Đỗ Anh Thơ – Hy vọng, mệt mỏi và sự chán chường trong tuổi già
03/04/2010 | 1:00 sáng | 3 Comments
Category: Tổng hợp
Thẻ: Phan Bội Châu > Phan Chu Trinh
Kể ra như tôi, tuy cuộc đời không phát huy được trí tuệ cao cho lắm, nhưng đã từng là kẻ nắm bắt được thông tin và làm chủ được cái đầu của mình, nên một mặt tôi biết phản tư, phủ định cái sai và đã gần 20 năm dũng cảm từ bỏ sự nghiệp thông tin dự báo khoa học kỹ thuật ngành dệt nói không ai nghe của mình[1] mà chuyển sang nghiên cứu, biên soạn, dịch thuật, xoay quanh những vấn đề triết học đạo đức, nên đến nay đã trên 75 tuổi, tôi vẫn đủ sức khỏe, minh mẫn để xử lý sách cổ, thông tin trên internet…, bền bỉ ra mắt bạn đọc được gần 30 đầu sách, trong đó có những quyển có giá trị nhất định như: Những kiến giải về triết học khoa học, Trí tuệ Lão tử, Trí tuệ Trang tử, Kinh Dịch với cuộc sống con người, Những câu nói bất hủ của Khổng tử, tập truyện ngắn Nước mắt mẹ… Như vậy, tôi tự cảm thấy đã làm được những gì mà cha mẹ kỳ vọng ở mình từ thuở nhỏ về cống hiến cho đời.
Là con người biết dọn sạch, loại bỏ những gì không đáng nhớ trong bộ não để có chỗ trống, thu nhận thông tin mới[2], nhưng thường đêm tôi vẫn trằn trọc suy nghĩ cuộc sống cho thế hệ con cháu mai sau, với hy vọng, mệt mỏi và chán chường. Thật ra, tôi không lo đối với gia đình riêng, vì tôi có 7 cháu nội ngoại thì hơn một nửa đã sống và đang học ở Đức, Mỹ. Mấy đứa còn nhỏ ở trong nước thì bố mẹ chúng có thể cho đi du học bất cứ lúc nào. Vậy cái trăn trở này của tôi chủ yếu là đối với những bà con lối xóm quê hương, quen với cảnh sống ao tù, không có thông tin, không có trình độ tư duy phản tư, mà cái loa tuyên truyền dối trá thì nó ra rả suốt ngày đêm, đập vào tai vào mắt họ. Bời vì, họ chưa mấy khi vượt ra khỏi lũy tre làng để biết được những gì là mặt trái của xã hội. Chỉ ra khỏi Hà Nội, Sài Gòn… vài ba chục cây số là ta đã thấy xã hội lầm than, bất công, nạn cường hào tham nhũng hoành hành. Họ chỉ thấy một vài quãng đường ngắn tiến bộ về điện, đường, nhà ở, lúa gạo… mà “nhờ ơn”. Họ có biết đâu rằng bất cứ chính quyền nước nào đi vay nợ chừng ấy năm (để lại cho con cháu trả suốt đời) đều có thể làm được như vậy. Họ chưa thấy tốc độ nội lực và thời gian mà ta phải rút ngắn so với những tiến bộ của nước khác cùng vạch xuất phát điểm cách đây mới 20 – 30 năm.
Lòng trăn trở trong tuổi già của tôi bé như hạt cát, không có ánh hào quang như của cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, nhưng tôi cũng không thể không giãi bày, nói ra.
Nhiều lần qua Huế, Đà Nẵng… đến thăm ngôi nhà ít khi được tu sửa, tôi lại càng cảm phục tinh thần phản tư, tự chỉ trích của hai cụ Phan và càng cảm thấy hình như người Việt Nam chúng ta chưa mấy ai hiểu những nhân vật siêu phàm này. Nếu có sấm ký “Nam Đường sinh thánh” thì đâymới là thánh đích thực. Đúng là “Nhất phiến đan tâm tại ngọc hồ” (một tấm lòng son trong bầu ngọc).[3]
Ta chỉ biết lịch sử nhưng chưa biết suy từ lịch sử để vạch ra được những kịch bản cho tương lai, chưa có những viễn khiến cho 50, 100 năm sau. Nó chẳng khác gì như một cô gái chỉ biết hình ảnh của mình hiện tại, mà chưa biết hình dung mình về già như thế nào, con cháu ra sao để mà quý trọng thời gian làm việc, giữ gìn và kiêng khem.
Suy cho cùng, mất khả năng phản tư, cho dù có học cao đến mấy thì cũng chỉ là kẻ tự lừa dối mình đến lừa dối thiên hạ mà thôi.
