Liêu Thái – Hòa hợp hòa giải hay là hòa giải hòa hợp?
04/05/2010 | 11:00 sáng | 15 Comments
Category: Chính trị - Xã hội, Hòa giải hòa hợp dân tộc
Lề thói chung
Trong một bối cảnh và chừng mực nào đó, người ta có thể dễ dàng ngồi vào bàn nói chuyện, bắt tay nhau, nói cười vui vẻ, có thể mời nhau một hay nhiều bữa ăn, có thể tạo những cú áp phe cùng chia lợi lộc và có thể cùng hợp tác làm nhiều thứ, ngoại trừ một việc duy nhất không hề dễ dàng và có thể nói là vô cùng khó, thậm chí ở một số trường hợp rơi vào bất khả thể! Đó là việc xóa đi những vết thương, đặc biệt là vết thương trong tâm thức…
Điều này không dễ gì làm được! Mà một khi chưa làm được thì chuyện hòa giải hòa hợp chỉ là nói cho vui, nói lấp liếm, nói thay cho một khái niệm nào đó như áp phe chính trị, áp phe kinh tế, chia sẻ lợi lộc… chẳng hạn. Vì lẽ những vết thương không đơn giản chỉ là vết đau nào đó đã thành sẹo, đã thuộc về quá khứ mà còn mang tính chất giao thoa giữa bề dày quá khứ với hiện tại, giữa lịch sử với hiện thực đời sống trải qua trước mắt và không ngừng tác động đến con người mỗi ngày, không ngừng kích hoạt theo chiều bổ sung hiện thực vào quá khứ và xung động ngược từ quá khứ trở về hiện tại… Tạo nên nếp gấp tâm lý…
Khi nói về hòa giải hòa hợp, có lẽ cũng nên tách khái niệm này thành hai phần hòa giải và hòa hợp.
Làm thế nào để hòa giải một khi những vết thương của lịch sử vẫn còn mưng đau? Vẫn còn làm người ta trằn trọc, trăn trở?
Hiện trạng
– Những ngôi mộ chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa vẫn còn nằm rải rác cỏ mọc hoang vu, đầu ngày cuối tháng không người nhang khói.
– Những câu chuyện về những cái chết của người chiến sĩ cộng sản vẫn còn “hùng hồn tố cáo tội ác” phía đối phương trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
– Những thương binh quân đội Việt Nam Cộng hòa vẫn còn lủi thủi, bữa no bữa đói, nhà cửa rách nát, sống trong mặc cảm và tương lai khép chặt cánh cửa kể từ thời khắc 30-4-1975.
– Những bà mẹ chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa sống trong nhẫn nhục, sợ hãi và lo âu, thấp cổ bé họng, cô độc và buồn tủi.
– Những đứa con của giới công chức, chiến binh Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa hết hãi hùng vì sự phân biệt trong lý lịch, nhân thân… mà lẽ ra được học đại học, được làm văn phòng thì bây giờ họ phải đi cuốc đất, chăn nuôi, lao động phổ thông, thợ hồ hoặc may lắm thì buôn bán… Tương lai họ [đã] được qui định bởi chế định và mặc cảm không đáng có.
– Những tượng đài thuyền nhân bị đập phá, dường như họ bị tước đoạt giá trị con người sau khi họ phó thác đời sống mình cho biển cả trong cuộc trốn chạy hoặc đi tìm chân trời mới.
– Những buổi phát chẩn, tặng quà bị chặn đứng, quấy rối bởi đối tượng nhận quà là các chiến sĩ, thương bệnh binh của chế độ Việt Nam Cộng hòa, gần đây nhất là vụ Hòa thượng Thích Không Tánh bị “người ta” hành hung, bắt bớ vì đã kết hợp với bác sĩ Hiển mời cơm, phát quà cho các thương binh chế độ cũ…
– Những blogger có thể bị bắt bất kể lúc nào vì họ lên tiếng kêu gọi, bảo vệ dân chủ, nhân quyền, bảo vệ tự do và quyền lợi quốc gia về mặt lãnh thổ, lãnh hải…
– Những vụ tham nhũng mà trong đó phần lớn các cán bộ cộng sản dính chàm hoặc trực tiếp gây ra.
– Những vụ kiện cáo về chất độc màu da cam vẫn chưa chấm dứt.
– Những căn nhà của các thuyền nhân, của những người thuộc chế độ Việt Nam Cộng hòa bị tịch thu, một khối lượng tài sản lớn của nhân dân bị tịch thu sau biến cố 1975 vẫn chưa được hoàn trả, thậm chí không được nhắc đến, xem như đó là một “rủi ro lịch sử”!
– Một đại hội Việt kiều chỉ lấy lòng được vài người và chẳng đạt được sự đồng thuận nào trong giới Việt kiều hải ngoại.
– Nền giáo dục vẫn chưa thoát ra khỏi di chứng chiến tranh, vẫn chưa cởi mở trên tinh thần khoa học, còn nặng nề chủ nghĩa, nặng tính giáo điều chính trị và mang một vết hằn của tính chiến đấu mà lẽ ra phải được thay đổi, khai phóng từ rất lâu để thay vào đó một nền giáo dục nhân bản, khoa học và sáng tạo.
– Và còn nhiều vấn đề tế nhị và nhạy cảm khác…
Như vậy, để hòa giải, cả hai phía đều cần đạt được những câu trả lời, chí ít là:
– Làm thế nào để người Việt Nam có cái nhìn viên dung, không phân biệt trước cái chết, mộ của chiến sĩ phía nào cũng được nhang khói, cũng được đời sau thực hiện nghĩa cử: nghĩa tử là nghĩa tận.
– Những câu chuyện về cái chết của các chiến sĩ cộng sản phải được đặt dưới một cái nhìn không có tính tuyên truyền và kích động phân rẽ.
