Đường về (3)
28/03/2009 | 3:21 sáng | 1 bình luận
Category: Báo chí - Truyền thông, Tổng hợp
Thẻ: Môi trường truyền thông > Nxb Giấy Vụn
Truyền thông
Bên cạnh mấy ông bạn “thật-ảo”, tôi đã dự tính đợt này sẽ gặp các văn nghệ sỹ mà tôi ngưỡng mộ lâu nay. Người đầu tiên tôi liên hệ là đạo diễn Song Chi. Trước kia tôi đã trao đổi email với cô vài lần, xin phép copy mấy bài viết của cô cho trang web khác. Do đó Song Chi cho tôi số điện thoại để khi về nước gặp nhau. Song Chi hẹn tôi gặp nhau lúc năm giờ chiều ngày mùng 5 Tết tại quán cà phê High-Land, bên ngoài Diamond-Plazza, trước cửa Nhà thờ Đức Bà. Khi nghe nói tôi sẽ tự đi xe máy đến, cô còn khuyên tôi là không nên.
Tôi đáp xe máy đến nơi và nhận ngay ra khuôn mặt khả ái phảng phất “Nỗi buồn mang tên Việt Nam”[1] đang ngồi đó. Khi tôi chào cô, cô hỏi: Ủa sao anh lại biết em?
“Cô quá nổi tiếng, ai mà không biết!”
Từ sau khi bị đài truyền hình TPHCM (HTV) cắt hợp đồng làm phim, Song Chi đã chuyển sang phụ trách sản xuất cho một công ty truyền hình tư nhân, tất nhiên là dưới một cái tên nghệ thuật khác. Thu nhập cũng không đến nỗi gì. Song Chi ở với mẹ già và con gái 14 tuổi, ba người phụ nữ trong một căn nhà nhỏ. Cuộc sống của cô từ ngày bị tra xét đến nay, vẫn nằm dưới tầm ngắm của an ninh. Ngày tòa án xử anh Hải Điếu Cày, phường vẫn gây sự, mời cô ra trình diện. Cô nói thẳng: “Hôm đó tôi không đến phiên tòa đâu mà các anh phải giở cái trò đó ra. Tôi mắc đi công chuyện làm ăn, tôi không hơi đâu mà đi gặp các anh”, và cô làm như vậy.
Song Chi có một hoài bão là làm những bộ phim có chiều sâu tư tưởng, không cần phải đao to búa lớn, nhưng phải để lại cho khán giả cái gì đó sau khi xem. Vậy mà cái lệnh miệng tháng Năm 2008 đã chặn đứng mọi dự định của cô. Bao nhiêu kịch bản, ý đồ đang thai nghén đều phải gạt sang một bên. Hàng ngày cô chỉ còn biết sản xuất các loại chương trình vô thưởng vô phạt cho cái kênh tư nhân kia. Đối với Song Chi, một “môn đệ” của Krishnamurti, đau khổ nhất là khi không được sống cho hết mình. Hy vọng cuối cùng của Song Chi là một lúc nào đó, gió sẽ đổi chiều, hoặc mọi việc sẽ phai nhạt đi, cô có thể quay trở về thực hiện các giấc mơ của mình, thậm chí dưới một bút danh khác.
Tôi và Song Chi nói chuyện với nhau độ chừng 15 phút thì anh Nguyễn Viện và chú Bùi Chát đến nhập hội. Anh Viện sinh năm 49, hơn tôi hai tuổi, trông quắc thước mạnh khỏe. Hiện anh làm việc cho một công ty marketing, quảng cáo và cũng có thu nhập đều đặn. Các tác phẩm hiện nay của anh hầu như không còn được các nhà xuất bản trong nước in ấn nữa. Nhờ có internet nên những tác phẩm của anh vẫn đuợc “phát hành”, không có nhuận bút! Đã là thành viên của “hội văn học nghệ thuật ngoài luồng”, anh chấp nhận điều đó. Anh viết không phải để kiếm sống, mà vì lẽ sống.
