talawas blog

Chuyên mục:

Phong Uyên – Những ý niệm tương đồng trong tư tưởng các nhà hiền triết Hi Lạp, Phật Thích Ca, Khổng Tử, Lão Tử (phần 1)

03/03/2010 | 10:30 sáng | 1 bình luận

Tác giả: Phong Uyên

Category: Tư tưởng
Thẻ: > > > >

Từ trước tới nay, khi bàn về tôn giáo hay triết học nhiều người cho là tư tưởng Phương Đông và Phương Tây khác nhau quá nhiều vì người Tây phương có cái nhìn nhị nguyên còn người phương Đông có cái nhìn tổng thể. Đó là một nhận định chứa đựng quá nhiều thành kiến từ thời cận đại, coi Trung Quốc là tượng trưng Phương Đông, và Phương Tây là Âu Mỹ, mà quên nguồn gốc Phương Tây là Ấn Độ, không những về địa lí mà còn về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hoá, triết học. Nhưng nếu chịu khó tìm tòi so sánh sâu rộng hơn, sẽ thấy ở thời thượng cổ cách đây 2500 năm, tư tưởng của các vị hiền triết bất kể Đông Tây, từ bể Địa Trung Hải tới bờ Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, đều cùng một lối suy luận, đều có những ý niệm tương đồng không phân biệt địa lí hay chủng tộc.

Để chứng minh, tôi xin chọn ba nhà hiền triết Hi Lạp tượng trưng nhất: Héraclite, Socrate, Platon để đối lại với 3 nhà hiền triết Ấn Độ và Trung Quốc là Phật Thích Ca (trong cương vị một nhà hiền triết), Khổng Tử, Lão Tử. Lí do của sự lựa chọn là:

Sáu vị này đều sinh ra cùng thời cách đây 2500-2600 năm ở những vùng trên thế giới cách xa nhau nhưng gần như cùng một trình độ văn hoá.

Tư tưởng của các vị này là tinh túy của nhân loại. Từ 2500 năm cho tới nay, mọi suy nghĩ của con người về triết học cũng như về đạo giáo và khoa học, đều có nguồn gốc từ những tư tưởng đó.

Câu hỏi tôi tự đặt cho tôi là Hi Lạp, Ấn Độ, Trung Hoa, ở 3 miền quá cách xa nhau khó có sự giao tiếp với nhau mà sao lại có những tư tưởng giống nhau? Và sau này vì sao lại có những diễn tiến khác nhau?

Để trả lời, tôi xin chia bài viết làm hai phần:

Phần 1: Phân tích những điểm tương đồng.

Phần 2: Tìm hiểu vì sao những tư tưởng tương đồng đó lại có những diễn tiến khác nhau.

I. Thử phân tích những điểm tương đồng trong triết lý của các vị hiền triết kể trên

1. Héraclite với khái niệm Logos

Héraclite sinh khoảng năm 575 TCN cùng thời với Đức Phật, ở tỉnh Éphèse thuộc văn hoá Hi Lạp nằm ở phần đất Tiểu Á (Asie mineure) Thổ Nhĩ Kỳ bây giờ.

Héraclite biến đổi ý niệm thần thoại Logos thành một ý niệm triết học. Logos có nghĩa là “Lời nói” diễn đạt cái Lý. Tôi xin dịch Logos là Ngôn lý. Theo Héraclite Ngôn lý là nguồn gốc của mọi sự, là  Lý tuyệt đối trường cửu, Trí thông minh quán thế sáng tạo ra vũ trụ và điều hành vạn vật.

Héraclite suy luận: Là Lý lẽ  tuyệt đối của mọi biến dịch, Logos làm biến đổi không ngừng vạn vật khiến mọi sự đều trở thành Vô thường luôn luôn thay đổi và tương khắc với nhau nhưng vẫn chỉ là một: như ngày thành đêm, như sống với chết, như con đường đi lên rồi lại đi xuống nhưng vẫn chỉ là một con đường. Câu nói mà ai cũng nghe nhưng ít người biết là của Héraclite: “Không ai tắm hai lần cùng một sông… Nước biển là nước tinh khiết nhất mà cũng là nước ô uế nhất. Là nước nuôi cá, cứu cá mà cũng là nước làm người chết khát và gây tai hoạ cho người”. Trong nghĩa này Logos tương đồng với:

