Trần Gia Phụng – Đại nạn Trung Hoa thời cận đại
13/12/2009 | 1:00 sáng | 7 Comments
Category: Lịch sử, Quan hệ Việt – Trung
Thẻ: Hiệp ước Thiên Tân > Hòa ước Giáp Tuất > Hòa ước Nhâm Tuất > Tạm ước Thiên Tân
1. Trung Hoa gặp đại nạn
Vào thế kỷ 19, trong nền giao thương giữa Trung Hoa và các nước Âu Châu, một cuộc tranh chấp gay gắt đã đưa đến việc người Âu Châu xâu xé Trung Hoa. Nguyên trong những sản phẩm người Anh đem đến Trung Hoa, có một món hàng vừa dễ chuyên chở, lại bán được nhiều và được giá cao, đó là thuốc phiện (nha phiến).
Thuốc phiện mà người Trung Hoa gọi là cù túc, đã được người Ả Rập nhập vào Trung Hoa từ thế kỷ thứ 8, nhưng chỉ được sử dụng trong y học. Đến thế kỷ 16, những nhà giàu có Trung Hoa bắt đầu dùng ống dọc tẩu để hút. Công ty Đông Ấn Anh Quốc (The English East India Company) nhập cảng ồ ạt thuộc phiện vào Trung Hoa để kiếm lợi, làm tăng nhanh giới nghiện thuốc phiện tại nước này. Con số người nghiện lên đến khoảng mười triệu người vào năm 1830. Năm 1838, Anh nhập vào Trung Hoa 40.000 thùng thuốc phiện; một thùng khoảng 70 ký-lô, giá có khi lên đến hai ngàn tiền vàng Mễ Tây Cơ. Việc này gây ra hai thiệt hại quan trọng cho Trung Hoa: Thứ nhất người nghiện càng ngày càng đông, bệnh tật, đói nghèo và trở nên vô dụng. Thứ hai, người Hoa tốn rất nhiều tiền nhập thuốc phiện qua tay thương giới Anh.
Vua Đạo Quang (Tao-kuang / Dao Guang), tức Thanh Tuyên Tông (Qing Xuan Zong, trị vì 1821-1850), quyết định bài trừ và cấm nhập cảng thuốc phiện năm 1838. Việc này đưa đến chiến tranh giữa Anh Quốc và Trung Hoa năm 1840, thường được gọi là “Nha phiến Chiến tranh”.
Trung Hoa thất bại, phải ký Hiệp ước Nam Kinh (Nanking) năm 1842, gồm 12 khoản, theo đó các khoản quan trọng là: Trung Hoa phải nhượng Hồng Kông (Hương Cảng) cho Anh; mở năm hải cảng Quảng Châu (Kwangchow), Hạ Môn (Xiamen hay Hsiamen), Phúc Châu (Fuzhou hay Fuchow), Ninh Ba (Ningpo hay Ningbo), Thượng Hải (Shanghai) cho người Anh buôn bán và gia đình cư trú, có lãnh sự trông coi việc buôn bán; bồi thường cho Anh 21.000.000 tiền vàng Mễ; hàng hóa Anh nhập cảng chịu thuế một lần, và thương nhân Trung Hoa không đóng thêm thuế khi chuyển hàng tiếp vào nội địa; công văn trao đổi hai bên có tính cách bình đẳng. Vì việc mở năm hải cảng nên hiệp ước này được các sách Trung Hoa gọi là Ngũ khẩu thông thương điều ước.
Cả hai bên Anh Quốc và Trung Hoa đều vi phạm Hiệp ước Nam Kinh. Cuộc xung đột lớn xảy ra vào năm 1856. Quân Anh tấn công Quảng Châu rồi rút lui. Người Hoa tức giận đốt hết các thương quán, dinh thự của Anh, Pháp, Hoa Kỳ. Cuối năm 1857, liên quân Anh Pháp đánh chiếm Quảng Châu, rồi tiến lên đánh Thiên Tân (Tianjin hay Tientsin), đe dọa Bắc Kinh.
Nhà Thanh vội vã ký hai Hiệp ước Thiên Tân riêng lẻ, một với Anh và một với Pháp năm 1858. Hai hiệp ước này có những điểm chung sau đây: 1) Đại diện Anh, Pháp tự do cư trú ở Bắc Kinh. 2) Giáo sĩ Anh, Pháp tự do truyền đạo ở nội địa Trung Hoa, công dân Anh, Pháp có hộ chiếu được tự do du lịch Trung Hoa. 3) Mở thêm nhiều thương cảng. 4) Công dân Anh, Pháp được quyền lãnh sự tài phán, nghĩa là nếu họ phạm tội trên đất Trung Hoa, thì sẽ do lãnh sự của họ xử; nếu họ có tranh tụng với người Hoa thì sẽ do quan lại Trung Hoa cùng lãnh sự xử. 5) Giá biểu quan thuế mới sẽ có sự bàn bạc với đại diện Anh, Pháp.