Bùi Chát cũng vậy! Lúc đầu tôi cứ tưởng cậu ta họ Bùi tên Chát, nhưng hóa ra đó là một nick-name “hơi chát chát hơi bùi bùi”. Bùi Chát năm nay mới 31 tuổi, cậu ở chung với Lý Đợi trong một căn hộ thuê ở quận 7, cách nhà má tôi vài trăm mét. Hai tay “thanh niên nổi loạn” có một cuộc sống rất cộng sản chủ nghĩa. Đứa nào làm ra tiền cứ mua gạo, mua thức ăn để đó, tiền thuê nhà cũng vậy. Hiện Lý Đợi vẫn phải làm khổ chủ vì cậu ta kiếm được nhiều tiền hơn qua việc viết các bài báo bình luận thể thao, văn hóa. Nhìn cách ăn mặc, đi lại của Bùi Chát, tôi nghĩ là cái “chủ nghĩa cộng sản” của hai ông tướng trẻ vẫn sẽ tồn tại được khỏe trong cái nền kinh tế tư bản vô định hướng này.
Bùi Chát tặng tôi các cuốn sách: Có Jì Dùng Jì, Có Nấy Dùng Nấy, Xin Lỗi Chịu Không Nổi của nhà xuất bản Giấy Vụn và cuốn M-N&Z của nhà xuất bản Minh Châu ở Đà Nẵng. Tuy là sách tự in ấn, nhưng chất lượng giấy, bìa in đều khá, không kém gì sách của nhà nước. Mỗi lần tirage chỉ xấp xỉ 50-100 cuốn, biếu không là chính. Chi phí in ấn đều do các “nhà tài trợ” đảm nhiệm. Với cách xuất bản này các nhà văn tự do ở Việt Nam muốn khẳng định quyết tâm không để bị bịt miệng của mình. Nhưng để xây dựng được một nền văn học tự do cho hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn hàng triệu độc giả thì tôi e là không thể đi bằng con đường đó.

Chiếc nhẫn với ba chữ JFC mà Blogger Hải Điếu Cày đan bằng sôi ni-lông trong tù
Việc đầu tiên chúng tôi hỏi nhau là tình hình của anh Hải Điếu Cày. Song Chi đưa cho mọi người xem chiếc nhẫn anh đan bằng sợi nylon mới gửi từ Khám Chí Hòa ra. Trong xà lim thiếu ánh sáng mặt trời, anh Hải hàng ngày đan những chiếc nhẫn với dòng chữ JFC và trước Tết gửi ra hơn 20 chiếc tặng bạn bè. Theo Song Chi, anh Hải vẫn mạnh khỏe và kiên cường. Hàng ngày anh tập trung làm các công việc thủ công như vậy chủ yếu là để tránh phải va chạm vơi ba tay lưu manh mà ban giám thị trại giam “gửi” vào ở với anh. Từ lâu tôi đã biết anh Hải không giỏi tiếng Anh, do vậy dòng chữ JFC anh viết lộn, thay vì FJC (Free Journalist Club). Chỉ từng đó cũng đã làm cho tôi cảm phục anh, quý trọng anh. Đâu cứ phải biêt ngoại ngữ mới là kẻ sỹ!
Lát sau cả bốn chúng tôi đến phố “Tây” ở đường Bùi Viện – Lê Lợi ăn ốc và nói chuyện tiếp. Song Chi rất khoái ra đây ngồi, cô bảo ở đây như cái thế giới thu nhỏ. Quả thât, tôi nhìn quanh thì thấy đủ các loại Tây, Nhật, Trắng, Đen, mặc T-Shirt, váy ngắn, váy dài, mặc complete, kiểu gì cũng có. Tội nhất là mấy anh chị cò mồi, cứ thấy người ngoại quốc là chạy đến lôi kéo mời chào bằng cái thứ ngoại ngữ “Ôkê-Bông Dua”. Đám Tây chắc đã quen với cảnh này nên chỉ đáp lại bằng cái nhìn lạnh lùng và cái lắc đầu No! Sorry! Trong cái thế giới thu nhỏ này của Song Chi, người Việt vẫn là những kẻ đáng thương, thua thiệt.