– Thái cực của Khổng Tử: Trong kinh Dịch, Thái cực chỉ là Một thể. Nhưng khi vận hành để sinh ra vạn vật, biến thành 2 thể âm và dương “Dương lên đến cực độ lại biến ra âm, âm lên đến cực độ lại biến ra dương, hai thể ấy cứ theo liền nhau, rồi tương đối điều hoà với nhau để biến hoá mà sinh ra trời đất vạn vật.” (Nho giáo, Trần Trọng Kim). Thái cực biểu hiện Lý của Trời (Thiên lý) và theo Khổng Tử: Trời vô hình vô thể, nhưng hợp theo thiên lý là hợp ý Trời, cũng như Logos thể hiện Lý Trời vậy.

– Luân hồi của Phật: Mọi sự đều luôn luôn biến đổi vô thường, đối nghịch với nhau như “có sinh có tử”. Cũng có nghĩa là Nhân duyên: Cái này có mặt thì cái kia có mặt, cái này vắng mặt thì cái kia vắng mặt.

Là Nguyên lý Độc nhất tuy thể hiện dưới những trạng thái đối nghịch nhau, Logos cũng có nghĩa tương đồng với:

– Đạo của Lão Tử: “Nguyên thủy của trời đất là Đạo không đầu không đuôi như nhân và quả... đón nó thì không thấy đầu, đi theo nó thì không thấy đuôi của nó”. Đạo đồng nghĩa với Logos: Vạn vật trong vũ trụ đều là trạng thái khác nhau của Đạo, Đạo là tuyệt đối độc nhất Đạo sinh Một cũng là Một sinh Đạo (Ngô Tất Tố).

– Brahman trong kinh Vệ đà và khái niệm brahman (Atman) của trường phái triết học Vedanta Ấn độ thế kỷ thứ V TCN. Brahman là Chân Như, là Đại Ngã và cũng là Niết Bàn theo một vài tôn phái trong Phật giáo Nguyên thủy suy luận.

– Visnu và Shiva trong Ấn độ giáo, đối nghịch nhau nhưng chỉ là Một trong Bản thể Brahman.

Khái niệm Logos cũng là nguồn gốc của những phương pháp đối biện (dialectiques) trong triết học Hi Lạp hay Âm-Dương của Khổng Tử. Sau này Hegel (chính đề, phản đề, tổng hợp đề) và học trò là Marx tiếp tục phương pháp Đối biện (Tàu dịch là Biện chứng không đúng với cả chữ lẫn nghĩa) trong triết lí của mình. Với Marx, Đối biện là luật mâu thuẫn giải thích sự diễn tiến của lịch sử. Triết học Phương Tây cho tới nay vẫn dùng phương pháp đối biện trong suy luận. Khoa học cũng vậy: nhờ luôn luôn áp dụng phương pháp đối biện nên mới có tiến triển. Nguyên lí khoa học “không có gì tự mất, tự tạo ” cũng nhắc nhở đến thuyết Duyên khởi của Phật.

2. Socrate với phương châm “Phải tự biết mình”

Sinh thế kỷ thứ V TCN. Socrate lấy phương châm được khắc ở cửa điện Delphes “Phải tự biết mình” (Connais-toi toi-même) làm phương châm cho chính mình. Triết lý của Socrate là phải học hỏi, phải tu thân để tìm ra cái Đẹp, cái Thiện, cái Thật, Công lý và Tình yêu đã có sẵn trong mỗi con người khi sinh ra. Socrate, cũng như Khổng Tử tin là “Nhân chi sơ tính bản thiện”, và cho là con người sở dĩ trở thành độc ác là vì ngu tối (vô minh). Vì vậy Socrate đặt trọng tâm vào giáo dục tuổi trẻ để tuổi trẻ nhận thức được cái ngu tối của mình mới tìm lại được những cái chân thật, những ý tưởng tốt ẩn giấu trong bản thân mình. Socrate tự cho mình là một người biết cách “đỡ đẻ” tinh thần “l’art de la maïeutique” giúp tuổi trẻ cho ra đời lại được những cái tốt tiềm ẩn trong con người. Socrate cũng khuyên tuổi trẻ để chuyện trời đất ra một bên: “Hài hoà vũ trụ” nên để Trời định liệu. Cũng vì vậy mà Socrate bị kết tội là làm mọi người xa lánh thánh thần sở tại, đem thánh thần mới ở đâu đến hủ hoá tuổi trẻ, và bị bắt phải uống thuốc độc chết.