– Làm thế nào để hóa giải những hận thù hay mặc cảm trong sâu thẳm tâm hồn của những người con một dân tộc đã trải qua nhiều máu và khói lửa chiến tranh, để họ tìm thấy được sự bình an, để họ được nguôi ngoai vết thương cũ, để họ thấy mình cũng được chia sẻ, cảm thông và đón nhận sự yêu thương của cộng đồng, của xã hội trên cơ sở những phúc lợi xã hội, những chế độ ưu tiên và sự trợ giúp từ phía chính phủ hiện thời. Để họ tin rằng mình đang sống trong một xã hội đại đồng, không thù hận và không phân biệt…
– Làm thế nào để những người mẹ, dù ở phía nào cũng cảm thấy ấm lòng vì mình đang sống trên quê hương Việt Nam, mình là người Việt Nam. Không có lý do gì để những người mẹ đã trải qua đau khổ, mất mát bởi chiến tranh lại tiếp tục sống trong tủi khổ vì sự phân biệt mang dáng dấp hậu chiến tranh. Làm thế nào để những người mẹ thôi lo lắng về cái ăn cái mặc lúc tuổi già và đời sống Việt Nam không còn nghe những thông tin về tham nhũng, tham ô, móc ngoặc… (Mà những khoản tiền ấy có thể giải quyết rất tốt cho việc đảm bảo an sinh cho những người mẹ đang khốn khó, bệnh tật…)
– Làm thế nào để thế hệ con cái của các quan chức, người trong quân đội Việt Nam Cộng hòa xóa đi vết thương chế độ đã ăn sâu trong tâm hồn họ và thấy rằng mình đang sống trong một quốc gia có tự do, dân chủ, văn minh, công bằng và nhân đạo…
– Làm thế nào để những người không may có người thân tử nạn trên biển khơi, có người thân bị mất tích trong cuộc ra đi sau 1975 thấy được rằng mình cũng được chính quyền Việt Nam đối xử như một con người, cũng được trân trọng và chia sẻ trước nỗi mất mát, cũng được trân trọng trong vấn đề thờ phụng, tưởng tiếc…
– Làm thế nào để những buổi phát chẩn, những buổi tặng quà nhân danh con người với con người, nhân danh lòng yêu thương cảm thông hay nhân danh tôn giáo được diễn ra với đúng ý nghĩa của nó, được diễn ra với sự che chở, bảo bọc của chính quyền… Để cả người tặng quà và người nhận quà có được cảm giác an toàn, ấn tượng tốt về thể chế mình đang sống.
– Làm thế nào để những blogger đấu tranh cho dân chủ, hòa bình, độc lập, chủ quyền đất nước thấy rằng mình đang sống trong một xã hội mở, tiến bộ, văn minh và không bất an, không còn phải bất mãn.
– Làm thế nào để nhân dân tin rằng những đồng thuế của mình là có ý nghĩa xây dựng quốc gia, có ý nghĩa gây quĩ phúc lợi xã hội và quĩ an ninh quốc phòng chứ không phải là mình bán mặt cho đất bán lưng cho trời, đóng thuế để rồi mồ hôi, xương máu của mình rơi vào tay kẻ tham, rơi vào tay kẻ xấu và vô hình trung những đồng tiền xương máu của nhân dân lại hóa thành chất xúc tác cho tội lỗi và cái ác.
– Làm thế nào để tất cả nạn nhân chất độc màu da cam được chia sẻ, được yêu thương, đùm bọc của cộng đồng chứ không phải là đối tượng của một cuộc kiện tụng hay là tránh né (của cả hai phía) một cách vô nghĩa.
– Làm thế nào để những người mất nhà, mất đất, mất tài sản được phục hồi tư cách pháp nhân của họ trên cơ sở họ được sở hữu hoàn toàn những tài sản mà họ đã bỏ mồ hôi, trí tuệ và sức khỏe làm ra, để họ thấy rằng mình đang sống hoặc đang trở về một đất nước, một quê hương tiến bộ, văn minh và có tự do, dân chủ. Hoặc chí ít cũng có một sự đền bù thỏa đáng khi không còn lựa chọn nào khác!
– Làm thế nào để giới Việt kiều hải ngoại nhận thấy đã đến lúc mình đi và về quê hương tự do, mình có thể chung tay đóng góp xây dựng quê hương một cách mỹ mãn nhân danh lòng yêu nước, nhân danh tự do, nhân danh dân tộc Việt Nam, nhân danh lòng yêu chuộng hòa bình và tình yêu thương giữa con người với con người chứ không phải là một cuộc trở về mắc mứu trong những lựa chọn có tính cá thể liên quan đến quyền lợi kinh tế cá thể và tính áp phe chính trị…
– Làm thế nào để nền giáo dục được thay đổi, đậm tính nhân văn, khoa học và sáng tạo, có những thế hệ học sinh tử tế, để những “hiện trạng học đường” không tái diễn và để người ta tin tưởng vào tương lai vì lẽ mình là người được ăn học, có giáo dục…
– Và làm sao để những vấn đề khác có liên quan đến nhân quyền, dân chủ, nhân sinh, khoa học, văn minh và tự do tôn giáo… Được giải quyết một cách thỏa đáng trên tinh thần tôn trọng con người và những giá trị (vật chất cũng như tinh thần) của khái niệm này trên mọi nghĩa.
Nếu trả lời thỏa đáng những mắc mứu này, tiến trình hòa giải mới có cơ may được giải quyết suôn sẻ, mới hóa giải được những vết thương lịch sử và xoa dịu những vết thương tâm hồn trong mỗi người. Giúp mạnh bước trong việc hòa giải cũng như cổ xúy cho tiến trình này. Trường hợp ngược lại, hòa giải hòa hợp chỉ là một truyện kể khôi hài, vô lối và nếu có chăng cũng chỉ là trò lừa mị chính mình và mị nhau vì một số quyền lợi lẻ tẻ, mang tính cá thể hoặc chỉ là trò đánh tráo khái niệm, thay vì nói áp phe kinh tế, áp phe chính trị, người ta lại nói nghe cho sang ra một chút là hòa giải, hòa hợp… Nhằm mục đích hợp thức hóa những ham muốn, những thèm thuồng tư lợi… Không hơn không kém!
Và một khi tiến trình hòa giải được giải quyết ổn thỏa thì việc hòa hợp là khả năng trong tầm tay, lúc đó người ta sẽ ngồi lại nói chuyện với nhau một cách thiện chí, nhân danh lòng yêu thương con người, yêu thương tiếng Việt, yêu thương dân tộc, yêu thương quê cha đất tổ, yêu thương đất nước… Người ta sẽ trải lòng mình ra trước tương lai, vì tương lai.
Hòa giải? Niềm tin nào?
Có thể những vấn đề trên đây không thể thực hiện ngày một ngày hai mà xong, người ta phải căn cứ vào những cái đạt được trong quá khứ, trong hiện tại để hoạch định về phía tương lai, vạch ra một lối đi tốt… Nhưng không thể dựa trên những cơ sở thiếu sát thực, dựa trên những lời hứa suông, dựa trên những kế hoạch ma để làm cơ sở cùng nhau hướng đến tương lai… Trong tình trạng hiện tại còn chưa trả lời được gì thì có thể vẫn còn có một thứ khiến người ta mạnh bước trong tiến trình hòa giải dân tộc, đó là: Niềm Tin!