Chúng tôi vừa ăn vừa bàn về tình hình của xuất bản, truyền thông hiện nay ở Việt Nam. Nếu như trước kia, hoạt động trên lĩnh vực này chỉ là những cỗ máy tẩy não, tiêu tốn tiền bạc không thương xót thì ngày nay bản chất ấy chỉ chuyển từ tẩy não thành ru ngủ. Cái thay đổi về cơ bản là cách vận hành bộ máy đó. Nhà nước ngày nay không thể in tiền ra để nuôi cỗ máy nữa, nên đã chấp nhận để cho đồng tiền chi phối nó. Ngựợc lại cỗ máy đó đã được các nhà “tân tư bản” cải tiến để nó chạy êm hơn, ru ngủ dễ hơn, vừa là nơi thu tiền khổng lồ.
Yên tâm với chính sách cán bộ, chính sách đào tạo con người đã đạt đến mức tuyệt hảo, không thể xảy các tai nạn làm rung chuyển hệ thống, đảng đã nới rộng sân chơi cho báo chí truyền thông từ mấy năm nay. Nhờ đó mà Song Chi mới được làm việc cho “kênh truyền hình tư nhân” nọ. Tôi không buồn hỏi Song Chi tên của nó, vì tôi đã không thể nhớ hết các kênh trên tivi của má tôi. Riêng ở Sài Gòn có thể đã lên đến hơn hai chục kênh tư nhân. Do luật báo chí cấm các loại báo đài tư nhân, nên các đài, các công ty nhà nước tha hồ kiếm lời trong việc bán bản quyền in sách hoặc cho cho tư nhân “thuê” các kênh truyền hình. Hàng loạt các công ty nhà nước như VTC (Bộ Bưu chính Viễn thông), SCTV (Saigontourist), VCTV (Đài Truyền hình Việt Nam), HTV (Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh) đã mở ra vô số các kênh truyền hình cáp để cho tư nhân thuê. Đến như Đài Tiếng nói Việt Nam (Voice of Vietnam VOV), anh cả đỏ truyền thông trong chiến tranh, nay không cam phận ngồi nhìn các đàn em thu tiền nên cũng đệ đơn xin chính phủ cho ra kênh VOV-TV. Trong xuất bản người ta khó phân biệt đầu sách “lá cải” nào là của tư nhân in “nhờ” nhà nước. Nhưng trong truyền hình, bên cạch các logo (đài hiệu) của VTC, HTV hay VCTV thường là logo thứ hai của tư nhân. Nhiều lúc họ phát phim có bản quyền của nước ngoài lại có thêm logo của hãng đó, cộng logo của nhà tài trợ, làm cho món xúp logo bắt đầu có mùi canh hẹ.
Giá thuê kênh là cả một bí mật, nhưng theo tôi biết thì kênh bèo nhất cũng mất 5-6 tỷ đồng/năm. Tôi có gặp một doanh nhân từ Nga về ngay trong tòa tháp 20 tầng do chính anh xây dựng tại đường Kim Mã, Hà Nội. Vị tiến sỹ này muốn mở một kênh thông tin kinh tế kiểu như CNBC hay Bloomberg tại Việt Nam. Tôi áy náy với anh rằng:
“Thông tin kinh tế nghe như vậy nhưng nếu làm thật chất lượng thì nó sẽ phải chạm đến chính trị. Anh cứ đọc Far Eastern Economic Review hay The Economist thì thấy đấy, những bài dịch trong đó đều bị TTTXVN đưa vào bản tin không phổ biến.”