Những điểm tương đồng giữa Socrate với Phật và Khổng Tử:

Khổng Tử cũng cho là mỗi con người đều có bản tính tốt vì được Trời phú cho một phần Thiên lý gọi là cái Tâm. Nhưng phải học, phải tu thân, thì cái “tâm” mới phát hiện ra được. Khi chết cái tâm đó sẽ đem mình nhập lại của với Tâm của Trời (Thiên lý). Khi sống, Khổng Tử cũng nghĩ như Socrate: “Quỉ Thần kính nhi viễn chi” nên việc thờ phụng thần linh chỉ là việc phụ.

Cuộc đời của Socrate không khác gì cuộc đời của người quân tử trong Nho giáo: Lấy Tu thân làm gốc, coi học vấn là trọng. Cái chết của Socrate cũng là cái chết của kẻ sĩ.

Socrate cho Ý niệm “Thiện” (Le Bien) đã có sẵn trong mỗi con người. Có thể coi ý niệm này là tương đồng với “Chân Như” trong triết học Ấn độ, “Phật tính” trong đạo Phật  và “Tâm” trong Khổng giáo.

3. Chân Ý (Idée) của Platon

Tôi xin tạm dịch khái niệm Idée của Platon là Chân Ý mà tôi cho là sát nghĩa nhất.

Cho tới nay triết học Platon vẫn được coi là nền tảng của xu hướng Duy tâm (Duy ý) trong triết học Phương Tây. Sinh năm 428 TCN, Platon là học trò Socrate nên khi viết những bài Đối thoại (Dialogues) để diễn đạt tư tưởng của mình, Platon hay lấy Socrate làm nhân vật đối thoại chính. Theo Platon có hai thế giới:

Thế giới vật chất. Có thể nhận thức được bằng ngũ quan hay bằng cảm giác. Platon gọi là Thế giới cảm nhận được (Le monde sensible). Thế giới này gồm mọi sinh vật như người, súc vật, cây cỏ; mọi đồ vật do con người chế tạo ra như bàn ghế, tàu thuyền, tượng đá…; mọi hình bóng của nó hay mọi hình thù do tưởng tượng mà ra. Những cái đó, tuy mắt có thể trông thấy, tai có thể nghe thấy, có thể sờ mó được hay cảm thấy được nhưng chỉ là những ảo ảnh.

Thế giới tinh thần. Chỉ có thể nhận thức được bằng tri thức nên Platon gọi là le monde intelligible. Muốn biết nó phải vận dụng “tri thức” tức là Tuệ giác theo Phật, và Tâm giác theo Khổng Tử. Tôi tạm dịch “le monde intelligible” là Thế giới của tri giác.

Thế giới tinh thần là thế giới của Chân Ý có Tinh chất vĩnh hằng (Essence éternelle) không nằm trong không gian và thời gian. Chân Ý tạo ra:

– Những sự vật của Lý lẽ (Raison) như những công thức, những định lý toán học, hình học.

– Những nguyên ý (idées). Lấy thí dụ như nguyên ý “Đẹp” (Beauté): Sở dĩ ta thấy đẹp những vật thể không giống nhau như một bức tranh, một bài thơ, là vì cái “đẹp” đã được truyền vào những vật thể khác nhau đó từ nguyên ý “Đẹp”. Một danh hoạ Nhật có thể vẽ núi Phú Sĩ cả trăm lần chỉ vì đã “thấy” được cái nguyên ý Đẹp (cái thần) của núi Phú Sĩ chứ không phải chỉ vì “trông thấy” những cảnh đẹp của núi Phú Sĩ.

– Và sau cùng theo Platon, cái trên hết trong thế giới của Chân Ý là Ý “Thiện”.

Theo Platon Chân Ý tạo ra vũ trụ. Điều hoà vũ trụ, sắp đặt vạn vật cho có trật tự hài hoà là Lý Lẽ. Tinh thần của mỗi con người cũng từ Chân Ý mà ra.