Thử đặt lại vấn đề cho cả hai phía, liệu có gì để tin nhau trong bối cảnh hiện nay?
Về phía người Việt ở hải ngoại:
– Vẫn có những cuộc “trở về” của Trần Văn Bá, các “anh hùng rừng lá thấp”.
– Những cuộc biểu tình trên các đường phố Mĩ quốc phản đối những cuộc thăm viếng của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
– Những trang web của người Việt ở hải ngoại vạch trần (thậm chí có một số trang, bài còn đả phá, bất mãn và ít nhiều bày tỏ hận thù sâu xa với chính quyền cộng sản Việt Nam) những sai trái của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng thái độ căng thẳng.
– Những người Việt ở hải ngoại vẫn chưa muốn trở về Việt Nam vì họ không tin tưởng vào chính quyền hiện thời và trong tâm hồn họ chất nặng những vết thương quá lớn của quá khứ… (Trường hợp nghệ sĩ Khánh Ly là một ví dụ điển hình).
– Thế hệ trẻ sinh ra trên nước Mĩ còn mơ hồ về Việt Nam vì họ ít có cơ hội về thăm và làm việc với giới trẻ trong nước vì nhiều lý do (ngoại trừ một số ít sinh viên hải ngoại có dịp tiếp xúc với giới trẻ trong nước thông qua những kênh khác, không phải do chính quyền tổ chức) khác nhau.
Về phía nhà nước Việt Nam:
– Nạn tham nhũng vẫn đang còn hoành hoành khắp nơi, người dân mất lòng tin vào nhà nước.
– Chính sách đãi ngộ cho những thương bệnh binh thời Việt Nam Cộng hòa không hề có, họ sống lay lất, khó khăn…
– Nạn cửa quyền, tham ô, móc ngoặc vẫn còn là bài toán hóc búa của Việt Nam.
– Nạn ăn xén phần quà cứu trợ sau mỗi trận thiên tai vẫn còn diễn ra vào những trận lũ gần đây nhất, người dân vẫn chưa hết chán chường trước hành động vô sỉ của lớp cán bộ địa phương.
– Những người già, em bé nằm ngủ co ro trên cầu, dưới hiên lạnh trong đêm Giáng sinh, trong những ngày Tết dân tộc và dường như mọi nơi, mọi lúc đều còn nhìn thấy hình ảnh này.
– Nạn phá rừng, chiếm dụng đất rừng làm của tư, trang trại, gây tổn thương lá phổi thiên nhiên vẫn chưa được giải quyết triệt để, thậm chí vẫn còn diễn ra đâu đó trên đất nước.
– Những trận lũ kéo qua Trung phần Việt Nam khiến cho nhà dân hư hại, nhiều người rơi vào cảnh thiếu ăn, màn trời chiếu đất. Mà gần đây là do sự điều tiết thiếu khoa học của ngành thủy điện – một ngành được xem là mũi nhọn của kinh tế Việt Nam.
– Những em bé lang thang bán vé số khắp các thành phố Việt Nam. Lẽ ra ở độ tuổi của chúng phải được ăn no, mặc ấm, đến trường, vui học vui chơi cùng bạn bè đồng lứa.
– Những ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ đang lâm vào nợ nần một phần do thiên tai, phần khác do bị tàu Trung Quốc bắt giữ, đòi tiền chuộc… Trắng tay!
– Những giáo đường, miếu mộ bị đập phá không thương tiếc (trước đây), tạo ra vết thương tâm linh cho cộng đồng. Và những thánh đường, những trung tâm tôn giáo bị chính quyền tịch thu vẫn chưa được hoàn trả (bây giờ).
– Những nhân vật đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, lãnh thổ lãnh hải quốc gia trước thế lực bành trướng Trung Quốc vẫn còn được/bị xếp vào diện phản động. Người Trung Quốc vẫn xuất hiện ngày càng nhiều trên lãnh thổ Việt Nam trong lúc người dân hoàn toàn không tin tưởng vào thiện chí của họ.
– Tệ nạn học đường, sự tha hóa của cán bộ giáo dục vẫn đang trên đà tiến triển, chưa có tín hiệu nào cho thấy sự chặn đứng hay chấm dứt, nạn bằng giả, điểm ảo, nạn hiệu trưởng, giáo viên chèn ép học sinh (gần đây nhất là vụ hiệu trưởng Sầm Đức Xương bắt học trò phải đi phục vụ tình dục cho các “sếp”).
Với những gì nêu trên đây, cho thấy về cả hai phía đều chưa có đủ cơ sở để có niềm tin với nhau, để ngồi vào bàn nói chuyện một cách thân thiện, cởi mở, để nhìn nhận vấn đề bằng con mắt không định kiến, không chấp thủ. Để tìm ra một tiếng nói chung cho công cuộc hòa giải dân tộc – một công cuộc cần thiết nhưng chất nặng máu và nước mắt cũng như tâm huyết, tri thức và trí lực.
Một khi không có được niềm tin, không có được sự cảm phục với nhau, người ta khó có thể đứng chung trên một tuyến, khó có thể ngồi chung trên một thuyền, thậm chí khó có thể đứng chung dưới một vòm trời!
Có lẽ cũng nên tìm ra một “vùng giao thoa” nào đó chăng? Vậy vùng giao thoa đó nằm ở đâu?
Nhìn lại suốt một quá trình dài lịch sử, người Việt có một điểm chung là yêu nước, ghét kẻ bán nước và sẵn sàng hy sinh bản thân để bảo vệ chủ quyền đất nước. Có lẽ đây là vùng giao thoa có thể nhìn thấy được, bước vào được!
Nhưng, lòng yêu nước tùy thuộc vào định nghĩa của cá nhân, phe nhóm và đảng phái. Trong một chừng mực nào đó, sự thao túng quyền lực, sự bảo thủ chính kiến, bảo toàn quyền lợi phe nhóm được/bị đồng nhất với lòng yêu nước, với chủ quyền quốc gia. Và trong trường hợp này rất khó để tạo ra tiếng nói chung, tạo ra vùng giao thoa giữa các bên có chính kiến, chủ trương khác nhau, quyền lợi khác nhau… Và chuyện hòa giải chắc chắn sẽ đi vào bế tắc hoặc giả tá.