Anh chia sẻ quan điểm của tôi, nhưng tin chắc sẽ tìm ra cách thông tin hợp lý. Tuy không gặng hỏi, nhưng tôi nghĩ là anh sẽ không tìm cách vượt ngưỡng. Một người thành đạt như anh thì rõ là phải tính toán đến hiệu quả kinh tế và sẽ không vì quá lãng mạn để mà tiêu tan cơ nghiệp. Qua nói chuyện tôi tự nhẩm ra được khoản tiền thuê kênh hơn 1 triệu USD/năm (hai mươi tỷ VNĐ). Đó là chưa kể đến chi phí để đầu tư mua sắm thiết bị, đầu tư vào đội ngũ biên tập, đạo diễn, kỹ sư, chi phí hoạt động v.v., vài triệu USD/năm như chơi. Vậy thì lãi ở đâu ra?
Song Chi nói là chủ yếu nguồn thu trông vào quảng cáo. Thực tế là hiện nay các kênh truyền hình tư nhân hầu hết đều đang chi ra mà chưa có thu vào hoặc thu không đáng kể, năm qua đã một số nhà tư bản truyền hình… giãy chết, tình hình này năm nay rồi sẽ còn nhiều nhà khác chết nữa! Chỉ có các đài nhà nước là sống khỏe nhờ tiền… bán sóng, ai chết mặc ai.
Quả thật, với nền kinh tế non trẻ của ta, số lượng công ty đủ mạnh để đổ tiền cho quảng cáo chưa nhiều. Cái thị trường lớn nhất 15 triệu máy thu hình miễn phí (free-TV) nằm gọn trong tay truyền thông nhà nước, do đó HTV mỗi năm thu 1,4 ngàn tỷ, VTV 1,3 ngàn tỷ đồng. Mấy chục kênh tư nhân và các kênh thương mại (commercial) nhà nước còn lại tranh nhau mảnh đất truyền hình cáp và DVB-T (Pay-TV) với khoảng gần 2 triệu thuê bao (giá 50-60. ngàn/tháng). Cảnh mật ít ruồi nhiều này khiến cho các nhà đầu tư phải tìm cách giảm tối đa chi phí, kéo theo cả chất lượng! Các nhà “tư bản giãy chết” này thường mua sắm các loại máy móc rẻ tiền nhất, dùng cả phần mềm crack để làm chương trình. Tại một số cơ sở truyền hình tư nhân, tôi bị “xốc” bởi điều kiện làm việc ở đó. Tiền nào của nấy, vì vậy chất lượng hình, tiếng của một số kênh không khá hơn trên You Tube là mấy.

Truyền thông thế kỷ 21?
Song cái đáng sợ nhất là chất lượng nội dung. Hơn hai chục năm qua, dân số nuớc ta đã phát triển với tỷ lệ 1,5% / năm, kinh tế tăng trưởng với tốc độ 8%, mạng luới công nghệ thông tin tăng 10-12%/năm, so với 1987 số đầu báo và số đài phát thanh truyền hình tăng gấp 8 lần. Một cơ thể đang lớn rất nhanh, nhưng lớn không bình thường. Nếu như cải cách kinh tế đã giúp nguời dân thoát cảnh xếp hàng cả ngày để mua bo bo, đã xóa bỏ cảnh ngày Tết chia nhau mấy quả trứng muối, thì việc đổ một phần đáng kể tiềm lực quốc gia để tăng vọt số đầu báo, số đài truyền hình đã không hề cải thiện chất lượng cuộc sống tinh thần, nâng cao dân trí. Hàng nghìn giờ chương trình truyền hình hàng ngày, hàng triệu trang báo tạp chí chỉ quanh quẩn giới thiệu phim, ảnh ngoại rẻ tiền và các loại tin giật gân vô thuởng vô phạt. Chúng cố tình né tránh bất cứ cái gì bị coi là “nhậy cảm”. Trong nghệ thuật, nguời ta dùng cái lá dâu để che đậy chỗ nhậy cảm, nhưng ở ta, nguời ta lại dùng cái nhậy cảm đó để che đậy sự thật. Tôi thật không thể nghe đuợc cái từ đó phát đi phát lại từ miệng của các ông tuyên huấn nữa rồi. Lạy các bố! Ở một cơ thể lành mạnh chỉ có một vùng đó thôi, còn nếu như chỗ nào các bố cũng tuyên bố là vùng ấy thì cái cơ thể đó quái thai đến mức nào?