Thế giới tinh thần là thế giới đời đời bất diệt vì là Tinh chất vĩnh hằng. Trái lại, thế giới vật chất “cảm nhận được” chỉ là ảo ảnh, chỉ là phản ánh sai lầm thế giới của Chân Ý, của Lý  Lẽ.

Trong triết lý của Platon có nhiều điểm tương đồng với triết lý Phật:

Cũng theo Platon:

Con người gồm 2 phần: tinh thần và thể xác.Tinh thần bất diệt vì do những nguyên ý tạo thành mà nguyên ý là thành phần của Chân Ý. Nhưng nếu tinh thần quá bám vứu vào thể xác, vào vật chất, thì sẽ không thoát khỏi được thế giới ảo ảnh để tái nhập thế giới của Tinh chất Vĩnh hằng. Con người muốn khi chết trở lại được với Chân Ý thì khi sống phải tu thân, phải học hỏi triết học, khoa học nhất là toán học, mới có thể “hồi ức” (nhớ lại) được (réminiscence) trạng thái khi trước của mình, khi tinh thần mình còn nằm trong Chân Ý và Lý lẽ.

Tất cả mọi thay đổi là đi từ chiều này tới chiều khác cũng có thể đi ngược lại: Đi từ sự sống tới sự chết thì cũng có thể đi từ sự chết tới sự sống.

Cuộc đời đang sống thuộc về thế giới vật chất trong đó con người giống như đang bị xiềng xích trong hang đá: chỉ thấy hình bóng ảo ảnh chiếu trên tường hang và tưởng đó là thật. Hang đá là hình ảnh của xã hội chúng ta đang sống chỉ có những trò giả dối. Phải như người mới được giải thoát khỏi hang đá: Bắt đầu vẫn chỉ thấy vật chất ảo ảnh vì chưa quen với ánh sáng. Sau lần lần chịu khó học hỏi mới quen với ánh sáng đuổi được những ảo ảnh.

Tinh thần mỗi người có 2 phần: Phần thượng và phần hạ (như mình nói hồn và phách). Chỉ có hồn là phần thượng mới có thể hoá thân (réincarnation) để qua kiếp khác. Khi qua kiếp khác, phải biết rời bỏ vật chất, chú trọng vào học hỏi những môn khoa học như toán học, hình học, thiên văn học và triết học. Những môn học này sẽ đưa đến những nguyên ý, thành phần của Chân Ý. Vì vậy muốn “nhớ lại” được những nguyên ý, cần phải học hỏi nhiều và càng học hỏi, tinh thần càng thanh khiết. Chỉ khi nào tinh thần đã hoàn toàn thanh khiết mới tái nhập Chân Ý được.

Để nhớ lại  được những nguyên ý và xua đuổi được lần lần các ảo ảnh, Platon đưa ra phương pháp đối thoại (dialogues), tự vấn, tự tranh biện với mình bằng cách tự đặt câu hỏi và tự trả lời. Phương pháp đối thoại đó cũng là một hình thức của phương pháp Đối biện của Héraclite (Dialectique), kể trên.

Chân Ý tương đồng với “Chân Như Brahman”, với Niết Bàn.

Hồi ức (Réminiscence) tương đồng với Giác Ngộ.

“Đi từ sự Sống tới sự Chết và từ sự Chết tới sự Sống” là ý niệm thuyết luân hồi trong đạo Phật.

Phật cũng dạy vật chất và dục vọng chỉ là những ảo giác.

“Phải trải qua nhiều đời sống để tinh thần mỗi ngày một thêm thanh khiết” cũng là ý niệm về “kiếp” trong đạo Phật.

Phương pháp “đối thoại nội tâm” (dialogues, dialectique) của Platon cũng là phương pháp Nhập định tự vấn trong đạo Phật.

Giữa Platon và Khổng Tử cũng có rất nhiều điểm tương đồng trong các lãnh vực khác nhau, đi từ sự cấu tạo và điều hành trời đất vạn vật đến quan hệ giữa con người và xã hội.

