấn bi kịch không thể nào tránh được của ảo tưởng loài người trong nhiều thời đại mà thế kỷ XX là một sự bùng phát như một cao trào” (Boxitvn.net ngày 12/5/2010 – Lời nói đầu cho bài ”Suy nghĩ tản mạn của một độc giả về nhận xét của một nhà văn” đăng tải cùng ngày).
Sự không hoàn thiện của những con đầu đàn còn lại thể hiện một cách tập trung và điển hình ở tư duy và việc làm của họ sau chiến thắng, chứng tỏ họ không hề nắm bắt được cốt lõi của tư tưởng Cụ Hồ, đó là tính dân tộc, tính dân chủ và tính nhân văn xuyên suốt quá trình tư duy tư duy và hành động suốt đời của Cụ. Đất nước vừa mới được giải phóng xong thì bản hiến pháp đầu tiên của chế độ cộng hòa do Cụ Hồ với bao tâm huyết, bao kỳ vọng và sự từng trải của mình đã đích thân soạn thảo – bản hiến được đánh giá là tiến bộ nhất châu Á tính đến lúc bấy giờ, là kết tinh của kinh nghiệm và nỗi khát khao về một nền dân chủ của một dân tộc đã trải qua gần một trăm năm nô lệ, là sự thừa kế tri thức và tinh hoa của hai cuộc cách mạng tiêu biểu gần nhất của nhân loại – cách mạng giải phóng nước Mỹ năm 1776 và cách mạng Pháp năm 1789 – bản hiến pháp khẳng định nền pháp quyền và chế độ dân chủ đó đã bị các nhà cầm quyền của đất nước này xóa bỏ ngay tức thì để thay vào đó là một nền chuyên chính của chính đảng đang cầm quyền; quyền lực nhà nước không còn trong tay của nhân dân như người ta đã hứa trước đây nữa, nhân dân không còn là đối tượng được phục vụ và tôn thờ như trước đây nữa, nền dân chủ vừa mới manh nha đã bị xóa sổ. Ngay chính cái danh xưng Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam của cái chính đảng đã lãnh đạo cuộc chiến đấu và đưa dân tộc này đi đến thắng lợi cũng bị vội vã xóa bỏ như một cách phi tang. Bằng việc làm đó người ta đã nuốt hẳn lời hứa trước dân tộc này, mà trước hết là trước vong linh của hàng triệu triệu lớp người của bao thế hệ đã ngã xuống vì mục tiêu của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân – tức một nền dân chủ nhân dân – mục tiêu mà chính đảng đã lãnh đạo cuộc chiến đấu ấy hằng nêu cao và hứa hẹn. Việc hứa hẹn rồi nuốt lời này cũng có nghĩa rằng người nông dân Việt Nam sẽ không được tự do cày cuốc trên chính mảnh ruộng của mình sau khi đã làm xong vai trò của đội quân chủ lực và đồng minh chiến lược của “giai cấp tiên phong” trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vừa qua; điều đó cũng có nghĩa rằng các quyền cơ bản của công dân Việt Nam như tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài (điều thứ 10), quyền tư hữu tài sản của công dân, quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay (điều thứ 12 và 13) và các quyền tự do khác sẽ không được bảo đảm như bản hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã long trọng ghi rõ, mà sẽ tùy vào ý chí và lợi ích của đảng cầm quyền, thực chất là của tập đoàn đang cầm quyền. Xã hội Việt Nam cho đến nay chưa từng trải qua bất cứ một nền dân chủ nào. Giấc mơ và nỗi khát khao về một nền dân chủ của một dân tộc đã hàng ngàn năm quằn quại dưới ách chuyên chế phong kiến, hàng trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân tưởng đã được thắp sáng và bùng lên dưới nhãn quan của Cụ Hồ thì đến đây bị chấm dứt; chấm dứt bởi ý chí thiển cận, mù quáng và cực đoan của những con đầu đàn “không hoàn thiện”, những người đã lãnh đạo cuộc chiến đấu cách mạng sau Cụ Hồ, nhưng lại tự xưng là học trò và người tiếp nối trung thành của Cụ. Đối với Cụ họ còn một khoảng cách biệt rất xa so với chiều cao vời vợi, chiểu sâu thăm thẳm và chiều rộng bao la về tư tưởng và nhân cách của Cụ.
Cụ Hồ là đỉnh cao của trí tuệ và đạo đức Việt Nam, những học trò của Người ai có tâm hồn cao thượng, vì dân, vì nước quên mình, ai khiêm tốn và luôn có ý thức tu dưỡng thì còn mang được âm hưởng và dáng dấp của Người, ai là người kiêu căng, tự mãn, thiếu sự tu dưỡng bản thân và lòng mang đầy tham vọng thì dù người ấy có ở địa vị cao nhất, được coi là có công trạng lớn nhất đối với xã hội và tự đắc coi mình là học trò xuất sắc nhất của Người thì chỉ là một sự mạo nhận hợm hĩnh và lố bịch.