Chính vì lẽ đó, việc chọn lựa một thái độ để giải trừ kiến chấp cá nhân, phe nhóm, đảng phái để tìm ra vùng giao thoa là chuyện hi hữu, khó mà thực hiện, trừ khi người ta có một động cơ, sức mạnh khác vượt lên trên những quyền lợi và định kiến vừa nêu trên thì mới có cơ may đạt được không khí hòa giải, tạo ra được bầu khí quyển cần có cho Việt Nam – một bầu khí quyển dân chủ, tự do và rộng lượng.
Thử đặt lại vấn đề dùng chữ: Hòa giải hòa hợp hay là hòa hợp hòa giải?
Theo thiển ý của người viết bài này, việc đặt chữ nghĩa không hẳn là quyết định toàn cục nhưng lại vô cùng quan trọng, nó biểu trưng cho phần ý niệm, bản chất bên trong, nó đảm bảo cho độ chính xác của sự kiện.
Trong tình trạng Việt Nam hiện nay, quan hệ giữa người Việt trong nước với người Việt hải ngoại, giữa chính quyền cộng sản Việt Nam với một tập hợp trí thức, dân chủ đa nguyên lưu vong từ sau mốc lịch sử 30/4/1975 là một loại quan hệ đa phức, có bạn có thù, có tự mãn có mặc cảm, có điểm chung và có cả định kiến, cố chấp, bảo thủ… Rất khó mà hòa hợp với nhau được. Muốn hòa hợp, việc trước tiên người ta phải giải trừ được tất cả những gì còn mắc mứu, còn “kẹt bi”.
Muốn đạt được như vậy, trước nhất, người ta phải biết tự hòa giải với mình trước khi hòa giải với đối tác, và phải có ý thức mở ra một cuộc hòa giải đích thực dựa trên cơ sở tìm vận hội mới cho Việt Nam – một vận hội tiến bộ, dân chủ, văn minh và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải quốc gia trên tiến trình nhân loại.
Sau khi hoàn tất cuộc hòa giải này, tự khắc sẽ có cuộc hòa hợp. Hòa hợp chỉ đến khi nào người ta đã hóa giải được mọi thù hận, định kiến và nợ nần! Chính vì lẽ đó, trong lựa chọn chữ nghĩa, cũng nên đặt hòa hợp nằm sau hòa giải.
Thay lời kết
Và một khi, mỗi bên tự trả lời liệu mình có thể cởi bỏ tất cả được chưa? Liệu mình và đối tác có thật sự muốn hòa giải trên tinh thần không vụ lợi, vì cái chung của tiến bộ, văn minh và bảo toàn dân tộc, quốc gia hay chưa… thì tiến trình hòa giải mới có thể bắt đầu, khởi sự và hứa hẹn chung cục tốt đẹp được!
Bằng không thì mọi kêu gọi, mọi chủ trương chỉ có tính hình thức, giả tá và trí trá nhau. Mà không có sự giả dối, trí trá, ích kỉ nào có thể mang lại chung cục tốt đẹp được!
Câu trả lời nằm trong tư tưởng mỗi người, mỗi nhóm, mỗi thế hệ, mỗi tập hợp trí thức… Nằm trong vùng giao thoa giữa lịch sử và hiện tại, giữa vết thương và lời hứa hẹn, giữa sách lược và nhân tâm, giữa quyền lợi tối thiểu của cá nhân và nền văn minh của một dân tộc, một đất nước. Và, là một người Việt Nam, tôi cũng mong muốn một tương lai Việt Nam hòa bình, ổn định, dân chủ, tiến bộ và con người nói chuyện với nhau bằng lòng yêu thương, bằng sự tôn trọng tri thức và bằng cả trắc ẩn của máu tim đồng loại!
© 2010 Liêu Thái
© 2010 talawas
Bình luận
15 Comments (bài “Liêu Thái – Hòa hợp hòa giải hay là hòa giải hòa hợp?”)
@nguyen mai linh
Dĩ nhiên có nhiều cách để đi đến giảng hoà. Cách của bạn cũng rất hay, nhưng tôi không nghĩ là sẽ chạy vì đốt giai đoạn nhanh quá. Người CS sẽ cười và bảo bạn đang mơ. Cách của “tôi” không đánh phá chế độ đang có mà trái lại giúp chế độ này tháo gỡ dần những sai lầm của họ.
Trích từ bài của bác Tri Ngộ
[Phải lập một Hội Đồng Tối Cao Lo Việc Giảng Hoà (Conseil Suprême pour la Reconciliation) trong đó nhà nước mời Liên Hiệp Quốc hoặc các nước có uy tín giúp. Hội Đồng này sẽ phải có những thành viên của cả hai bên đã từng đánh nhau, sẽ có những tướng của VNCH còn sống ở hải ngoại, sẽ có những tướng của VNDCCH còn sống trong nước, có các Thầy tu chân chính, có các linh mục đạo Chúa chân chính, có thân hào nhân sĩ trong nước và hải ngoại do các Cộng Đồng VN ở hải ngoại đề nghị]
Tôi đọc đoạn này, thấy rối rắm, phức tạp quá, lại mất thì giờ đi chọn người uy tín cho việc giải hoà này quá. Nào là tướng VNCH, VNCS (?), thầy tu, linh mục(?), thân hào nhân sĩ(?).
Theo tôi, giải pháp theo như đề nghị của bác Lê Quốc Trinh (Canada) là gọn, đơn giản và nhanh nhất có thể là: Bầu cử Tự do dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc như Cam Bốt đã làm, mọi người dân trên 18 tuổi được đi bầu, tự do lựa chọn người đại diện cho mình, không kể tôn giáo, đảng phái, trong hay ngoài nước (miễn là người Việt). Theo thiển nghĩ của tôi, người được dân giao phó trách nhiệm sẽ đủ uy tín để đứng ra hoà giải dân tộc và phát triển đất nước.
Một khi nêu lên nhu cầu cần “hòa hợp, hòa giải dân tộc” thì có nghĩa ta mặc định rằng đang có những xung đột diễn ra giữa các nhóm người trong lòng dân tộc đó. Tuy nhiên, tôi nhận thấy thực tế không có hiện tượng ấy trong lòng dân tộc Việt xuất phát từ cuộc chiến cách đây 35 năm. Có chăng là sự xung đột của người trong nước với chính quyền. Việc đồng bào hải ngoại có xung đột thì cũng không phải với cộng đồng trong nước mà cũng là với chính quyền nhằm mục đích chủ yếu bênh vực người dân trong nước khi họ phải đối diện với một chính thể độc tài. Theo tôi, hiện tượng xung đột ngỡ là cần hòa giải hòa hợp thì chính nó thể hiện sự liên đới, đoàn kết của cộng động người Việt trong và ngoài nước. Biết đâu hiện tượng này theo thời gian, nhờ phương tiện truyền thông kết nối sẽ giúp cho người Việt hiểu biết lẫn nhau, xích lại gần nhau hơn ngõ hầu bù đắp lại những mất mát đau thương trong một chặng lịch sử đã qua.
