Khải Minh – Truyện điệp âm
28/02/2010 | 7:07 sáng | 11 Comments
Category: Sáng tác, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: Nghìn năm Thăng Long > Truyện Điệp Âm
I. Khái niệm
Chuyển Độc âm (từ đơn tiết, hình vị, phát âm từng từ một) thành Điệp âm (phát âm một từ nhiều lần) của từ trong tiếng Việt, chúng ta có thể tạo nghĩa mới cùng lúc tạo diễn biến cho truyện để dẫn đến những bố cục mở, mở từ đầu đến cuối của truyện.
Một từ ở dạng độc âm thí dụ từ “núi” thường có nghĩa đen là “núi đồi địa chất” hoặc có nghĩa bóng ở ngữ cảnh “núi sông” (quốc gia, đất nước). Nếu chuyển sang dạng điệp âm như “núi núi sông” thì “núi núi” ở đây sẽ được suy tưởng với bối cảnh của truyện để gợi thêm ý trong khi sáng tác hay khi đọc. Vì vậy, tùy cách suy tưởng của mỗi người, truyện Điệp Âm có thể gợi ra nhiều tình tiết và khai triển những bố cục mới.
II. Kỹ thuật – nội dung – hình thức
1. Cách đọc những chỗ điệp âm trong truyện sẽ nhanh, chậm, mạnh, nhẹ, trầm, bổng v.v… tùy theo bối cảnh và cảm ứng của người đọc.
2. Có thể thêm phụ từ (giống kiểu thêm phụ bản trong thơ Đa Đề) vào chuỗi điệp âm để gợi sự liên tưởng hay mở rộng nội dung của truyện. Thí dụ từ “Hắn” có dạng điệp âm là “Hắn Hắn Hắn”. Thêm phụ từ “sử” vào, chúng ta sẽ có dạng “Hắn Hắn, Sử, Hắn” thì người đọc sẽ hiểu “Hắn Hắn” ở đây đồng nghĩa với “Lịch Sử”.
3. Theo cảm ứng riêng, người đọc có thể thêm hoặc bớt hoặc thay đổi các điệp âm hoặc các phụ từ trong bản gốc.
4. Xét về nội dung thì phụ từ trong điệp âm sẽ chuyển hóa được nhiều ý niệm (từ cụ thể đến trừu tượng, từ thiên nhiên đến văn hóa, từ kiến thức đến kinh nghiệm v.v…) thành cốt truyện. Cách chuyển hóa này khiến tư duy của người sáng tác lẫn người đọc tự mở ra những dạng nội dung vừa chung vừa riêng, vừa thực vừa ảo, luôn luôn mới lạ nhưng không ngớ ngẩn hay lố bịch (vì những chuyển hóa này bắt nguồn từ kinh nghiệm, văn hóa, tư duy, kiến thức… của người đọc).
II. Các thí dụ
1. Trăng
“Trăng”: nghĩa đen là một hành tinh trong Thái Dương Hệ. Nghĩa bóng là “âm”, “tuổi”, “phụ nữ trẻ”, thời gian v.v…
“Trăng Trăng”: Mang những ý nghĩ khác, khác từ một phần hay toàn phần so với “Trăng” ở dạng độc âm. Ý nghĩ khác này tự nảy sinh cùng bối cảnh khi sáng tác.
2. Trống
a. Trống (độc âm): dụng cụ trong âm nhạc;
b. Trống Trống: Tùy theo bối cảnh. Có thể gợi ra các ý nghĩa như Văn hóa, truyền thống, thông điệp. v.v…
3. Thăng Long
a. Thăng Long (độc âm): Thành phố, Thủ Đô cũ…
b. Thăng Thăng Long: Lịch sử Thăng Long, Hà Nội ngày nay…
c. Thăng Thăng Thăng Long: Người Hà Nội, Biến chuyển văn hoá v.v…
4. Hắn (Người đó, ông ta, lão, khứa… một cách gọi nhân vật trong truyện)
a. Hắn: một nhân vật ở ngôi thứ ba.
b. Hắn Hắn: có thể là lịch sử, là quốc gia, là văn hóa… tùy theo bối cảnh của truyện.
c. Hắn Hắn Hắn: một cấu trúc nghệ thuật cho bối cảnh của truyện.
III. So sánh với thơ Đa Đề (http://www.talawas.org/?p=13246)
1. “Phụ Bản” trong thơ Đa Đề là “Phụ Từ” trong truyện Điệp Âm.
2. Nếu thỏa thuận “A”, “A A”, “A A A” là ký hiệu của điệp âm trong truyện thì so với các ký hiệu ~, -, _ của thơ Đa Đề chúng ta có:
“~” = “A A A” (lập lại trên 2 lần: Mở rộng bối cảnh thành nghệ thuật)
“-” = “A A” (lặp lại 2 lần: Nghĩa mới theo bối cảnh)
“_” = “A” (độc âm: Nghĩa đen hoặc bóng theo ngữ cảnh)
Xin nhắc lại ý nghĩa các ký hiệu trong thơ Đa Đề như sau:
~ : Phạm trù nghệ thuật (sáng tạo, tương tác, bộc phát, trực giác, tư tưởng…)
– : Phạm trù cảm tính (nghĩa bóng, ám chỉ, trừu tượng, liên tưởng, gián tiếp, biểu diễn…)
_ : Phạm trù lý lẽ (nghĩa đen, lịch sử, thực tế, cụ thể, trực tiếp, hành động…)
IV. Truyện mẫu:
Trống Trống _______Vỡ Thăng Thăng Thăng Long
Hắn Hắn có tư tưởng mỗi ngày phải đánh đánh đánh bao nhiêu có thể những ba hồi chín tiếng vào mặt trống trống ở Hà Nội.
Phải kể từ trước khi chào đời, trống trống đã nhập vào tư duy hắn. Mỗi lần nghe trống, huyết huyết thống lại hiện thân và bừng bừng bừng lên nơi hắn. Mẹ Mẹ hắn kể lúc cái trống làng vừa lủng thì mang thai hắn. Nghĩa là hắn hắn là âm thanh và sứ điệp của tổ tiên đầu thai.
Theo truyền truyền thuyết hồng hoang, nòi giống hắn hắn tin vào thần thánh, mỗi khi có người chết, họ khoét rỗng một khúc cây rồi liệm xác vào. Khúc cây bao giờ cũng dài hơn thân thân thể người chết. Khi chôn, họ cưa phần đựng xác ra và đặt xuống huyệt. Phần còn lại thì đựng hồn, họ đem về để cúng vái. Những người đưa đám cũng đem những khúc gỗ đựng hồn của riêng dòng họ của họ theo. Mọi người vừa đi vừa gõ trống để tiễn xác vào lòng đất và rước hồn của người chết về đình làng. Cội nguồn trống trống từ những khúc cây thần linh đó mà sinh ra. Dòng dòng giống của hắn Á châu hắn tiến hóa theo những âm thanh, dùi và hình thể của những cái trống trống rỗng đó.