Những quan niệm giống nhau giữa Khổng Tử và Platon về con người và vũ trụ

– Về khái niệm Ý: Định nghĩa của Platon về Ý gần giống như Tâm của Khổng Tử. Theo Platon, có một phần Chân Ý trong mỗi con người cũng như có một phần Tâm trong mỗi người của Khổng Tử. Người hiền (les sages) của Platon cũng như người quân tử, phải biết vun trồng cái tâm, cái ý, để khi chết có thể tái nhập Chân Ý hay Tâm của Trời được.

– Về sự cấu tạo vũ trụ: Khổng Tử và Platon gần như cùng một ý niệm. Theo kinh Dịch, vũ trụ ban đầu chỉ là một khối mờ mịt hỗn độn gọi là đời hỗn mang. Nhưng nhờ có Lý tuyệt đối gọi là Thái cực nên trở thành điều hoà mà sinh ra trời đất vạn vật. Platon cũng nói gần như vậy: Vũ trụ khởi đầu chỉ là một chất lỏng không có hình thù. Lý Lẽ, với những phương thức toán học đã biến chất vô hình thù đó thành có hình hài và tạo ra vũ trụ. Ý niệm về sự cấu tạo vũ trụ của Platon và Khổng Tử đã được khoa Vật lí vũ trụ học chứng minh: Trước khi có Big bang tạo ra vũ trụ chỉ có những protons, neutrons, électrons ở trong tình trạng hỗn mang (plasma).

Lý Lẽ đã tạo ra trời đất bằng những công thức toán học, nên phải học toán để biết được Ý Trời và trở lại với Trời. Đó cũng là điểm tương đồng với Khổng Tử là phải học kinh Dịch để biết Lý toán tạo ra trời đất và để biết thế nào là thiên lý để trở về với Thiên lý.

Nhiều nhà toán học, vật lý học trứ danh thời nay như Gödel, Penrose, cũng nghĩ toán học là biểu lộ của thế giới tinh thần. Con người chỉ khám phá ra những công thức toán học chứ không phát minh ra nó. Những nhà khoa học này được coi là có tư tưởng Tân Platon.

Platon còn tả vũ trụ như một hình cầu có 12 cạnh. Có thể chỉ là một sự tình cờ: Theo những nhận xét của vệ tinh Mỹ WMAP mới đây, vũ trụ có thể là một trái cầu 12 cạnh (Nature, 10-2003).

Quan niệm một xã hội lý tưởng theo Platon

Trong những tác phẩm về Nền Cộng hoà, về Chính trị, về Luật, Platon đã phác hoạ một Dân-Quốc (État-Nation) lý tưởng, trong đó sự tương giao giữa người công dân và đất nước rất là mật thiết. Điều lo lắng chính của Platon là làm sao có công bằng trong xã hội. Khi có công bằng thì người dân mới ăn ở có đức độ (vertu) và sống có hạnh phúc.

Muốn có công bằng phải có công lý. Khi có công lý thì trong tâm hồn mỗi người dân sẽ có sự hài hoà giữa lý lẽ, thiện tính và lòng can đảm. Lý lẽ cho thấy được tính Thiện và can đảm sẽ kiềm chế được lòng ham muốn trong mỗi con người.

Xã hội gồm ba thành phần: thành phần những nhà lãnh đạo có nhiệm vụ phải bảo vệ luật pháp và phải gồm những hiền nhân (des sages); thành phần chiến sĩ (guerriers) phải tuân theo những người lãnh đạo và có nhiệm vụ bảo vệ thành phần thứ Ba là thành phần quần chúng, gồm những  người làm thủ công và nông dân (công nông được đề cao từ thời đó!). Trong một nước có công bằng, mỗi người sẽ đều làm đúng phận sự mình và không vượt quá quyền hạn mình. Luật  lệ làm những người công dân liên đới với nhau và mọi người sẽ có hạnh phúc, sẽ không vị kỷ vì nếu không, sẽ sinh bất hoà và đất nước sẽ lụn bại.

Điểm tương đồng lớn nhất giữa Platon và Khổng Tử là sự tương giao giữa giới cầm quyền và người dân:

Platon muốn tạo một xã hội lý tưởng gồm 3 thành phần. Nhưng thật ra thành phần chiến sĩ không đáng kể vì phải tuân thủ chính quyền và chỉ có nhiệm vụ là bảo vệ dân chứ không có quyền lợi gì. Khổng Tử cũng coi “binh” là một thành phần quan trọng: Sau khi lo cho dân đủ ăn thì phải lo cho nước đủ binh (túc binh).