Bạn Liêu Thái mến,
Hôm qua vì quá bận tôi đã trả lời bạn vội vàng và chỉ đưa thông tin ngắn gọn về nguồn gốc bài của tác giả Vũ Trí nhưng không nói thêm về cảm nghĩ của tôi về bài viết rất hay của chính bạn. Đây là một điều thiếu sót về phần tôi. Tôi thành thật xin lỗi bạn.
Thật ra, bài của bạn mang nhiều tâm tình đáng quý trọng của một người Việt trăn trở trước nỗi đau của dân tộc đang phân hóa chia rẽ cùng cực. Tôi chia sẻ hoàn toàn với TẤT CẢ những nhận định của bạn trong bài. Ý kiến tách cụm từ “hòa hợp hòa giải” ra thành hai phần “hòa giải” và “hòa hợp” và chủ trương phải hòa giải TRƯỚC khi hòa hợp rõ ràng là ý kiến của chính bạn, tuy nó đã được tác giả Vũ Trí bàn đến trước đây vào năm 1999. Bất cứ ai đọc hai bài của ông Vũ Trí và của bạn đều thấy rõ là chúng hoàn toàn ĐỘC LẬP, không hề có việc vay mượn hay ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy cùng chủ trương phải hòa giải trước mới hòa hợp được, nhưng mục tiêu và cách nhìn vấn đề của bạn và ông Vũ Trí hoàn toàn khác hẳn nhau. Mặc dù cá nhân tôi ủng hộ những lời kêu gọi trong bài của ông Vũ Trí rằng ta không bao giờ nên hòa giải hòa hợp với ĐCSVN trừ phi họ thành tâm nhận lỗi đã gây ra vô vàn tội ác đối với dân tộc và nhân dân VN và bắt đầu con đường sữa sai CHÍNH THỨC qua những chương trình sữa sai rõ ràng và có mốc thời gian hạn định, nhưng tôi vẫn chia sẻ những lời kêu gọi của bạn hướng về những hành động có tính hòa giải và hòa hợp giữa mọi con dân đất Việt trong cũng như ngoài nước. Vật cản CHÍNH trong việc hòa giải hòa hợp dân tộc là ĐCSVN chứ không bao giờ là người dân Việt, bất cứ nguồn gốc và chính kiến của mỗi người.
Một lần nữa, xin cám ơn bài viết tuyệt vời đầy thiện chí này của bạn và mong đọc thêm nhiều bài khác của bạn.
Hai chữ hoà hợp hoà giải theo tôi có nghĩa rộng quá và nhiều khi khó hiểu.
Tôi thích bắt đầu bằng chữ “giải hoà”, hoặc “giảng hoà”. Giảng hoà là vì đã có chiến tranh. Hai bên cùng anh em, cùng nòi giống, đã choảng nhau suốt hơn 20 năm trời. Cả hai bên đều đã có những hy sinh và những mất mát rất lớn. Cả hai bên đã có những khổ đau cùng cực.
Bây giờ sau 35 năm, chúng ta nhận thấy nhà nước VN tiếp tục gây thêm thù hận bằng cách ăn “mừng” ngày 30 tháng 04. Việc lặp đi lặp lại cái phim 30 tháng 04 cũ rích, cộng thêm vào những bài diễn văn của các quan lớn nhà nước VN lặp đi lặp lại mỗi năm như là một cái máy chứng tỏ là nhà nước VN không thực tâm trong việc xoá bỏ hận thù, không tìm cách xoa dịu những đau thương của dân tộc.
Vết thương này lớn lắm, nhà nước VN không nên xem thường, nếu các quan lớn VN thực sự yêu nước yêu dân.
Giảng hoà trước tiên là phải xoa dịu vết thương và chữa cho nó lành đã. Phải ngừng ca ngơi “chiến thắng”.
Có thể bắt đầu một kỷ nguyên mới và gọi ngày 30 tháng 04 là “Ngày Làm Mới” (Journée du Nouveau Départ / Day of the Beginning Anew).
Và nhà nước nên nghĩ đến cách làm sao “giảng hoà” hữu hiệu nhất. Phải có sự thành tâm. Phải lập một Hội Đồng Tối Cao Lo Việc Giảng Hoà (Conseil Suprême pour la Reconciliation) trong đó nhà nước mời Liên Hiệp Quốc hoặc các nước có uy tín giúp. Hội Đồng này sẽ phải có những thành viên của cả hai bên đã từng đánh nhau, sẽ có những tướng của VNCH còn sống ở hải ngoại, sẽ có những tướng của VNDCCH còn sống trong nước, có các Thầy tu chân chính, có các linh mục đạo Chúa chân chính, có thân hào nhân sĩ trong nước và hải ngoại do các Cộng Đồng VN ở hải ngoại đề nghị. Hội Đồng này sẽ đi khắp nơi từ trong nước cho đến hải ngoại để làm những cuộc gặp gở và nghe ngóng tiếng nói của người dân (nhà nước VN phải thành tâm, không được đem công an ra doạ hoặc ngăn cản, để mọi người nói lên được những ý nghĩ của mình một cách tự do).
Và trước khi thành lập Hội Đồng này, phải trả tự do cho tất cả những nhà bất đồng chính kiến, những người trẻ đã đứng lên phản đối về nhân quyền và dân chủ trong nước.
Nếu tất cả người dân trong nước cùng lên tiếng mãi thì nhà nước sẽ phải nghe theo.
Đợi đến khi Trung Quốc tấn công VN thì quá trễ.
Kính chào bạn Liêu Thái,
Bài “Vấn Ðề Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc” của tác giả Vũ Trí viết tại Paris ngày 27 tháng 11 năm 1999 và tôi đọc được trên trang Web Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại đã nhiều năm trước.
Bạn thử click vào dưới đây sẽ thấy bài này nằm ngay đầu trang. Tôi đã làm link trực tiếp cho nó trong ý kiến trước nhưng không hiểu tại sao không vào được:
Vấn Ðề Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc (Vũ Trí)
Chào anh Hoàng Trường Sa,
Tôi làm phiền anh chút nhé: Anh vui lòng cho tôi biết bài viết mà anh trích tên gì? Đăng ở báo nào? Năm nào?