Hắn Hắn ở trong bụng mẹ rất lâu, từ hồng hoang đến hết thời đồ đá. Khi mẹ hắn chuyển bụng, người ta phải đánh trống Ấn Ấn Độ, chơi điệu Hmong, nhảy Trung Nguyên, hét Nôm để giúp mẹ hắn sinh ra. Hắn hắn hắn hắn, một sinh nở của nghệ thuật. Khi ra đời hắn khóc hoài hủy. Cha Cha hắn dù đã vỗ đủ loại trống hắn cũng không im, cuối cùng ông ta phải vừa coi tướng hắn vừa tự tay làm trống riêng cho hắn, dùi cũng theo tạng hắn để dỗ hắn yên. Mẹ hắn tìm đủ mọi thứ trống cho hắn hắn chơi. Hắn ham trống quá không chịu học, cha mẹ hắn lại phải đem tâm huyết mà viết chữ, khắc hình, tạo nghệ thuật ngay trên mặt trống cho hắn có văn hiến. Dần dần, người nước hắn ai cũng chơi trống thiện nghệ và từ đó dân số và văn hóa của nòi giống hắn phát triển rất nhanh.
Nền văn hóa của dân dân hắn là trống trống trống. Tỏ tình họ dùng trống cơm. Thức ngủ họ dùng trống làng. Giờ tí canh ba họ dùng trống canh. Mang bầu họ gọi là mang trống ngược. Cầu nguyện họ gõ trống Kiệu. Gọi nhau họ gióng trống Cái. Mở hội hát hò họ chơi trống Chầu… Ðàn ông biểu lộ tình cảm bằng cái dùi trống. Con nít lấy trống cái, trống con làm bánh xe lăn lộn khắp nơi. Trai gái trong đêm tân hôn thì chơi chơi trống, trống lủng.
Trong thực tế, trống trống đã phù trợ dân tộc hắn như thần thánh phù trợ kẻ mộ đạo. Trống làm thú dữ sợ hãi. Trống trống làm kẻ gian hoảng loạn và hối lỗi. Trống làm giặc tưởng là những quả bom khổng lồ. Trống làm voi rừng quì mọp xuống và rồng phượng bay lên. Trống trống trống lung lay bóng nguyệt và trống trống trống trống thôi thúc dân dân Đại Ngu dân Đại Cồ dân hắn nhiều phen trở thành anh hùng.
Trống trống nghệ thuật kia đã để lại những kỳ tích cho dân hắn. Luật pháp của nước hắn là trống: Khen thưởng ai, thì trống với dùi tưng tưng. Xử chém thì gõ trống trảm. Trống trống gọi tổ tiên về chứng giám cách trị nước. Khi chính quyền khen nịnh hay xử lận ai, người đánh trống bị dùi làm run tay khiến trời đất nổi gió bụi, sấm nổ và sét đánh nát trống ra để cứu kẻ vô tội. Nhiều vua quan bê bối đã bị mảnh vỡ của trống lúc giận văng ra và chém cụt cụt dùi hoặc làm sập không ít những cột kèo cung triều. Nhiều lần xét bậy như vậy, dân dân hắn truyền miệng nhau “lệnh vua thua trống làng” và họ đặt câu này làm tiêu chí cho sử sách dân tộc.
Khi hắn hắn vừa đủ lớn để đi học thì cái trống trường làng điều khiển cuộc sống hắn. Trống đánh thức. Trống nhập trường. Trống ra chơi. Trống ra về. Trống hất hắn xuống giường mỗi sáng và trống gọi hắn hắn lên giường mỗi đêm. Rồi trống canh ba, canh tư nhắc nhở bổn phận làm người. Thiên hạ vì trống, xem ra thích thú và tranh đấu cho quyền làm người hơn là giữ bổn phận công dân của một nước độc độc tôn độc độc đảng. Dân dân số và dân trí nước hắn vì thế lại tăng lên rất nhanh.
Mỗi lần binh biến, trống trống trống lại thùng thùng rung chuyển núi rừng, ầm ầm ầm điều binh khiển tướng. Dùi dùi dùi vọng thẳng băng lên thần thánh và trống trống trống rung từng chập từng chập xuống tổ tiên nên dân hắn hắn đã không những giữ vững sơn hà mà còn mở mang thêm bờ cõi.
Có lần giặc giặc Ni Hao (Trung Quốc) giặc từ phương bắc vừa gươm đao vừa sách đạo đã ồ ạt tràn xuống chiếm quê hương hắn. Vậy mà đến Mê Linh, đàn bà nước hắn chỉ vỗ bì bạch vào da da trống đã khiến giặc từ tối mặt u mê đến thảm bại. Giặc đi rồi, dùi dùi với trống loay hoay trong cảnh hậu chiến ngổn ngang chợt thở than:
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng, khăn trở, lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Chênh chếch trăng tà lẻ bóng soi
Ngân Giang – “Vịnh Hai Bà Trưng”
Âm thanh đặc cảm tính thở than này đã vang vọng và dần ngấm vào tâm não lẫn dùi dùi của dân hắn và không biết kiểu hờn mát làm ngắn ngắn tư duy, ngắn dùi này đến bao giờ mới dứt.
Rồi triều đại nối tiếp triều đại, lãnh tụ cứ lấy dùi dùi to dùi nhỏ mà trị nước nên chẳng mấy ai thọ lâu. Dân theo đó cũng thi nhau thử nghiệm các kiểu dùi, triết lý các loại da da, tranh luận các nết sơn, sưu tầm các thế chơi. Rồi từ cung vua chúa đến mái cùng đinh, nhà nào cũng dùi dùi với năm bảy cái trống. Dân hắn hắn chơi trống đến mê muội, đến tranh chấp, đến kiệt sức, hóa nghèo và đạo tặc nảy sinh. Lúc này trống trống cứ đụng sơ dùi vào là lủng.