Sự không hoàn thiện, hay cũng chính là sự ấu trĩ của cái ê-kíp lãnh đạo sau Cụ Hồ chính ở chỗ đã đồng thuận không hề có phản biện về chủ trương xóa bỏ hiến pháp 1946, bản hiến pháp đầu tiên của nền cộng hòa đầu tiên của đất nước, bản hiến pháp xác lập nền tảng cơ bản cho một nhà nước pháp quyền, một nền dân chủ nhân dân và bình đẳng cho xã hội.
Bằng việc làm đó người ta đã cướp đi thành quả cách mạng từ tay quần chúng; quần chúng đã trắng tay theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. “… thế là quần chúng cách mạng đã bị phản bội bởi chính những lãnh tụ mà mình hằng yêu quí và ngưỡng mộ” (“Suy nghĩ tản mạn…”, bài đã dẫn).
Tất cả chúng ta, tức quần chúng cách mạng và tuyệt đại bộ phận cán bộ cách mạng lúc đó vì ngây ngất trước nền độc lập và tự do vừa mới giành được, cũng như một số quyền lợi xã hội và dân sinh được mở rộng hơn so với thời thực dân, phong kiến và thời kỳ chiến tranh trước đây, khổ thân thay cho một dân tộc chưa hề được biết thế nào là dân chủ cho nên đã lấy đó làm thỏa mãn và không hề ngờ vực rằng chính các lãnh tụ mà mình hằng ngưỡng mộ và phó thác niềm tin lại có thể phản bội đồng bào, đồng chí, phản bội dân tộc của mình? Nếu lúc ấy họ chưa phản bội thì chính tham vọng và những việc làm mù quáng kế tiếp của họ sau đó đã tạo mầm móng cho sự phản bội đang manh nha ấy trở thành sự thật mà hiện nay ta đang chứng kiến.
Theo định luật về di truyền của Gregor Mendel thì thế hệ F2 (thứ 2) đã không mang đầy đủ trong người các yếu tố cơ bản của bố mẹ rồi, nói gì đến thế hệ F3, F4. Xin mạn phép các lớp người thuộc thế hệ tiền cách mạng và trước đó nữa – tính theo mốc thời gian của cuộc cách mạng tháng Tám 1945 – không có thế hệ này thì không có các thế hệ cách mạng tiếp theo, nhưng để cho dễ tính tôi tạm gọi thế hệ tham gia đầy đủ cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là thế hệ thứ 1, thế hệ chống Mỹ là thế hệ thứ 2, con em của thế hệ thứ 2 là thế hệ thứ 3, thứ 4. Thế hệ đang cầm quyền hiện nay đã là thế hệ thứ 3, thứ 4 rồi, trong đó còn loáng thoáng bóng dáng của thế hệ thứ 2 chống Mỹ, nhưng những người này lại được tuyển chọn thông qua chiêu bài đường lối giai cấp, một đường lối mà dựa vào đấy người ta đã loại trừ dần những người có tri thức, được đào tạo bài bản một cách chuyên nghiệp thuộc các tầng lớp trên và những người có bản lĩnh và quan điểm độc lập, tức những người trung trực và thẳng thắn. Thay vào đó là những người không có tri thức, không có năng lực mà chỉ cần biết nói hay và ngoan ngoãn, dễ bảo nhất; bởi vì những người lãnh đạo đất nước lúc ấy cần được ủng hộ và được yên tâm thấy mình được ủng hộ sau việc làm lật lọng đầy khuất tất của họ. Sau đó lớp người được tuyển chọn này qua chiêu bài ưu tiên nữ giới và lớp trẻ có học vấn lại tuyển chọn bổ sung những người biết nịnh nọt, biết luồn lọt và biết trả giá cao nhất cho cái ghế quyền lực mà họ được ngồi với những tấm bằng cấp và học vị giả mạo. Nếu với động cơ công tâm vì dân, vì nước thì chiêu bài ấy sẽ là một phương châm tuyệt vời để xây dựng đội ngũ và qui tụ hiền tài, nhưng với ý đồ đen tối của họ thì sau gần nửa thế kỷ chọn lọc và kế thừa theo kiểu ấy, có thể nói thế hệ cầm quyền hiện nay không còn là thế hệ mang phẩm chất của lớp người đã trực tiếp đưa đất nước này, dân tộc này đến đài vinh quang một thời mà chúng tôi và cá nhân anh đã có vinh hạnh tham gia và đóng góp. Qua đó lớp người thừa kế này đã thành công – dù là vô tình hay cố ý – trong việc tạo nên một lớp người lãnh đạo và một lớp trí thức không đủ bản lĩnh, chỉ biết “ăn theo, nói leo”, xu nịnh và cam chịu. Có gì là lạ khi cả một lớp người lãnh đạo – kể cả một bộ phận không nhỏ trong tầng lớp được gọi là trí thức đang ở ghế lãnh đạo – chỉ biết luồn cúi, nịnh nọt và mua quan bán tước để trục lợi ấy lại nịnh nọt, luồn cúi thế lực ngoại bang để giữ chặt cái ghế quyền lực mà họ đã mua với giá rất đắt, trong khi đó thì khúm núm, xu nịnh, vụ lợi, hèn nhát và vô cảm trước nỗi đau của con người và vận mạng của đất nước cũng chính là tính cách và bản chất của họ?