Tôi rất mong anh trả lời và nếu như sự phản hồi của anh không cụ thể như lần trước thì vô hình trung khiến tôi quan ngại về anh. Vì lẽ: Tôi có thể xào lại bài viết của chính tôi và đăng lên với một cái tên khác, năm tháng khác… Để cho thấy rằng tôi không có chính kiến mà chỉ mượn chính kiến, nhại chính kiến…
Và, với các vị đã đọc, đã động viên tôi viết, tôi thành tâm nói rằng bài viết này là chính kiến của cá nhân tôi – Liêu Thái. Cho đến trước lúc đọc phản hồi của anh Hoàng Trường Sa, tôi vẫn nghĩ rằng cách tách khái niệm hòa giải – hòa hợp chỉ có tôi làm đầu tiên. Có lẽ cách nghĩ này nông nổi nhưng chí ít là nó cũng cho thấy tâm huyết của tôi với bài viết!
Xin lỗi quý vị link bài của tác giả VŨ TRÍ không vào được. Tôi xin phép trích lại đoạn chính như sau :
« Vậy hòa giải hòa hợp dân tộc là gì ?
Theo định nghĩa thì trong nhóm từ ngữ này có hai hành động khác nhau là hòa giải và hòa hợp. Nói đến hòa giải là mặc nhiên nhìn nhận có bất đồng ý kiến, có thù hận nên mới cần hòa giải. Nói đến hòa hợp là mặc nhiên nhìn nhận không còn bất đồng ý kiến, không còn thù hận nên mới hòa hợp được. Do đó cần đặt vấn đề hòa giải cho thật rõ ràng chính xác trước khi đặt vấn đề hòa hợp vì phải có hòa giải rồi mới hòa hợp được. Vậy hòa giải về việc gì ? Hòa giải giữa ai với ai ? Hòa giải như thế nào ? Tại sao phải hòa giải ?
1. Trước hiện tình đất nước và trong công cuộc đấu tranh, có ba nguyên nhân và sự việc đưa đến bất đồng ý kiến, hận thù là : tranh chấp cá nhân, tranh chấp tổ chức, đấu tranh giai cấp. Mỗi sự việc đều có những lý do riêng biệt của nó nhưng “tranh chấp cá nhân và tranh chấp tổ chức” không phải là những sự việc có tầm vóc hận thù dân tộc… nên chưa cần bàn đến. Chỉ có “đấu tranh giai cấp” do đảng CSVN chủ trương và áp dụng trong nhiều chục năm qua… gây ra biết bao nhiêu tan thương đổ nát hận thù dân tộc.
Do đó, hòa giải ở đây là hòa giải hận thù dân tộc, hòa giải giữa đảng CSVN và dân tộc Việt-Nam hay nói rõ hơn là hòa giải giữa tập đoàn độc tài lãnh đạo cộng sản với thành phần dân tộc bị trị, bị cộng sản trả thù đàn áp khủng bố tù đày giết hại cướp của….
Vậy hòa giải như thế nào ? Đảng CSVN đã gây hận thù dân tộc, đảng CSVN phải công khai nhìn nhận sai lầm tội lỗi, công khai xin lỗi đồng bào dân tộc Việt-Nam. Theo nguyên lý ở đời : ai gây hận thù phải xin hòa giải với nạn nhân hận thù… chớ không bao giờ có việc người bị hành hung đàn áp khủng bố tù đày lại đến xin hòa giải với kẻ hành hạ mình. Và sự hòa giải chỉ có thể thực hiện và chấp nhận khi nào các nguyên nhân gây ra hận thù được giải tỏa, được xóa bỏ… nghĩa là khi nào “đấu tranh giai cấp” không còn ở Việt-Nam
Và tại sao phải hòa giải ? Từ trước đến nay, đảng CSVN luôn luôn chủ trương giai cấp đấu tranh, vô sản chuyên chính và độc quyền lãnh đạo. Đây là những nguyên nhân đã gây ra chiến tranh với bao nhiêu tàn phá hận thù chia rẽ… đưa đến tình trạng suy thoái đất nước xã hội ngày nay. Nếu tình trạng này kéo dài, dân tộc Việt-Nam sẽ đi về đâu ? Do đó, vì tương lai đất nước, vì sự sống còn và quyền lợi dân tộc, những nguyên nhân đã gây ra phân hóa và hận thù dân tộc phải được xóa bỏ, giải quyết tận gốc rễ của nó…. nghĩa là CSVN phải công khai tuyên bố hủy bỏ giai cấp đấu tranh, hủy bỏ vô sản chuyên chính, hủy bỏ độc quyền lãnh đạo. Và chỉ khi nào những sự hủy bỏ này được thực hiện, được pháp chế định… đồng bào dân tộc mới tin.
2. Chúng ta đừng bao giờ tin CSVN. Qua kinh nghiệm quá khứ, lời nói và việc làm của CSVN không bao giờ đi đôi. CSVN đã nhiều lần kêu gọi đoàn kết liên hiệp, hòa giải hòa hợp…. nhiều lần lợi dụng tình cãm dân tộc lòng yêu nước làm chiêu bài tiêu diệt người quốc gia, lừa gạt quốc tế…. cụ thể như :
……
Giữa đồng bào dân tộc Việt-Nam, không bao giờ có hận thù nên không đặt hòa giải hòa hợp làm vấn đề… mà chỉ tha thiết muốn có một đời sống tự do dân chủ công bằng tiến bộ.” (VŨ TRÍ)
“Người ta thường nói hòa hợp hòa giải tức có thể hiểu hòa hợp trước hòa giải sau nhưng tôi đồng ý với tác giả Liêu Thái chúng ta cần hòa giải trước. Giải quyết những bất đồng trước sau đó dẫn đến hợp thành một khối. Thực chất là Chính quyền VN hiện nay chỉ muốn một nửa trước của hòa hợp hòa giải tức là hòa hợp. Hợp thành một khối dưới trướng của các ông CS. That’s it.” (Trích lời bác Tôn Nguyễn)
Tôi chia sẻ ý kiến của tác giả Liêu Thái và bác Tôn Nguyễn là cần phải hòa giải TRƯỚC khi hòa hợp. Nhưng hòa giải với ai, để làm gì? Về điều này, kính mời quý vị đọc thêm phân tích dưới đây của tác giả VŨ TRÍ cách đây hơn 10 năm:
Vấn Ðề Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc (VŨ TRÍ)
người dân Việt Nam chiến đấu chống cộng sản
là để bảo vệ lý tưởng tự do dân chủ
ngày nào cộng sản còn độc tài toàn trị quê hương
còn bắt giam những nhà bất đồng chính kiến
thì hòa giải hòa hợp với họ không chỉ là hoang tưởng
mà còn là phản bội những chiến sĩ tự do đã hy sinh
phản bội những người tù nhân lương tâm
và phản bội niềm tin vào chính nghĩa dân tộc
Hoà Giải hay là Hoá Giải: Chỉ một dấu huyền thay đổi thành dấu sắc thì mới thay đổi được cái chia rẽ hiện tại. Cách hoá giải hay nhất là tổng tuyển cử tự do, mọi người dân có quyền bầu ra người đại diện cho họ không kể tôn giáo hay đảng phái. Nếu không, thì chắc hành động hoà hợp sẽ rất khó xảy ra trong thực tế, mà đó chỉ là những lời kêu gọi suông rỗng, không ai đáp lại.