Dù có người đem kinh nghiệm gẫy dùi ra nói “cái nết đánh chết cái đẹp” nhưng số phận cái vật tổ kia cũng không khá hơn. Dần dần, cái trống dân tộc chỉ còn dùng để trưng bày và thu hút bụi bặm. Hôm cha hắn chết, hắn hắn khoét khúc cây vừa đủ dài với thân thể để liệm xác chứ không chừa một chỗ để làm trống như truyền thống. Chưa hết, ở nhà còn bao nhiêu trống, hắn lại kêu con cái và hàng xóm mỗi người mang mỗi cái vừa gõ tắc cùng, tắc cùng vừa rước xác cha hắn ra đồng. Trên đường đi, thấy cảnh con đàn cháu đống khệ nệ với trống, hắn nghĩ nhà đã chật chội lại đông con, đem trống về chỉ tổ kềnh càng, hơn nữa không chôn nó đi, nó lại nhập vào bụng vợ mỗi năm thì nạn nhân mãn sẽ làm hắn vỡ nợ. Nghĩ rồi lúc hạ huyệt, hắn chôn cả người lẫn tất cả trống vào một lỗ. Dân làng thắc mắc thì hắn trả lời làm vậy văn minh hơn dân Chàm, mình chôn trống, họ chôn sống. Ai đồng ý thì chôn, ai không ưng thì đem về đình mà thờ.
Dùi dùi kiệt sức rồi mất thiêng, chính quyền dùi mất lý trí lẫn công lý liền lấy trống làm biểu tượng văn hóa và áp đặt làng xã hắn phải trống trống thế này dùi dùi dùi thế kia. Sự kiện này làm hắn hắn mất dần tự do rồi ngoại cảnh lẫn nội thất của dân tộc hắn cũng từ những gò bó đó mà thay đổi theo.
Một ngày kia, dân hắn thấy người lạ từ khắp nơi giong buồm đô hộ đến. Không còn ai biết nổi trống truyền thống như xưa nên trống báo nguy nghe như báo mừng và người người chỉ còn biết la to hét loạn cùng nhảy tưng tửng. Người ngoại quốc thấy vậy lại tưởng được dân hoan hô nên họ cứ tự nhiên tiến vào chiếm đình làng.
Vào đình, chẳng thấy gì ngoài mấy cái trống cũ cũ kỹ. Tò mò, họ gõ thử mấy cái thì thấy lớp bụi trên mặt trống chuyển động nhịp nhàng, vòng vòng xếp xếp như những điệu múa điêu luyện, độ rung đầy bí ẩn và âm thanh như có tiếng người. Họ đem vật tổ của họ là những cái mõ, cái chuông ra gõ để so sánh thì thấy đồ của họ chỉ boong boong keeng coong nhạt nhạt nên họ quyết định ở lại để thuần hóa tiếng trống kia vào cuộc chơi mới. Thế là thời đô hộ mở màn.
Phần dân hắn hắn, mấy đứa nhỏ lâu nay vì không ai dậy chơi nên dùi lụt và coi thường trống, giờ thấy chuông chuông mõ mõ lạ tai chúng liền đem trống trống Tổ đổi lấy của chuông Tây.
Chưa ai kịp xếp đặt trống với chuông ra sao thì Đại Chiến thứ nhất, thế chiến thứ hai, lịch sử thế giới sang trang. Trống cũng từ biến chuyển toàn cầu đó mà dần biến mất khỏi các sinh hoạt đời sống. Ở nhà quê, hết trống rồi, lâu lâu hắn hắn đem cái dùi dùi ra xoa. Đang buồn buồn, hắn chợt nghĩ đến vợ đang thổi thổi lửa nấu canh, tức thì cái dùi dòng giống kia biến thành cái chày giã cua. Hắn Hắn và Hắn chỉ còn tưởng tượng được là đem dùi trống mà giã cua thì những bát bún riêu sẽ ngon hơn, đời hắn hắn nước hắn sẽ bớt nhạt nhòa đi.
Dịp may cuối cùng với trống là nhờ vợ hắn biết dùng cái dùi kia đúng nơi đúng lúc mà năm sau hắn Nguyễn Hữu Nghĩa hắn đỗ thủ khoa. Nhưng cũng vì dùi dùi mà ông trạng nguyên đầu tiên của miền Nam bị vạ oan. Biết rằng không còn hy vọng gì nơi vua chúa nữa, vợ vợ hắn đành vác trống đi bộ từ Miền Nam ra Thăng Long vừa đi vừa vỗ trống thùm thụp thanh minh cho chồng. Ðó là lần cuối cùng trống giải oan và cứu được người.
Nhưng vắng tiếng trống, vắng anh tài hào kiệt. Thay vì thuần hóa chuông mõ thì dùi dùi trống trống truyền thống cứ từ từ biến dạng theo thời thế khánh chuông. Rồi chuyện không nên đến cứ đến, dùi ngỏng một nơi trống căng một nẻo theo sự định đoạt của ngoại bang.
Dân tộc hắn mất hẳn phương hướng, có kẻ bán hồn cho cái âm thanh từ thanh sắt phế thải của ngoại bang mà gõ lên lạnh hồn “Thương mình thương một, thương Ông thương mười” (Tố Hữu). Thanh sắt thô kệch và thổ tả kia giờ biến thành cái kẻng và trở thành biểu tượng văn hóa của chính quyền mới. Kẻng Cải Cách Ruộng Đất, kẻng pháp trường, kẻng tuyên dương, kẻng tù tội, kẻng hợp tác xã, kẻnh lao động nông trường, kẻng lẻng kẻng Xã Hội Chủ Nghĩa.
Thần linh nước hắn chắc đã già nên không còn can thiệp vào sự sống chết của dân hắn nữa. Hắn Hắn cũng nặng tai đi, tiếng chuông, tiếng kẻng không còn làm hắn đủ sức giật mình. Sợ cuộc chơi dang dở, ngoại bang lại đánh thức hắn và con cháu hắn bằng tiếng gì lạ hơn, lớn hơn, mạnh hơn, cô hồn các đảng hơn: Tiếng tiếng súng ______ 20 năm.