Người xưa có nói: Chỉ có chỉ huy tồi, không có binh lính tồi. Theo tinh thần đó thì chỉ có những lãnh đạo tồi chứ không có nhân dân tồi; còn làm gì được khi người dân không có một tấc sắt trong tay, lẫn không có quyền được nói và được biểu lộ tình yêu nước của mình. Bản lĩnh và phẩm chất của những con đầu đàn như thế làm sao cả đàn dũng cảm xông lên được?
Trong khi những hành động của quần chúng phản đối nước ngoài xâm chiếm lãnh hải, lãnh thổ của Tổ quốc thì bị chính quyền đàn áp, cấm đoán, truy tố. Ngược lại, những hành động tiếp tay cho người nước ngoài xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt nam để họ chiếm đất và chiếm tài nguyên, chiếm các vị trí xung yếu Việt Nam như cảng biển, đất biên giới, rừng đầu nguồn một cách lâu dài, tệ hại hơn họ còn dùng cả phương tiện của đảng và bộ máy cầm quyền để nói hộ và tuyên truyền thay cho quan điểm xâm lược của ngoại bang thì lại được nhà nước làm ngơ như một cách dung túng và ngầm cổ vũ.
Những biểu hiện ấy của các thế lực cầm quyền hiện nay khiến người ta không thể không nghĩ đến việc đất nước này đang bị bán đứng cho ngoại bang, bán đứng một cách công khai mang tính tập thể bởi chính những người đang điều hành đất nước; hoặc chí ít thì cũng có cảm tưởng rằng các phần tử manh tâm bán nước đang giữ vai trò chi phối và quyết định trong các tổ chức cao nhất của bộ máy nhà nước và trong các thế lực cao nhất đang cầm quyền.
Trước thực tế khách quan ấy, thử hỏi còn có một nghi vấn nào khác hơn và chính xác hơn?
Sự nhẹ dạ và ấu trĩ của chúng ta sau ngày giải phóng 1975 đã dẫn đến việc chúng ta đánh mất nền pháp quyền và nền dân chủ vừa mới manh nha mà toàn dân ta đã đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ mới có được.
Sự thụ động và tê liệt cảnh giác trước hiểm họa đang chờ đón chúng ta và những mầm mống phản trắc đang sinh sôi và lan rộng trong nền chính trị xã hội hiện nay có lẽ sẽ dẫn đến việc chúng ta còn đánh mất cả nền độc lập và tự do quí giá mà toàn dân ta đã đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ mới có được. Kinh nghiệm của hơn 1000 năm Bắc thuộc vẫn còn đó. Sự Hán hóa nhanh chóng mang tính diệt chủng của các dân tộc Mãn Thanh, Tân cương, Tây Tạng vẫn sờ sờ ra đó. Họa diệt vong là một nguy cơ là có thật, nếu chúng ta không hành động và không biết cách hành động.
Tuy rằng Ban Biên tập BVN có nhận định:“… dù chậm hay mau, cuối cùng thì thế nào tự chính con người cũng tìm được giải pháp để cứu gỡ, đưa lịch sử trở lại vào đúng quỹ đạo hằng thường của nó…“, nhưng lịch sử đã chứng minh rằng, độc lập tự do cho con người và nền dân chủ của xã hội chưa bao giờ được biếu không cho bất cứ một dân tộc và một xã hội nào, nếu dân tộc và xã hội đó không dám đấu tranh, không dám hi sinh để tự giành giật cho mình những thứ đó.
Chẳng lẽ đất nước này đã đến hội mạt vận? Chẳng lẽ giới trí thức trong và ngoài nước vẫn mãi thờ ơ đứng nhìn? Tôi không tin! Sẽ có triệu triệu tiếng nói cất lên với những hành động cần thiết đi kèm của đồng bào các giới và các tầng lớp vì vận mệnh của đất nước!
Mấy điều tâm sự như một cách phản hồi về bài viết “Từ biển khơi, những nghi ngại cùng những điều xác tín” của anh.
Thân thiết xiết chặt tay anh!
Hoàng Giang
© 2010 Hoàng Giang
© 2010 talawas
Bình luận
Không có bình luận (bài “Hoàng Giang – Trao đổi với André Menras Hồ Cương Quyết”)