Thực tế là người Việt nói chung có những xích mích, nhưng không nghiêm trọng đến mức phải dùng đến chính trị, điều khoản quy định pháp luật để giải quyết. Nếu có những xích mích như dạng văn hóa các miền khác nhau thì cũng có thể trao đổi để giải quyết vấn đề qua đối thoại.
Vấn đề cốt lõi là nằm ở chính quyền Cộng sản VN đã tuyên truyền giáo điều cho nhân dân VN trong nước sinh lòng thù hận, ghét bỏ thế giới bên ngoài. Những vấn đề mà tác giả nêu ra trong bài thực chất là thành quả xây dựng lòng thù hận cho người Việt trong nước và người Việt ngoài nước của chính quyền Cộng Sản Việt Nam, cũng như thành quả đào tạo con người XHCN của những người Cộng Sản quyết biến mỗi người dân VN trong nước thành những con rô bốt chỉ biết tuân lệnh và phục tùng chính quyền. Do vậy, chính quyền Cộng Sản VN mà đầu tàu là những nhân vật nắm vững những vị trí cao nhất trong Bộ Chính Trị từ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tổng bí thư Nông Đức Mạnh, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết mới là những người chịu trách nhiệm cho sự bất đồng giữa người Việt hiện nay.
Dân tộc Việt Nam vốn không cần hòa hợp hòa giải, mà bắt buộc cần một thể chế chính trị mang lại lợi ích cho toàn thể dân tộc VN, khiến đại đa số hài lòng và ủng hộ bằng tiếng nói của từng người dân.
Lời kêu gọi Hòa Hợp Hòa Giải cho dân tộc Việt Nam vốn vô nghĩa, vì nó dựa trên một nền tảng tranh luận là một vấn đề vô giá trị và vô phương hướng.
Hoà hợp hoà giải: để làm gì ?
Thực tế, 35 năm trôi qua, nghĩ rằng đất nước đã thật sự hoà bình, mọi người đang mơ ước làm ăn xây dựng, mà ngày nay hãy còn nghe hai nhà cách mạng lão thành (ông Võ Văn Sung và bà Nguyễn Thị Bình) nhắc đến cụm từ “hoà hợp hoà giải dân tộc” sao mà cảm thấy đắng cay, chua chát. Điều này hiển nhiên chứng tỏ tập đoàn lãnh đạo ĐCS VN và Nhà Nước tự thú nhận đã thất bại trong chính sách an dân, có nghĩa là “lòng dân không yên”. Tôi thắc mắc không hiểu tại sao chỉ có Nhà Nước hay tập đoàn lãnh đạo ĐCS VN mới hay kêu gọi “hoà hợp hoà giải”? Hoà hợp với ai đây? Để làm gì nhỉ? Phải chăng Nhà Nước muốn tung hoả mù hướng dư luận vào “chuyện xưa tích cũ” để người dân quên đi những vấn đề căng thẳng với “người phương Bắc”, đặc biệt là chuyến thăm viếng Bắc Kinh gần đây của toàn bộ lãnh đạo cao cấp, chỉ để giải cứu 23 ngư dân bị “người lạ” bắt cóc?
Theo lời các cụ nói “Có tật thì hay giật mình”, phải chăng tập đoàn lãnh đạo ĐCS VN đã làm điều gì sai trái trong quá khứ khiến cho hận thù dân tộc còn âm ỷ không thôi, để rồi sau 35 năm qua, quý vị lãnh đạo lại cứ bị ám ảnh mãi? Phải chăng vì thế mà quý vị cán bộ cao cấp trong Đảng thường hay đi lễ Phật, xây chùa hoành tráng, đúc tượng vĩ đại, bày trò cầu an, cầu siêu rầm rộ, say mê đồng bóng, điển hình là chủ tịch Nguyễn Minh Triết, người Cộng Sản đầu tiên trong lịch sử xung phong xin quy y Tam Bảo và đăng đàn tổ chức Đại Lễ Phật Đản Thế Giới 2008?
Nếu đúng thế thật, vậy thì theo giáo lý Nhà Phật chính thống, tôi trân trọng đề nghị quý vị lãnh đạo ĐCS VN hãy cùng nhau tổ chức một buổi lễ hoành tráng gọi là Thành Tâm Sám Hối trước tiên, hãy lấy hết can đảm tự làm một bản kiểm thảo tự phê bình trước toàn dân. Đức Phật đã từng nói rằng “buông dao mổ trâu xuống, tức khắc thành Phật”, ở đây phải nói chính xác là buông xả hết những tâm địa đen tối, dẹp bỏ những thủ đoạn gian trá, lừa lọc còn tiếp tục gây hoang mang nghi ngờ trong quần chúng.
Chưa hết, đó mới chỉ là bước đi đầu tiên để tái lập lòng tin sơ khởi, bước kế tiếp là đề nghị tập đoàn lãnh đạo ĐCS VN và Quốc Hội hãy có can đảm tu chỉnh Hiến Pháp, xoá bỏ Điều 4, chấp nhận mọi chính kiến trái chiều, công nhận đa nguyên đa đảng, từ bỏ cương vị độc quyền độc đảng, và từng bước tiến hành một cuộc tổng tuyển cử, phổ thông đầu phiếu dân chủ và tự do để cho toàn thể dân tộc Việt Nam, đến tuổi trưởng thành, tự tay cầm lá phiếu bầu lên một chính phủ đại diện dân “danh chính ngôn thuận”. Đó mới đúng là hoà hợp hoà giải dân tộc, hãy để dân tộc VN nói lên tiếng nói của họ, vì hơn nửa thế kỷ qua họ đã phải âm thầm ngậm miệng cay đắng chịu đựng. Hãy thử học tập theo gương đất nước CamPuChia bên cạnh, họ đã có can đảm dám chấp nhận đa nguyên đa đảng và tổ chức bầu cử dân chủ sau một thời kỳ đen tối suýt bị “diệt chủng”.