Với tiếng tiếng súng, thần linh già bị bắt hắn đến hết thiêng, tai tổ tiên bị tiếng súng đại bác làm điếc đặc, dân hắn cộng hòa xã hội chủ nghĩa hắn sinh sát tự tiện và tư duy như loài thú. Lúc cuộc chơi của ngoại bang chấm dứt, dân hắn đồng chí hắn không còn biết lấy gì để nhận biết nhau. Cảnh loạn tư duy sinh ra đủ trò quái đản. Có kẻ ôm trống đi tìm dùi, có người giật chuông khi kéo pháo. Ở đây mõ tụng kinh, ở đó những bảo tàng súng ngắn súng dài. Đám này tiếng Mỹ, tiếng Nga; đám kia theo Pháp, phò Hoa. Gần đây nhất là những tiếng chửi rất tục tĩu oang oang từ mặt đất nước lên đến mạng ảo toàn cầu và tàn phá văn hóa hắn hơn cả tiếng súng. Chính quyền dân hắn lơ láo đi ra ngoại quốc làm đủ trò cười cho thiên hạ. Có lãnh tụ thay vì nói ở nước tôi có rất nhiều trống đẹp thì chỉ còn biết nói có rất nhiều gái đẹp. Con cháu hắn lang thang vào vùng kinh tế thị trường, thấy đồ cổ có giá, chúng liền mượn cớ cần vật liệu để xây thành đồng tổ quốc mà tra vấn, bắt hắn đào mộ ông tiên tổ lên tìm trống đem bán đấu giá. Hắn Hắn giả dối nói là không nhớ, giả dối nhiều qúa hắn hóa thành không nhớ thật. Điều này sinh ra hiện tượng viết phản hồi xỉa xói, chửi mắng lung tung không một chút suy xét hay nêu cách giải quyết vấn nạn trên các mạng thông tin.
Bên các đình đám, người ta thấy một người như ăn mày, quần áo rách rưới đang lấy gậy đánh vào những vỏ lon Cocacola và những vỏ chai Volka lượm ra từ các thùng rác, vừa đánh như đánh ba hồi chín tiếng vừa hát “chống chống chống” thay vì “trống trống trống”. Chung quanh ông ta là một bầy con nít xúm lại vừa nhìn vừa nghe thích thú và hát hò theo ông:
“Còn lon, còn nước, còn chai
Ðánh thắng giặc Mỹ trùng lai ao đầm”
(Nhại Bùi Giáng:
Còn non còn nước còn dài.
Còn chơi lắm cuộc trùng lai ao đầm.
Bản dịch Kẻ Vô Luân Võ Tánh, Sài Gòn, 1968, trang 152.)
Hát chán rồi, ông ta và bầy con nít lại đi bới rác.
Nhà nước nước đồng chí nước, nơi có biết bao người qua lại, nhất là những kẻ tưởng mình có quyền sinh sát, nhưng hình như chỉ có mình dùi ông già và đám con nít kia nghe được tiếng tiếng trống trống trống xa xưa vọng về.
Đêm thế kỷ 21, có tiếng nổ lớn giữa canh ba, nhưng giờ đó, người Thăng Long thời nay chẳng có ai giật mình. Sáng hôm sau, người ta được biết là có kẻ làm việc cho cơ quan nhà nước, vì sợ sự minh bạch đã lén đánh bom để hủy thành thành tích tích gian lận. Chẳng may đêm đó ông già kia lại ngủ ở ngoài thềm cơ quan này nên bị bom nổ làm bung ruột gan mà chết. Nhiều người đến coi, thấy trên mặt ông gân guốc nổi lên những hình tượng rợn rợn như trên mặt trống mà người ta đã tìm được khi đào huyệt tống táng.
Cái trống tìm thấy khi đào huyệt chôn ông già đã gợi ý và giúp một số người tìm được trống trống thật nhưng khi họ đánh lên thì âm thanh lại bị biến dạng. Có phải vì dùi của họ chưa hồi phục sau chiến tranh, hay vì bị nhập nhòa với tiếng loa phường phường chính trị?
1000 năm Thăng Thăng Long!, những tiếng Ni Hao thời xưa lại đang tràn xuống, bạn có muốn cùng tôi đem dùi đánh đánh đánh đánh vào những cái trống trống rỗng ở Hà Hà Nội để hồn lẫn xác Việt Nam được hiện ra nguyên hình không?
© 2010 Khải Minh
© 2010 talawas
Bình luận
11 Comments (bài “Khải Minh – Truyện điệp âm”)
“8. Tại sao Nguyên cứ phải CHỬI một câu để kết luận phản hồi?”(Khải Minh)
Bác Khải Minh ôi, bác Nguyên có CHỬI một câu gì đâu mà bác lại nói vậy? Bác làm cho không khí phản hồi đang (điệp) âm ấm (đầu) ầm ầm, giờ trở nên lanh lành lạnh (nhạt nhàn nhan) hẳn ra. Bác muốn “đem dùi đánh đánh đánh đánh vào những cái trống trống rỗng ở Hà Hà Nội để hồn lẫn xác Việt Nam được hiện ra nguyên hình”, nhưng chẳng ai hưởng ứng cả. Bác Nguyên thì bảo “Thôi thì thôi thế thì thôi!”. Chúng ta biết phải làm gì bây giờ? Thôi, thôi thì tiến thối lưỡng nan, nan nản nàn nan, tôi đành đành hanh đanh đá đa đả một câu như thế này: “Chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có đa đảng, ấy chết, quên mất, hồn lẫn xác Việt Nam phải hiện ra nguyên hình!”. Chúc bác và bạn đọc talawas cuối tuần vui vẻ!
@Khải Minh
Xin trả lời: tôi anh, tôi ành, tôi ảnh, tôi ành ành nên miễn tội tôi tôi miễn tái sinh tái tạo tái bản kiến kiến văn văn kiến thức của nhân nhân loại để đáp lại các câu câu hỏi hỏi của nhân dân loại anh hùng. Xin lỗi! Đây có phải là lúc nhân loại tìm về ngôn ngữ vô âm của những người câm câm điếc điếc để kiến tạo một ngôn ngôn ngữ ngữ chung cho nhân loại? Như thế thế thì người mù không thấy được thì làm sao hiểu đây? Thôi thì thôi thế thì thôi! Đành chịu vô ngôn vậy thôi! Tội tôi tôi tối tội tồi!
chào, Hello, Hallo, Alô Nguyên.
1. Đố Nguyên biết tại sao những người gần biển trên thế giới đều nói ngọng không?
2. Tại sao những dân tộc ở những đảo thường chỉ có vài âm tiết đơn giản thí dụ như dân Hawaii chỉ có khoảng 9, 10 âm tiết (A, Ô, I, U,…), Dân Nhật thì I, A, Ô, U, …
3. Như thế nào mà từ một ngôn ngữ gốc Latin mà sinh ra văn và văn hóa Pháp (lãng mạn) Đức (mực thước), Anh (thực tế), Mỹ (thực dụng)….
4. Làm cách nào để văn hóa không bị đào thải qua ngôn ngữ của người đô hộ không? Thí dụ Việt Nam không bị Tiếng Hán (Trung Quốc) thuần hóa. Haiti không bị tiếng Pháp thuần hóa. Philippines, Hongkong, Ấn Độ không bị Anh hóa.