Thành phần lãnh đạo trong xã hội lý tưởng của Platon là những nhà hiền đức. Quân thần trị nước của Khổng Tử cũng vậy: phải là những bậc hiền tài có nhân có đức biết theo lẽ công bình mà làm và phải biết giữ mình cho ngay chính.

Khổng Tử muốn giáo hoá dân bằng chữ “Nhân”. Platon muốn người dân phải có “Đức độ” (La Vertu). Nghĩa của hai chữ này rất gần nhau.

Platon nghĩ trong một nước có luật lệ công bình mọi người sẽ liên đới với nhau và như vậy sẽ có hạnh phúc. Với Khổng Tử “lễ nghĩa” là “luật lệ”. Nếu mọi người lấy điều lễ nghĩa mà cư xử với nhau thì sẽ “Tứ hải chi nội giai huynh đệ giã” bốn bể đều là anh em cả.

Như ta thấy: Héraclite, Socrate, Platon, Phật Thích Ca, Khổng Tử, Lão Tử sinh ra cùng thời cách đây 2500 – 2600 năm và đều cùng có những tư tưởng tương đồng nhau, mặc dầu ở những miền cách xa nhau cả mấy ngàn dặm, lại không cùng một chủng tộc, một tiếng nói, một phong tục, một văn hoá. Tại sao những tư tưởng đó lại có thể nảy sinh ra cùng một lúc và tạo ra những triết lý mà cho tới bây giờ vẫn là nền tảng của triết học?

Theo tôi suy luận: Những triết lý chỉ có thể thành hình được khi tri thức con người đã  đạt đến trình độ không còn phụ thuộc vào những nhận thức của ngũ quan và cảm nhận, và con người có thể diễn tả được qua chữ viết những ý tưởng một cách có mạch lạc, có hệ thống trong một ngôn ngữ đã bắt đầu phong phú. Cách đây 2500 năm, tư tưởng của các vị hiền triết đến từ tri thức đã chín muồi của con người nói chung chứ không phải là của một miền nào trên trái đất hay của một dân tộc nào.

© 2010 Phong Uyên

© 2010 talawas

Bình luận

1 bình luận (bài “Phong Uyên – Những ý niệm tương đồng trong tư tưởng các nhà hiền triết Hi Lạp, Phật Thích Ca, Khổng Tử, Lão Tử (phần 1)”)

  1. Tôn Văn viết:

    SO SÁNH

    Thưa Anh Phong Uyên,
    Tôi mến đọc anh từ thời talawas – “CẬN” talawas blogg; Nay đọc anh vẫn thấy hứng khởi như xưa. Vì bài viết dài, tôi tạm đọc từ từ và ghi lại nhưng cảm nhận nhỏ để … tổng hợp lại sau.

    1
    Anh viết: “… nếu chịu khó tìm tòi so sánh sâu rộng hơn, sẽ thấy…” nhắc tôi nhớ lời Cụ Hồ: “So đi sánh lại, xem (chuyện) trước hiểu (việc) sau; Đó là cách tìm ra chân lý của quần chúng”. – Công cụ so sánh thật là quan trọng và cần thiết!
    2
    Xin đồng ý với anh rằng có quá nhiều người “… quên nguồn gốc Phương Tây là Ấn Độ, không những về địa lí mà còn về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hoá,…”. Các cụ ngày xưa cũng gọi người Ân-độ là TÂY, nhưng gọi rõ là TÂY QUĂN (vì tóc quăn) để phân biệt với TÂY TRẮNG là Pháp. Sau này ta cũng gọi NGA (đa phần đất nằm ở Á-tế-á) là TÂY chắc để phân biệt với TA và TÀU? Tuy nhiên khi đi vào so sánh, anh lại xếp Ấn-độ (với Thích Ca) vào PHƯƠNG ĐÔNG…

    Chưa đọc hết mà đã … ý kiến thì thật … tiểu tiết. Nhưng cũng để chứng tỏ tôi mến đọc anh!

    Trân trọng.

  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>