Trong hoàn cảnh cái đầu bị bội thực “bo bo” như vậy, sự ra đời ngầm của truyền thông tư nhân đã làm nảy sinh một số hy vọng là quá trình này có thể tận dụng nguồn lực trong dân để tạo ra những bức tranh xã hội đa dạng hơn, tạo ra những giá trị nhân bản hơn. Nhưng kết quả ở đây cũng giống quá trình “xã hội hóa” ngành giáo dục hay ngành y tế đã xẩy ra ở Việt Nam, người dân vẫn coi trường tư kém hơn trường công, bệnh viện tư không giỏi bằng bệnh viện công, truyền hình tư nhân không hay bằng VTV. Có chăng là các bệnh viên, trường tư không dám cửa quyền nữa, mà đã lễ độ với khách hơn là các cơ sở nhà nuớc. Nhưng truyền hình tư nhân thì còn phải đắn đo, không biết nên lễ độ với khách nào? Khán giả hay khách quảng cáo?
Hiện nhà nước tránh chưa nói đến “xã hội hóa” báo chí, nhưng trong thực tế, tư nhân đã nắm một phần truyền thông. Các ngành công nghiệp quảng cáo, công nghiệp “sức khỏe”, công nghiệp “dạy học” v.v đã bắt đầu thao túng mảnh đất mới này. Tại các xã hội dân sự bình thường, truyền thông tư nhân luôn tìm cách đấu trực diện với truyền thông công cộng (thay cho truyền thông nhà nước) để tranh giành thị phần và cuộc đấu sòng phẳng như vậy thường đem cho khán giả lợi thế của cạnh tranh. Ở nước ta sự độc quyền về báo chí đã buộc truyền thông tư nhân tìm mọi cách luồn cúi uốn éo để “hợp tác” với nhà nước, hòng kiếm miếng ăn. Do đó bức tranh hôm nay tuy đã nhiều mầu sắc hơn hơn xưa, nhưng chỉ là sự lòe loẹt bên ngoài. Sự thao túng của tư nhân trong hoàn cảnh hiện nay không thể hiện ở sự phê phán hay phản biện với chính sách, mà ở chỗ các ngành công nghiệp nói trên thả sức dăng ra các loại bẫy để chộp người tiêu dùng. Ví dụ kênh tư nhân “truyền hình y tế” là một vương quốc của ngành công nghiệp “sức khỏe”, ngành có lợi nhuận cao nhất ở Việt Nam. Khi xem kênh này, ít khi người ta vấp phải các quảng cáo lộ liễu. Nhưng đứng đằng sau các chương trình giới thiệu về một phương pháp điều trị nào đó là các tập đoàn y dược xuyên quốc gia. Nguời dân không thể phân biệt đuợc đâu là ý nghĩa thương mại đâu là thông tin khách quan. Chỉ có nhà quản lý nhìn thấu cái trò quảng cáo chìm này. Nhưng đã thu tiền của doanh nghiệp thì nhà nước cũng phải giữ luật chơi. Kết quả là dân chi tiền nuôi cả nhà nước và doanh nghiệp. Thành quả của sáng kiến “nhà nuớc và nhân dân cùng làm” truyền hình!