5. Tại sao một mặt chữ lại có nhiều cách phát âm khác nhau (như tiếng Trung Hoa, Tiếng Nhật ) không?
6. Có bao nhiêu cách đặt tên cho vạn vật? (tại sao lại gọi là Trăng thay vì Moon, hay Lune, hay Nguyệt? Tại sao lại lấy đơn vị điện là Volt, Amper, Ôm ?
7. Tại sao có CHỮ NÔM và CHỮ QUỐC NGỮ .
8. Tại sao Nguyên cứ phải CHỬI một câu để kết luận phản hồi?
Sau khi thông suốt các câu hỏi trên, mời Nguyên suy nghĩ thêm là chữ Nôm đã đóng vai trò gì trong việc sống còn của văn hóa Việt trước tiếng Hán.
Và theo Nguyên chúng ta phải làm gì để không bị tư duy Cộng Sản thuần hóa.
Mượn mấy hàng của Lê Phụng nói về Văn Học Việt Nam đã làm sao không bị Hán thuần hóa tại đây:
http://www.truyen-thong.org/so34/3.html
Trích:
văn học hậu bắc thuộc có thể chia ra làm bốn nhánh.
Nhánh thứ nhất gồm những tác giả chỉ sáng tác bằng chữ Nho, tức chữ Trung Quốc đọc theo âm Việt Nam, nhưng những hình ảnh trong văn hoặc thơ không vì vậy không là những hình ảnh quen thuộc trong văn thơ nôm. Nhánh này dường như đông đảo nhất, gồm như toàn thể các nhà văn nhà thơ đời Lý đời Trần, qua đời nhà Lê, xuống tới nhà Nguyễn, tỷ như Cao Bá Quát.
Nhánh thứ hai, tiêu biểu là Nguyễn Trãi, sáng tác cả bằng chữ nho và chữ Nôm. Hai dòng sáng tác này dường như không liên quan với nhau.
Nhánh thứ ba là nhánh sáng tác bằng chữ nho và chữ Nôm, nhưng hai dòng sáng tác đó, trái với nhóm thứ hai, liên quan mật thiết với nhau, hơn nữa có nhiều bài tác giả tự dịch từ bản chữ nho thành bản chữ nôm hoặc ngược lại. Đó là trường hợp của Nguyễn Khuyến. Song song với dòng thơ tự dịch của Nguyễn Khuyến, là những sáng tác dân gian, thường không có tên tác giả, dùng chữ nho như đễ đùa rỡn, chọc cười mua vui, tỷ như truyện Trạng Quỳnh, cũng như một số truyện truyền miệng chép trong sách Truyện Cổ Nước Nam của Nguyễn Văn Ngọc, hoặc để tạo ra một dòng thơ mới như trong những bài hát nói.
Sau hết nhánh thứ tư gồm những nhà thơ làm thơ hoàn toàn bằng chữ nôm như Hồ Xuân Hương và những nhà thơ viết rất it bằng chữ nho và rất nhiều bằng chữ Nôm, như Nguyễn Công Trứ. Ngoài ra còn những truyện dân gian đọc trẹo chữ nho hay phỏng theo văn xuôi Trung Quốc để sáng tác ra những nụ cười, tương tự như người Ý Quốc nhại tiếng La Tinh, người Tây Ban Nha kể lại những hành vi bất luơng của gã Lazarillo vùng Tormès, và đồng thời bày tỏ khuynh hướng đối kháng văn học Trung Quốc tựa như văn học Ý Quốc và Tây Ban Nha đối kháng với văn học La Tinh. Việc đọc trẹo chữ nho này theo giới nghiên cứu tư tưởng hậu ngoại thuộc là tìm tính tạp chủng trong văn học.
Nhận xét thâu thập được cho thấy là văn học hậu bắc thuộc hằng có một phần màu sắc vượt ra ngoài khuôn khổ văn học Trung Quốc dầu bị ảnh hưởng sâu rộng của nền văn học đó.
________________
Chúc Nguyên luôn vui vẻ.
Khải Minh
Xin cầm dùi cong đánh thêm về ngôn ngữ Papua New Guinea (PNG) và các điệp ngữ là lạ cho đỡ trống rỗng thay vì phải trống mái cũng như vì chán cảnh trống bỏi.
PNG có 800 ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau (langues, không phải dialects) trước khi tiếp xúc với người da trắng. Sau đo thổ dân PNG dùng pisin làm ngôn ngữ chính thức. Pisin vay mượn rất nhiều từ của Tây phương để làm vốn ngữ vựng một cách thô sơ, được diễn tả phát âm cục mịch và pisin chưa đủ sức để được dùng như là một ngôn ngữ cho tri thức. Thí dụ:
moning moning= good morning;
morning tru= very good morning;
moning taim= morning time, in the morning;
apinu tru= very good afternoon;
sam= same
sam sam= VERY much the same, VERY similar (điệp ngữ để nhấn mạnh ý);
draiv isi= drive carefully;
draiv isi isi= drive VERY carefully;
de= day;
mun= month;
nhưng khi nói về năm (year) thì pisin dùng chữ krismas= year (vì 1 năm có 1 lần Christmas):
pikinini= child;
lik pikinini= young child;
lik lik pikinini= VERY young child = baby (lại điệp ngữ);
meri= girl;
wantok meri= my girl (girl friend);
meri bilong mi= my wife.
Như độc giả thấy pisin dùng nhiều chữ na ná như trong Anh ngữ dầu cách viết khác. Tuy nhiên, tiếng Đức cũng thấy được dân PNG pisin-hoá để xài tạm. Thí dụ: wasser trong maus wasser.
Chữ maus= mouth (miệng)
gras= grasse (cỏ)
maus gras= cỏ trên miệng= râu mép (mustache)
:-{o
Còn wasser= water= nước=> sông = river
maus wasser=cái miệng có con sông= smooth talker who talks a lot about non-sensical things= (tạm dịch sang Việt ngữ là một người nói dê dê dê dê= người 4 dê = người có đủ 4D khi nói đó là nói dài, nói dai, nói dở, và nói dóc.
Tham vọng ngôn ngữ của con người, nhìn sao thấy tội nghiệp!
Anh Trương Đức ơi, VN từ trước tới nay đã trải qua và sống còn với các cơn bão văn hoá Tàu (sống còn bằng chữ nôm), Pháp (sống còn bằng chữ Quốc Ngữ), Anh Mỹ (sống còn bằng các thể loại thơ văn truyện nhạc kịch hát bội, cải lương) nay đang phải đối phó với ba cơn bão. Cơn bão văn hóa Cộng Sản, Cơn bão văn hóa người việt Hải Ngoại, Cơn bão kinh tế lẫn văn hóa của Trung Quốc.