© 2010 Đỗ Anh Thơ
© 2010 talawas
[1]Bài báo được dư luận thời đó chú ý là bài “Thử phân tích nỗi đau của Dệt Nam Định”, “Chia tay năm 95” của tôi ký tên thật, đăng trên báo Nhân dân và báo Công nghiệp khoảng năm 1990-1995, đã nói nhiều đến các nhà máy quốc doanh trong tình trạng tốn nguyên liệu, năng lượng, ô nhiễm, năng suất thấp… mà phải bao cấp như một xã hội thu nhỏ, nên điều tất yếu là nó phải được cổ phần hóa… “Thay vì thả phao cứu cả con tàu sắp chìm, ta phải cứu từng con người lên…” Thời đó tôi còn bị bạn bè cho là không tưởng khi đăng bài trên báo Nhân dân và Giao thông vận tải, đề ra ý kiến cần tư nhân hóa và cổ phần hóa phương tiện giao thông (ô tô) và chủ trương nên làm đường xe lủa hai chiều Bắc Nam trước, còn đường Trường Sơn nên phát triển theo đường xương cá nối Quốc lộ 1 để không phá hủy môi trường và thuận dòng chảy của các sông miền Trung. Tôi cùng anh Lê Bá Toại, Phó TGĐ LHXN Dệt đi Hội nghị Viện Chiến lược của UBKHKT nhà nước, khi bàn về 20 vạn ha đay đồng bằng sông Cửu Long, với tư cách là một chuyên gia thông tin, tôi nói: “Công nghiệp đay là công nghiệpcủa thế kỷ 19. Các anh muốn đồng bào Nam bộ ta khổ cực như nông dân Ấn Độ, Bangladesh hay sao? Ra về, ông Phong, Viện trưởng, nói nhỏ, “anh là chuyên gia thông tin, nói không sao, còn chúng tôi thì sẽ bị thoa đầu ngay”. Những mẩu chuyện này tôi không bao giờ quên, khiến tôi rời công tác Thông tin Dự báo sau đó không lâu.
[2]Xem “Bàn về khái niệm Hư dụng trong trí tuệ Lão tử” của tác giả
[3]Hồ (壶): bầu rượu, đồng âm với hồ nước (湖), họ Hồ (胡), con khỉ (猢), con cáo(狐)… Tiện đây xin thêm một chi tiết: thời gian Liên Xô và Trung Quốc căng thẳng, Hồ Chủ tịch dùng từ đồng âm nhắc lại câu này với Chu Ân Lai để tỏ ý nói rằng tình cảm của Hồ Chí Minh đối với Trung Quốc vẫn chung thủy (dẫn theo Nguyễn Đức Dương, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao nước VNDCCH trong quyển Thơ văn họ Nguyễn Đức).
Bình luận
3 Comments (bài “Đỗ Anh Thơ – Hy vọng, mệt mỏi và sự chán chường trong tuổi già”)
Tác giả rất cảm ơn các bạn đã có hồi âm. Thật là ” hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”. Nhân đây xin gửi tới các bạn một bài thơ chữ Hán của tác giả viết cách đây gần 25 để tỏ lòng:
三 十 年 余 训 学 而
至 今 虽 老 习 时 之(*)
虚 名 世 事 何 多 累
为 草 芳 花 也 不 迟
Phiên âm :
Tam thập niên dư huấn học nhi,
Chí kim tuy lão tập thời chi.
Hư danh thế sự hà đa lụy
Vi thảo phương hoa diệc bất trì
Tác giả tự dịch:
Ba mươi năm dạy học rồi mà,
Nay già đã tới thời chưa qua.
Cuộc đời sự nghiệp thôi đành mặc,
Nguyện làm cây cỏ có đơm hoa.
(*) Tác giả láy lại câu “học nhi thời tập chi”. Suốt đời tác giả chủ trương muốn hiểu âm mưu Tàu cần phải giỏi cổ văn. Hơn nữa, chữ Hán theo tác giả có phần đóng góp của dân Bách Việt chúng ta. Tác giả đã không lột tả được hết chữ “phương hoa” và “bất trì” nghĩa là làm cây cỏ mà có hoa thơm cũng chưa muộn.