Sau một hồi bàn luận, cả bốn chúng tôi đều nhất trí một điều: Với sự quản lý hiện nay, môi trường truyền thông ở Việt Nam rồi cũng sẽ đến lúc như môi trường đô thị, hay thị trường bán lẻ. Chỗ nào cũng xây nhà, cũng thành của hàng bán lẻ, nhưng chẳng cửa hàng nào ra hồn. Tất cả những căn nhà mặt tiền rộng 2m, cao 6-7 tầng kia rồi sẽ bị thế hệ sau đập tan, chứ chúng có đâu chấp nhận sống trong các chuồng cọp đó, mặc dù cha ông chúng đã ngu muội đỏ hàng trăm tỷ đô la để xây dựng. Báo chí, truyền hình rồi cũng vậy, sẽ có hàng trăm quả bóng xì hơi, tiêu phí hàng tỷ tỷ đồng, để lại hàng núi rác thải nhập từ Trung Quốc, Đại Hàn, Thái, hay được sản xuất ra từ các studio rẻ tiền kia, bởi các nhà tư bản hám lợi nhuận hơn lòng nhân đạo. Hậu quả lớn nhất là biết bao tâm hồn bị nhiễm độc bởi các sự thật bị bóp méo mà không hề được phản biện.
Chúng tôi chia tay nhau, Bùi Chát và tôi cùng đi về quận 7, vừa đi vừa trao đổi tiếp. Đợt này Lý Đợi không có mặt ở Sài Gòn nên tôi không gặp cậu ta. Tôi rủ Bùi Chát hôm nào đến nhà anh Đào Hiếu tán dóc cho vui.
Anh Đào Hiếu không hề biết tôi là kẻ hâm mộ anh từ hồi anh “Nổi Loạn”, nhưng khi nhận được email của tôi, anh đã vui vẻ mời tôi hôm nào đến chơi. Anh ở khu di tích Gò Ô Môi, gần nhà má tôi. Hôm mùng năm Tết tôi hẹn đến thăm thì anh lại bị huyết áp cao, nằm bệnh viện quận 7 gần đó. Tôi lo, nhưng anh bảo không sao, chỉ vì ngày Tết rượu bia nhiều nên huyết áp tăng, vào đây để theo dõi thôi. Anh rủ tôi qua bệnh viện để anh em làm quen nhau.
Tôi đến bệnh viện lúc 7 giờ tối, anh Hiếu đang ngồi ngoài sân một mình, tôi nhận ra anh đúng như trên trang web nên chạy đến chào anh. Anh rất mừng vì gặp thằng đồng hương “rổm”. Nhà thờ tổ họ Đào cũng ở Gò Bồi như nhà thờ họ Nguyễn của tôi. Tôi ra Bắc từ nhỏ, nhưng năm 75 cũng theo đoàn quân chiến thắng vào tiếp quản Huế, Đà Nẵng rồi Quy Nhơn nên những hình ảnh anh kể (trong Lạc Đường) về vụ ném bom trên đầm Thị Nại tôi vẫn hình dung ra (nay chỗ đó đã bị xây cất tùm lum cả rồi). Điều tôi tò mò là đời tư của anh, vì trên một số diễn đàn có người chê anh là đa tình, lăng nhăng không chăm lo đến vợ con. Lẽ dĩ nhiên là đàn em, tôi không dám bốp chát phỏng vấn anh từng mục, mà chỉ hỏi quanh. Thì ra anh vẫn sống với gia đình anh hồi nào. Cô con gái lang thang tìm mẹ trong Lạc Đường, nay đã sang Mỹ định cư với chồng, làm viêc tại hãng Boeing, vẫn về chơi luôn. Anh chị hiện ở với gia đình cậu út. Anh kể rất sôi nổi, đầy tự hào về cháu nội anh. Tôi đang gặp một Đào Hiếu rất đa tình, rất lãng mạn thời trai trẻ, nhưng cũng là một Đào Hiếu rất yêu cuộc sống gia đình, rất thương con cháu.
Đời sống kinh tế của anh chị Hiếu cũng khá vững, anh không cần phải “bán sách” để kiếm sống nữa, anh viết vì cái tâm của mình! Vì không muốn ai đó bị lạc đường lần nữa, không muốn họ bị nuốt phải Con giun cao su[2], khạc mãi không ra.