Trước khi bàn về văn hóa Việt Hải Ngoại, Khải Minh xin giới thiệu anh những bài viết rất hóm hỉnh và trí thức về cách cha ông chúng ta đã làm sao để sống còn qua thời Tàu Đô Hộ ở đây.
http://www.truyen-thong.org/so34/3.html
Và một ông Mỹ lấy vợ Việt nói về sự sống còn của văn hóa trống dùi (căn cước văn hóa Việt) ở đây:
http://books.google.ca/books?id=kwdh3n6cdokC&printsec=frontcover&dq=shaun+kingsley+malarney&source=bl&ots=5YuZlylPfy&sig=pQAh_8sehnGRa7o1CjFIRl2In6c&hl=en&ei=ASeNS6_iKIuPtgf27qDwCA&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=2&ved=0CAoQ6AEwAQ#v=onepage&q=&f=false
Và bài điểm sách của Bùi Tiến Rũng và Lâm Văn Bé ở đây:
http://www.truyen-thong.org/so34/6.html
Xin chép vài đoạn vì bản chính có nhiều chỗ font chữ khi đưa lên net bị lộn xộn:
Người Việt hải ngoại đã xa quê hương được hơn một phần ba thế kỷ. Hơn thế nữa, người di cư từ Bắc vào Nam năm 1954 thì đã xa nơi chôn nhau cắt rốn từ hơn nửa thế kỷ. Dù là phần ba hay nửa thế kỷ, đó cũng là một khoảng thời gian quá dài, đã vậy thời kỳ này lại đầy dẫy những đổi thay, hay đúng hơn là đổi đời, có một không hai trong lịch sử Việt Nam. Đổi đời về đủ mọi chiều hướng, bề mặt cũng như bề sâu.
Ngày nay khi về thăm quê hương, ngườiViệt chúng ta thường có chuẩn bị trước về tâm lý để trực diện với những đổi thay, để có thể chấp nhận và coi đó là chuyện tất nhiên phải có. Tuy vậy, không ít người trong chúng ta khi tiếp xúc với một số bằng hữu hay quyến thuộc ở trong nước, kể cả những người thân thiết nhất, vẫn thấy ở nơi họ có những khía cạnh là lạ và khó hiểu. Người về thăm chú em ruột thấy “chú ấy bây giờ khác lắm “, người về thăm quê gặp bà con cḥm xóm vốn thân thiết lâu đời nay sao thấy họ “có thái độ khác trước” làm cho ta phân vân khó hiểu. Trong căn bản, vẫn có tình họ hàng, có tình làng xóm, đồng thời “có một cái gì khác lạ”.
Nếu ta tìm hiểu những thay đổi về văn hóa đại chúng, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả tục lệ, nghi lễ, tôn giáo, tín ngưỡng, đạo đức.… đã diễn ra tại Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua, ta có thể nhìn thấy bối cảnh và hiểu thêm về cội rễ của những thay đổi nơi con người. Những hoàn cảnh nào đã làm cho con người Việt Nam thay đổi về mặt này mà không đổi về mặt khác, phần nào là phần đã thay đổi ngay trong bản chất con người, và phần nào chỉ là kết quả của sự thích ứng với chế độ để mà sống ? Con người ta, sau khi đã chịu thích ứng trong thời gian dài, thì liệu còn có thể biết phản ứng, để còn chút hy vọng phục hồi và tìm lại được cái căn tính văn hóa của mình chăng ? Dưới một chế độ hà khắc như vậy, phản ứng bằng cách nào ? Từ những yếu tố đó, ta có thể tiên đoán văn hóa hậu Cộng sản sẽ đi về đâu ?
Tác giả Shaun Kingsley Malarney là một giáo sư nhân chủng học của Viện Đại học Công giáo Quốc tế Tokyo, ông quen thuộc với xã hội Việt Nam và gần gụi với đất nước này. Ông đã dành nhiều năm đi xâu vào đời sống làng xã miền Bắc Việt Nam để quan sát và phân tích những chuyển hóa trong nếp sống gia đình, xã hội, tâm linh, và trong văn hóa đại chúng cũng như lễ tục của người dân, với cái nhìn khách quan của một nhà nghiên cứu xã hội học. Những phân tích ấy giúp ta hiểu thêm về những điều thay đổi, cũng như những điều không thay đổi, nơi con người Việt Nam, qua hơn nửa thế kỷ đổi đời. Công trình nghiên cứu này là đề tài của cuốn sách được University of Hawaii Press xuất bản cuối năm 2002, với tựa đề là “Culture, Ritual and Revolution in Vietnam”, tạm dich là “Văn Hóa, Lễ Tục và Cách Mạng ở Việt Nam”. VÌ là tài liệu khảo cứu có tính cách chuyên ngành, sách này không được phổ biến rộng và cũng không dễ kiếm. Nhiều độc giả quan tâm đến vấn đề mà không dễ tìm được sách. Do đó thiển nghĩ, cố gắng tóm lược nội dung tài liệu này để độc giả có dịp đánh giá là việc làm có thể đem lại lợi ích, trong phạm vi một đề tài của Truyền Thông kỳ này, đó là đề tài “Văn hóa Việt Nam hậu Cộng sản”.
Ngoài việc điểm sách, bài này cũng được bổ túc thêm với những thắc mắc và suy tư của người viết, trong niềm kỳ vọng rằng nó sẽ phần nào thêm sống động và phong phú.
Điểm sách.
Tài liệu dài 247 trang, gồm 9 chương, nói về văn hóa, lễ tục ở Việt Nam từ trước 1945 đến nay, và phân tích những thay đổi dưới áp lực thô bạo của chính quyền, cùng với những thích ứng, dung hòa, hay phản ứng của người dân. Xã Thịnh Liệt và làng Giáp Nhị được dùng làm điạ bàn quan sát, với lý do vùng này gần Hà Nội, “gần mặt trời”, và được chính quyền chiếu cố đặc biệt để làm gương cho các vùng khác. Nhưng các sự việc có thể coi như điển hình cho mọi làng xã miền Bắc.
Độc giả có dịp nhìn từ bên trong để biết Thịnh Liệt, qua nửa thế kỷ sống dưới Nhà nước cộng sản, đã sắp xếp
“Nhớ hồi khoảng mười tuổi, km có cầm dùi theo lệnh của thầy chấm thi Ngắm. Có nhiều ông bị đánh rớt ấm ức đi qua chỗ đánh trống nói vọng vào tai thầy trò dùi rằng: “các các các cặc cặc …. cặc. Bố mày biết là cố chơi bố rồi!”. Biết đâu trò Điệp Âm hôm nay đã sinh ra từ đấy.”(Khải Minh)
Mới mười tuổi mà bác đã “thành thục” sử dụng “dùi” để “chấm” rồi, thì kinh nghiệm về dùi của bác hẳn phải hơn tôi chứ lị!