Nhớ lại, 50 năm về trước, chính quyền Hà Nội thường hay kết án ông Ngô Đình Diệm, tay sai Mỹ, đã phá họai hiệp định Geneve từ chối không tổ chức tổng tuyển cử và hiệp thương hai miền để đi đến thống nhất đất nước. Thế nhưng đến ngày hôm nay, sau 35 năm thống nhất lãnh thổ, thử hỏi chính quyền CS VN đã có bao giờ làm một cuộc phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc để toàn dân tự tay cầm lá phiếu bầu lên những nguời đại diện chân chính? Ngày nào mà tư cách đại diện của tập đoàn lãnh đạo ĐCS VN và Nhà Nước chưa thực sự “danh chính ngôn thuận” thì những lời kêu gọi “hoà hợp hoà giải dân tộc” của họ chỉ là những câu tuyên truyền rỗng tuếch, vô nghĩa, nếu không phải là muốn huy động toàn dân giải cứu một tập đoàn lãnh đạo đang lúng túng trong bãi bùn lầy của chủ nghĩa xã hội không tưởng.
Một chính phủ “danh chính ngôn thuận” do dân bầu lên là giải pháp tốt đẹp nhất trong bối cảnh nhiễu nhương hiện nay, có sức mạnh của toàn dân uỷ thác để “ăn nói tay đôi” với người phương Bắc, được sự tín nhiệm của toàn dân để chấn chỉnh nội bộ và quản lý Nhà Nước hiệu quả hơn.
Vậy thì nói chuyện “hoà hợp hoà giải” lúc này chẳng có ý nghĩa gì cả.
Người ta thường nói hòa hợp hòa giải tức có thể hiểu hòa hợp trước hòa giải sau nhưng tôi đồng ý với tác giả Liêu Thái chúng ta cần hòa giải trước.
Giải quyết những bất đồng trước sau đó dẫn đến hợp thành một khối. Thực chất là Chính quyền VN hiện nay chỉ muốn một nửa trước của hòa hợp hòa giải tức là hòa hợp. Hợp thành một khối dưới trướng của các ông CS. That’s it.
Vấn đề chính là người CS có thực tâm muốn hòa giải không đã? Cho đến nay, người CS chưa bao giờ cho thấy họ thực sự muốn hòa giải. Bản chất của Đảng là phỉnh phờ từ lúc chào đời đến giờ vậy đòi hỏi người CS thực tâm khác nào đòi giải tán cái đám bịp bợm đó, bằng không thì nói (lại nói)tới nói lui chữ nghĩa cho đỡ buồn.
“Trong tình trạng hiện tại còn chưa trả lời được gì thì có thể vẫn còn có một thứ khiến người ta mạnh bước trong tiến trình hòa giải dân tộc, đó là: Niềm Tin!”(Liêu Thái)
Cũng như các lần trước, hôm nay tôi lại được đọc một bài rất chí tình chí lí của tác giả Liêu Thái. Nội dung và lời văn của bài viết, đối với tôi, có thể nói, đã “đi vào lòng mình”. Tôi rất tâm đắc với chữ “Niềm Tin” của tác giả LT. Tiện đây, xin chia sẻ với các bác vài suy nghĩ sau khi đọc bài viết này:
Theo tôi, cái hiện nay mà dân tộc Việt Nam ta không có, đó là Niềm Tin. Người Hungary có câu ngạn ngữ rất hay: “Niềm tin bao giờ cũng chết sau cùng”. Nhưng với người Việt Nam ta, có vẻ như nó(Niềm tin) đã “chết” trước chúng ta từ lâu rồi!(có thể từ ngày 30/4/1975 chăng?). Cái “Niềm Tin” của một dân tộc rất quan trọng, nó quyết định vận mệnh của dân tộc đó. Nhớ tự ngày xửa ngày xưa, nhờ có “Niềm Tin” mà dân tộc ta đã đánh thắng ba lần quân Nguyên. Hay tôi có thể lấy dẫn chứng là chính “Cuộc chiến Việt Nam 1954-1975”: ở “phía miền Bắc”, hàng ngàn hàng vạn “những anh bộ đội cụ Hồ” đã rất “tin tưởng” vào “lời kêu gọi Giải Phóng Miền Nam” của ĐCSVN, tin vào cái “chính nghĩa sáng ngời” của ĐCSVN, mới “xung phong lên đường”, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”… Cái “Niềm Tin” đã dường như tăng thêm “sức mạnh” cho họ, và họ đã “chiến thắng” theo như cách nhìn nhận của ĐCSVN. Nhưng ngày nay, thực tế tình hình đất nước Việt Nam cho thấy: người dân chúng ta không còn “Niềm Tin” nữa. Một biểu hiện của sự không có “Niềm Tin” là sự “vô cảm”. Họ, có thể nói, hoàn toàn “vô cảm”, như nhà văn Nguyễn Hưng Quốc cũng đã nói về điều này trong bài “Một dân tộc vô cảm” trên VOA Nguyễn Hưng Quốc Blog. Người dân đã mất “Niềm Tin” vào những người cộng sản Việt Nam, bởi sự thoái hóa nặng nề nơi họ. Người dân cũng chẳng có “Niềm Tin” vào tương lai, hoặc vì không có khả năng nhìn thấy “lối thoát”, hoặc vì bị chính quyền độc tài của ĐCSVN đàn áp, thao túng. “Vấn đề” ở đây là làm sao tạo lại được “Niềm Tin Chính Nghĩa” cho dân tộc Việt Nam. Mà một trong những việc làm thiết thực nhất, theo tôi, là phổ biến rộng rãi những bài viết về chủ đề này của các diễn đàn dân chủ như talawas này cho người đọc trong nước. Chứ nếu chỉ chúng ta và một số “tin tặc” đọc được thôi, thì tôi e rằng, sự “hòa giải hòa hợp dân tộc” thực sự, còn phải kha khá là lâu mới thực hiện được trên đất nước Việt Nam yêu quí của chúng ta!