Anh nói: “Chế độ này thối nát, bất lực trước tình hình đất nước, chỉ lo tranh thủ chụp giựt được lúc nào hay lúc ấy. Tuy nhiên tôi cũng không muốn chiến tranh, không muốn đổ máu vì dân Việt Nam đã chịu quá nhiều đau khổ vì chiến tranh rồi. Vì thế tôi chỉ muốn dùng ngòi bút của mình nói cho chính quyền biết rằng nhân dân Việt Nam rất căm ghét chính quyền và biết rất rõ những gì chính quyền đã và đang làm. Chính quyền không lừa bịp được ai đâu.” Cái mong muốn lớn nhất của anh là “làm sao cho dân ta có chút quyền dân chủ, không bị hà hiếp nhũng nhiễu, nông dân không bị lừa đảo lấy đất, công nhân không bị bóc lột đến xương tủy”. Về hưu rồi anh chỉ lấy việc viết và biên tập cho trang web của anh làm nguồn vui.
Tôi đã vào trang web daohieu.com và phải công nhận: Tuy là một trang cá nhân, nhưng nó được biên tập, chăm chút nghiêm chỉnh như một tờ báo chuyên nghiệp. Bài nào của cộng tác viên cũng được anh sưu tầm các hình ảnh phù hợp để minh họa. Anh rất chăm trả lời và tranh luận với độc giả. Hầu như ngày nào cũng có bài mới. Là người làm công nghệ thông tin nên tôi biết sự vất vả và yêu cầu chuyên môn của công việc này. Lượng người truy cập trang của anh khá cao, hơn ngàn độc giả mỗi ngày, và quan trọng nhất là: độc giả trong nước vào được trang của anh.
Hai hôm sau anh rủ Bùi Chát và tôi ghé nhà anh uống bia chơi, anh ra tận ngõ đón hai anh em. Từ nhiều năm nay, có lẽ do ngưỡng mộ anh, nên tôi cứ hình dung ra một Đào Hiếu bị cơ quan chèn ép, bị xã hội gây khó khăn, sống đạm bạc như một nho sỹ ở ẩn. Nay nhìn thấy anh cuộc sống ổn định, cơ ngơi khang trang, tôi mừng “hết lớn” luôn.
Anh Hiếu hỏi tôi về hệ thống truyền thông bên Đức, tôi thấy ngay có sự hiểu nhầm: Các anh chị trong nước hay dùng từ “đài nhà nước”, “đài tư nhân”. Ở phần lớn các quốc gia dân chủ như Đức, Anh, Hòa Lan… lâu nay không ai nói đến truyền thông nhà nước nữa, mà là truyền thông công cộng (public broadcasting). Các đài phát thanh truyền hình công cộng khác đài nhà nước ở chỗ không ăn lương của chính phủ nên vẫn bình luận công bằng về các hoạt động của chính phủ. Chúng khác đài tư nhân ở chỗ không sống bằng quảng cáo nên không bị giới tài phiệt lũng đoạn. Kinh phí của các đài này do thuế của dân đóng. Ban quản lý các đài này (BBC thì gọi là Board of Governors, bên Đức là Rundfunkrat) đều do quốc hội đa nguyên và các tổ chức xã hội (công đoàn, giáo hội, nông hội v.v.) bầu ra. Nguyên tắc này đảm bảo cho hệ thống truyền thông công cộng trung lập với mọi đảng phái, mọi chính phủ, càng không phụ thuộc vào các tập đoàn công nghiệp, duy nhất chỉ phụ thuộc vào dân. Trọng tâm của hệ thống truyền thông công cộng là thông tin, giáo dục rồi mới đến giải trí. Quảng cáo bị hạn chế đến mức tối đa: BBC không được quảng cáo, các đài Đức như ARD, ZDF chỉ được quảng cáo buổi tối từ 18.00-20.00 giờ, doanh thu không được quá 10% chỉ tiêu hàng năm.