Không biết trò Điệp Âm hôm nay ra đời từ khi nào, nhưng khi “lục” lại lịch sử văn học, tôi thấy “trò điệp âm” đã xuất hiện trước trong hai bài thơ sau đây:
“…Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia…”(Bà Huyện Thanh Quan)
và muộn hơn:
“Cổng tỉnh người đi
Đường sành tong tong cống chảy
Mưa thu mái phố đổ chàm
Gió thổi hu hu quảng trường nheo nhóc lá…”(Trần Dần)
Cộng với tiểu thuyết “Người người lớp lớp” cũng của nhà thơ Trần Dần.
Lẽ tất nhiên, tôi nêu những điều trên ra, không có nghĩa là tôi có ý định “cãi cọ” với bác về việc ai là người đầu tiên nghĩ ra “trò điệp âm”. Chỉ mong muốn góp vui một chút trên talawas này thôi mà! Ai lại “gây hấn” với nhau làm gì trong khi tình hình VN ta có vẻ đang gặp “gay go” đấy bác, hết “cho khai thác bauxit” đến “cho thuê rừng”, không biết bao giờ VN mới “yên” đây?
Cảm ơn (chứ không phải cám cám ơn) những phản hồi hóm hỉnh hỉnh thâm thâm thúy của anh Trương Đức thật nhiều.
1. Chưa đến nỗi anh ạ, phong trào đồng tình luyến ái kiểu Cuba, Tàu, Bắc Hàn, Việt Nam thì trên thế giới đã hết thời nhưng kiểu bóng thật thì đang là ngọn cờ đầu Cách Mạng trên thế giới. Các lãnh tụ VN “nếu biết cách nói” ( ý Nguyễn Hữu Liêm) thí dụ như Việt Nam có rất nhiều trống trống chim trống đẹp thì biết đâu Hà Nội sẽ bớt bị dùi dùi cui của Trung Quốc dí dí vào (Hiện nay Trung Quốc dí dùi ào ào vào VN dù dí sai chỗ những các lãnh tụ nhà ta lại còn tự nhích nhích cho trúng huyệt mới rầu)
2. Nhắc đến vụ Thơ Đến Từ Đâu nói riêng là nói chung đến Nam Dao (bài tựa truyện Gió Lửa), Nguyễn Hưng Quốc (mấy quyển sách viết về thơ), Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Một số bài viết về kiểm duyệt trên Tiền Vệ, Da Màu, những phản hồi lớ ngớ ngớ… là những cái cười ra nước Việt Hải Ngoại cho nhiều người trong đó có km này. Chắc bà Hoài không muốn thấy cảnh đàn gảy tai trâu hay nội chiến văn thơ phản hồi tương tàn Việt Nam nên tạm khép TĐTĐ lại đợi thời gian cho văn chương, người viết Việt Hải Ngoại trưởng thành hơn hay chờ những cách giải quyết tốt đẹp hơn thôi.
Nhưng vì Trương Đức nên Khải Minh sẽ cố gom lại vụ TĐTĐ vào một hai phản hồi kế tiếp cho xong việc, bớt thói ù lì, bỏ dở, chạy làng mà anh gọi là “để lâu cứt trâu hóa bùn” cố hữu với các vấn đề văn hóa chính trị dù nho nhỏ của đảng và nhân dân ta.
3. Chắc như đinh đóng thịt là anh có kinh nghiệm về dùi hơn km rồi. Gần đến lễ Phục Sinh của người Công Giáo, anh có thể hỏi thăm xem xứ đạo nào có tổ chức NGẮM (một thể loại ngâm thơ ca vịnh) thì ghé mắt vào xem cảnh Ngắm Nhân Tài để thưởng thức.
Ngắm Nhân Tài giống như hát bội. Người Ngắm thì dùng hơi dài ngắn cùng điệu bộ để diễn tả văn bản ngắm. Người chấm điểm giống như người cầm chầu trong hát bội, dùng dùi và trống để thưởng (gõ vào mặt trống) hay phạt (gõ vào thành trống). Ai ngắm đúng hay giỏi nhất thì lãnh thưởng (tương đối lớn). Và như anh nói, khi đánh rớt ai thì gõ vào miệng trống liên hồi cho đến khi người ngắm bỏ đi xuống thì thôi.
Nhớ hồi khoảng mười tuổi, km có cầm dùi theo lệnh của thầy chấm thi Ngắm. Có nhiều ông bị đánh rớt ấm ức đi qua chỗ đánh trống nói vọng vào tai thầy trò dùi rằng: “các các các cặc cặc …. cặc. Bố mày biết là cố chơi bố rồi!”. Biết đâu trò Điệp Âm hôm nay đã sinh ra từ đấy.
4. cắc cắc tùng tùng theo trống Chầu là đúng sai rõ ràng, anh không nên nghĩ lan man. Cái anh nên lan man cũng là vấn đề nan giải thế giới là dùi có còn khả năng vừa gõ vào miệng trống vừa gõ vào mặt trống như thời trai trẻ không. Anh có thể vấn kế Bác Sĩ Tùng Tùng TĐTĐ Tùng rồi.
Hẹn anh các phản hồi kế tiếp.
Khải Minh
“Có lãnh tụ thay vì nói ở nước tôi có rất nhiều trống trống (văn hóa) trống đẹp thì chỉ còn biết nói có rất nhiều gái đẹp.” (Khải Minh)
Bác Khải Minh,
“Truyện điệp âm: dùi dùi trống trống” của bác còn gợi nhớ mấy “truyện” sau, xin chia sẻ với bác:
1. Trời ơi, cái vị lãnh tụ bác nói ở trên làm sao dám nói “ở nước tôi có rất nhiều trống đẹp”, nói vậy “nó đập tôi chết”, thành ra “chỉ còn biết nói có rất nhiều gái đẹp.”