“Nhờ cơ duyên internet và talawas mà gặp nhau ở cái tuổi có người cho là „mệt mỏi, chán chường“. Để làm gì? – Tìm vui? Tìm quên? Tìm nơi chia sẻ? Tìm hy vọng?… Hay là tất cả? Và như thế thì cũng là để thỏa cái niềm vui nâng đỡ và sẻ chia trí tuệ.” (Tôn Văn)
Những lời trên là của bạn Tôn Văn phát biểu ở một chính đề khác, nhưng tôi thấy nó quả là thích hợp để xin phép trích dẫn sang đây, góp thêm đôi lời lạm bàn và cũng nhân thể tạ một cái lỗi nhầm lẫn với tác giả bài viết, Đỗ Anh Thơ. Số là đã lâu đọc một bài viết của cùng tác giả, không hiểu do căn cớ làm sao mà tôi lại nghĩ đây là một nữ tác giả, nay thì mới biết là mình nhầm. Bài viết trước của ông tôi cũng đã đọc một cách thích thú, ông nhắc đến những cố sự của miền đất quê hương linh kiệt, nhắc đến bà chị ruột của ông Hồ Chí Minh với một vài chi tiết nhỏ hơi khác với cái account của bà Đặng Thị Hạnh, con cụ Đặng Thai Mai trong hồi ký
“Cô Bé Nhìn Mưa” v..v…
Tác giả nhắc đến tuổi già của ngày nay, tôi thấy muốn được chia sẻ cùng ông, rằng tuổi già của chúng ta khó khăn hơn xưa nhiều lắm, ngày xưa khi Đặng Dung than “Thế sự du du nại lão hà” câu thơ vẫn còn cái âm hưởng uất hận cho đến tận bây giờ nhưng phải thấy ngay rằng “thế sự” mà chúng ta đang trải nghiệm nó thảm thê, khó khăn hơn thời ấy không biết đến bao nhiêu. Chúng ta có một đất nước bị xé nát vì chiến tranh tương tàn, đến bây giờ lại bị cày xới, thu vét bởi guồng máy nhân sự của một nhà nước không còn mối quan tâm nào khác hơn là làm chính cái công trình “nạo vét” sơn trạch của tổ tiên ấy, nếu đất nước không mất chủ quyền thì cái gánh nặng nợ nần đời đời con cháu mai sau của chúng ta sẽ phải trả không biết đến kiếp nào cho hết. Cái lo lắng rằng đất nước hoặc là dưới hình thái này hoặc là dưới một hình thái khác tinh vi hơn lại một lần nữa rơi vào tay thống trị của người Tầu thật không phải là một điều bi quan tưởng tượng nữa rồi. Hết chuyện không dám gọi thẳng họ là người Tầu mà quanh co gọi là “người lạ”, đến những chuyện cười ra “nước mắt máu” mấy hôm nay như chuyện “Hai Bà Trưng múa hát trước “linh từ” của Phục Ba Mã Viện, chuyện kéo nhau lên quê hương của thắng địa Chi Lăng thuở trước mà tưởng niệm những “Liệt Sĩ Hồng Quân Trung Hoa” đã “hy sinh” ở Lạng Sơn trong chiến dịch 1979…những chuyện ấy báo hiệu cái gì ?
Chúng ta đều là những kẻ sĩ văn nhược, kẻ ở trong nước người ở nước ngoài, thôi chúng ta cứ chọn cho chúng ta cái việc mà chúng ta có thể làm được ấy là nói lên cái ác, cái xấu đang hoành hành làm hại đất nước, làm được cái việc ấy với một tấm lòng công chính như “băng tâm tại ngọc hồ” thì có lẽ tuổi già của chúng ta cũng mong là được hậu thế soi cho ít nhất cũng không đắc tội với sự mất còn của tổ quốc. Phải không thưa ông Đỗ, bạn Tôn Văn, bạn Đào Nguyên cùng các bạn khác đó đây sẵn sàng chia sẻ cùng chúng tôi cái tâm trạng não nề “…đầu tiên bạch” ?
Đọc xong bài tôi suy rằng tác giả còn ở trong nước, đã từng hy vọng, chịu mệt mõi vì gánh nặng thời thế của dân tộc và đang chán chường trong tuổi già bóng xế. Đọc rất cảm thông mà người hải ngoại này không biết làm gì hơn, ngoài sự cầu nguyện không thôi cho lòng u mê lẫn tham lam các thần tượng vật chất đời này sớm ra khỏi thiểu số người “biết hiểu” có quyền lực lẫn tài lực tại VN để dân bớt lầm than, và cho mọi người VN trong ngoài kể cả tôi học được tinh thần tự phán để tiến tu và tìm ra những viễn kiến về một con đường sáng cho mình và cho dân tộc như tác giả đã làm. Riêng cho tác giả, nhân mùa Phục Sinh, tôi xin mạn phép chia sẻ cùng tác giả một lời phán, đúng hơn là lời kêu gọi, đến thế gian của chúa Giêsu: ‘Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi sự an nghỉ’. Ngoài lời chia xẻ rất duy linh xin gởi đến tác giả trong chân tình này, tôi cũng xin tạ tội bất lực của một người hải ngoại với tác giả và với các tiền nhân vì hiện nay tôi chỉ còn biết nương nhờ vào cầu nguyện, cầu nguyện và cầu nguyện mà thôi trước hoàn cảnh VN, dầu tuổi mình chưa đến nỗi gọi là già.