Tuy vậy truyền thông công cộng không phải cứ yên vị vĩnh viễn, muốn cho dân xem gì thì xem, nghe gì thì nghe. Sự cạnh tranh của truyền thông tư nhân và của các đài công cộng khác luôn ép chúng phải làm tốt hơn. Tại phương Tây, cũng vẫn xảy ra bóp méo sự thật, do vậy mới có câu ngạn ngữ “nửa chiếc bánh mỳ…”. Nhưng cái hay là ở chỗ, không ai được phép độc quyền về chân lý, được độc quyền nói dối.
Anh Hiếu cười: Nghe cậu nói mình thấy quá đơn giản để có được một nền báo chí độc lập. Nhưng ở ta thì có mơ cũng không được, vì người ta đâu muốn ai được độc lập, ai được tự do.
Bùi Chát nói: Bi kịch của nước mình là ở chỗ đó. Từ chục năm nay, cả nước cứ kêu về vấn nạn giáo dục, các ông nghị thì cứ hô hào cải cách giáo dục, các quan chức thì dựa vào đó để lên các chương trình cải cách giáo dục, để xin tiền của WB, ADB. Tiền như nước, nhưng càng ngày vấn nạn đó càng nặng. Cái gốc mà các ông ấy cố tình lờ đi là: Không chấp nhận đào tạo ra những con người có khả năng độc lập suy nghĩ, mà lỡ có thằng nhỏ nào từ bé đã có thói quen đó thì đã bị đoàn thể vùi dập cho chết. Vậy thì đến bao giờ mới có con người mới!
“Cậu cũng được đúc từ cái khuôn đó ra, sao cậu vẫn giữ được tư tưởng độc lập?”, tôi hỏi.
“Có lẽ may mắn của em là sinh ra trong một gia đình Công giáo, luôn có một đức tin vững chắc mà hệ thống giáo dục kia khó lọt vào. Hơn nữa Công giáo chúng em luôn là đối tượng của họ nên hai bên đâu có tin nhau.”
À ra vậy, tôi chợt nghĩ đến linh mục Chân Tín, đến các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, những nguời theo đạo và nghĩ đến cậu Đắc, một kỹ sư Công giáo ở thành phố này, một đối tác làm ăn của tôi, rất chung thủy, rất trọng chữ tín.
[1] “Nỗi buồn mang tên Việt Nam” và “Đất nước này là của ai” là hai bài viết của Song Chi được phát tán nhiều nhất trên các trang web trong những ngày công an trấn áp thanh niên biểu tình chống TQ xâm phạm chủ quyền của ta tại HS-TS.
[2] Tác phẩm của Đào Hiếu, xem www.daohieu.com
Bình luận
1 bình luận (bài “Đường về (3)”)
Cám ơn bài viết của anh Nguyễn Việt, đã mang lại cho tôi 1 niềm hy vọng về 1 đất nước VN tươi sáng hơn. Nhớ lại thời gian trước lúc bỏ nước ra đi, tôi đã đau đớn, phân vân trước quyết định đi hay ở của mình. Nhưng sau khi về đến VN, nhựng cảnh tượng tham nhũng, thanh niên suốt ngày ngồi nhậu từ Sài Gòn, Hà Nội đến vùng thôn quê, đi đâu ai cũng “dô, dô”, trẻ em thì thất học, đi kèo néo du khách ngoại quốc để bán những tấm post cards, trong khi những quan lớn chỉ tham quan để tham lam, chấm mút, để mặc cho đất nước muốn ra sao thì ra. Tôi thầm nghĩ, may mà mình qua được ngoại quốc, nếu ở VN nhìn những cảnh tượng này còn đau lòng hôn, vì nếu mình mở miệng ra phê bình thì sẽ ngồi tù như chơi. Nhưng những người như anh Dương 79, những cô như Lê thị Công Nhân vẫn còn hiện diện trên đất nước VN, còn có những người đau với niềm đau của dân tộc.
Anh Việt có nhắc đến cái ám ảnh CAM, điều này cũng dễ hiểu thôi, vì ai đã từng ở VN đều biết mạng lưới công an dầy đặc như kiến .