2. Khi dùi Bắc gõ vào trống Nam, sẽ phát ra những điệp âm “tùng tùng cắc cắc”, phụ thuộc vào ta gõ mặt trống hay thành trống. Nếu gõ mặt trống, sẽ làm ta nhớ đến nhà thơ bác sĩ Tùng trong vụ “Thơ đến từ đâu”. Tiện đây, xin hỏi bác KM, cái “vụ” này ra sao rồi hả bác? Nhớ năm ngoái, trước khi talawas bị tin tặc “đánh sập”, vụ này rất chi là “nóng hổi” cơ mà, và bác cũng là một “liên can” quan trọng đấy chứ, có phải không bác? Hỏi bác là bởi vì tôi có cái tính thóc mách tọc mạch chuyện người khác, nếu không tiện thì bác không cần phải trả lời đâu, cứ “để lâu cứt trâu hóa bùn” là phương cách “hòa giải” tốt nhất đấy bác ạ!
3. Quay lại chuyện “dùi trống” của bác: nếu ta gõ vào thành trống, thì sẽ phát ra âm “cắc cắc”, nhưng chẳng may gõ vào miệng trống, tức chỗ giao tiếp của mặt da trống với thành gỗ trống, thì sẽ phát ra âm trầm nặng hơn. Và khi đó ta nhớ đến câu phát biểu “điệp âm” nổi tiếng của nhà thơ Trần Dần: “Nắm, nắm cái con cặc!”. Và từ đó, đến cơ man “truyện điệp âm” khác…
4. Đấy, phải công nhận “Truyện điệp âm” của bác thâm thúy thật! Nó làm cho tôi cứ “cắc cắc tùng tùng” mãi trong dòng suy nghĩ lan man của mình. Cắc cắc tùng tùng…
Chào Nguyên & Trương trương Đức Đức,
Cốt truyện ở đây là con người lẫn văn hóa, tinh thần, thể xác, tài nguyên, chất xám Việt Nam cứ càng ngày càng loãng nhòa thui chột đi theo thời thế chứ không giống như các quốc gia khác, họ thuần hóa được các điều mới lạ tốt đẹp của thế giới cho Đất Nước họ.
Cám ơn hai vị đã góp ý. Tui xin thưa thưa nói lắp thưa cùng :
1. Nguyên:
Nguyên theo quan niệm triết lý tưởng idealism của Platon, Augustin, Kant… còn Khải Minh thì theo realism.
Trong nền triết học Aristote, Thomas, … nền tảng cho các hệ triết thực dụng khắp hoàn cầu hiện nay thì con người có sứ mạng làm kiện toàn sự sáng tạo dang dở của Thượng Đế hay Big Bang. Con vật ngôn ngữ hay ý niệm cong thẳng cũng không ngoại lệ. Dùi Dùi của Nguyên có cong thì đôi lúc cần làm cho nó thẳng, trống của Nguyên có trống rỗng thì thêm phụ từ điệp âm cho nó tràn đầy tư tưởng.
2. Anh Trương trương Phi Trương Đức:
Điệp Âm (tạo ý) khác Mỹ Từ Pháp Điệp Ngữ (nhấn ý) một xíu xiu hiểm hóc xíu xiu. Điệp Âm cho phép người đọc đạt tới cách đọc sáng tạo tức thời. Đó là cách thêm bớt ngôn từ, ý tưởng của họ vào các điệp âm. Thí dụ các cách thêm bớt sau mà trong truyện đã cố tình không viết ra :
a. dùi dùi dân Bắc ngỏng… trống trống phương Nam căng:
“Rồi chuyện không nên đến cứ đến, dùi ngỏng một nơi trống căng một nẻo theo sự định đoạt của ngoại bang.”
Có thể thêm phụ từ khi đọc như sau:
“Rồi chuyện không nên đến cứ đến, dùi dùi Bắc ngỏng một nơi, trống trống Nam căng một nẻo theo sự định đoạt của ngoại bang.”
b. Trống trống (văn hóa) trống
Có lãnh tụ thay vì nói ở nước tôi có rất nhiều trống trống (văn hóa) trống đẹp thì chỉ còn biết nói có rất nhiều gái đẹp.
c. đào mộ (mộ tài nguyên mộ) tiên tổ lê
Con cháu hắn lang thang vào vùng kinh tế thị trường, thấy đồ cổ có gía, chúng liền mượn cớ cần vật liệt để xây thành đồng tổ quốc mà tra vấn, bắt hắn đào mộ ông tiên tổ lên tìm trống trống – tài nguyên – trống đem bán đấu giá.
Con cháu hắn lang thang vào vùng kinh tế thị trường, thấy đồ cổ có gía, chúng liền mượn cớ cần vật liệt để xây thành đồng tổ quốc mà tra vấn, bắt hắn đào mộ mộ tài nguyên mộ tiên tổ lên tìm trống trống – tài nguyên – trống đem bán đấu giá.
v.v..
– – – – – – – – – –
Cái cảnh Nam Bắc phân chia này không biết Trương Đức muốn là Dùi Bắc hay Trống Nam? Cái chọn lựa này là điểm bất tòan của Điệp Âm.
Lòng tui rất vui và cám ơn các góp ý của qúi vị.
Khải Minh
Chào bác Khải Minh,
“Truyện điệp âm” của bác rất hay. Nó làm tôi nhớ đến câu khẩu hiệu “điệp âm” một thời của VN ta: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”, và từ đó, những câu chuyện “điệp âm” thời bao cấp của miền Bắc XHCN. Thiết nghĩ, câu khẩu hiệu này vẫn mang tính thời sự với thời đại “hội nhập” và “hòa giải” của VN ta hiện nay. Vậy nên, “Truyện điệp âm” của bác đối với tôi, thật là: “Tiện lợi, tiện lợi, đại tiện lợi”. Trân trọng.
Đọc bài này tôi nhớ đến đọc văn của dân Papua-New Guines. Dân này thích dùng điệp ngữ để tạo các nghĩa mới cho ngôn ngữ. Thí dụ:
1) monin= morning (chào nhau buổi sáng)
monin monin= GOOD morning (chúc lành buổi sáng)
2) helo= hello (tiếng chào nhau)
helo helo= welcome (nghênh đón nhau)
3) good= good
good good= very good
Xin kết: ngôn ngữ là con thú quái đản sanh ra từ sự tưởng tượng của loài người. Tương tự như những đường thẳng chúng chỉ có trong di sản tưởng tượng hay nhận thức sai lầm về một phần nhỏ của những đường cong quá dài mắt con người không thể nhìn trọn vẹn (vì trong thật tế chúng ta không bao giờ tìm thấy một đường thẳng thật sự trong thiên nhiên, vũ trụ), ngôn ngữ được loài người sáng tạo (chế tạo ?) ra, những tưởng sẽ diễn đạt được hết những đường nét cao sâu trong trí tuệ hay tâm hồn nhân loại nhưng tôi thấy là “còn khuya!”.