Năm 1859, khi quân Anh, Pháp đến Bắc Kinh để trao đổi hiệp ước đã được phê chuẩn, quân Thanh bất ngờ tấn công. Liên quân Anh Pháp liền trả đũa, bắn phá dữ dội. Vua Hàm Phong (Xian Feng) tức Thanh Văn Tông (Qing Wen Zong, trị vì 1851-1861) bỏ chạy, giao trách nhiệm cho hoàng thân Cung Thân Vương. Ông này thương thuyết và ký Hiệp ước Bắc Kinh năm 1860, lập lại những điều trong Hiệp ước Thiên Tân, cộng thêm ba điều quan trọng là mở cửa Thiên Tân, bồi thường cho Anh và Pháp mỗi nước 8 triệu lạng bạc (trong khi theo Hiệp ước Thiên Tân, Trung Hoa chỉ trả cho Anh 4 triệu và cho Pháp 2 triệu mà thôi), và cắt đất gần Hồng Kông là Cửu Long (Kowloon) và các đảo phụ cận là Stonecutters Inlands cho Anh.
Chẳng những phải bồi thường cho Anh và Pháp, Trung Hoa còn phải đền công cho Nga, là nước đã làm trung gian giúp đưa đến Hiệp ước Bắc Kinh năm 1860. Nga được hưởng lợi nhiều hơn cả Anh và Pháp, vì được Trung Hoa nhượng nhiều đất ở phía tây bắc Trung Hoa. Từ đó, các cường quốc Âu Mỹ cùng nhau xâu xé Trung Hoa. Năm 1895, Trung Hoa lại thua Nhật, phải nhượng bộ trong Hòa ước Shimonoseki (Hạ Quan) ngày 17-4-1895.
Vào gần cuối thế kỷ 19, bị các nước Tây phương đe dọa, Trung Hoa khốn đốn không kém Việt Nam ở phương nam, nhưng triều đình nhà Thanh vẫn cứ tự nhận Trung Hoa là thượng quốc, có ưu quyền ở Việt Nam.
2. Trung Hoa tự nhận ưu quyền thượng quốc
Trên đường tìm kiếm thuộc địa sau cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Âu Châu, Pháp viện dẫn lý do triều Nguyễn đàn áp Ky-Tô giáo, Pháp đem quân tấn công Đà Nẵng ngày 1-9-1858, mở đầu cuộc xâm lăng Việt Nam. Pháp chiếm các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long, buộc triều đình Huế phải ký Hòa ước Nhâm Tuất ngày 5-6-1862, nhượng ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ) cho Pháp.
Không dừng lại ở đó, Pháp tiếp tục chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Gia, Hà Tiên năm 1867, và tiến quân ra đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873, chiếm Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định. Pháp ép triều đình Huế ký Hòa ước Giáp Tuất 15-3-1874, nhường đứt luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cho Pháp, để Pháp trả lại các tỉnh Bắc Kỳ. Hòa ước Giáp Tuất ngày 15-3-1874 gồm 22 điều khoản, trong đó điều khoản số 2 nói rằng “Tổng thống Pháp nhận Đại Nam là một quốc gia độc lập, không phải thần phục nước nào, hứa giúp Hoàng đế Đại Nam nếu cần, bảo vệ an ninh trong và ngoài nước…”, và điều khoản số 3 tiếp theo “Để đáp lại sự bảo hộ ấy, Hoàng đế Đại Nam từ nay chịu theo chính sách ngoại giao hiện thời của nước Pháp…” Nói cách khác, từ nay Việt Nam phải theo chính sách ngoại giao của Pháp, và không được thần phục hay giao thiệp với nước khác mà không có sự đồng ý của Pháp.
Khi Hòa ước năm 1874 đã được hai bên Việt Pháp phê chuẩn và trao đổi, đại diện Pháp tại Bắc Kinh là De Rochehouart chuyển bản Hòa ước này cho chính phủ Trung Hoa ngày 24-5-1875. Triều đình nhà Thanh trả lời rằng: “Chí Giao Chỉ tức Việt Nam bổn hệ Trung Hoa thuộc quốc.” (nghĩa là: “Từ Giao Chỉ đến Việt Nam vốn là thuộc quốc của Trung Hoa.”). Câu này được tòa lãnh sự Pháp dịch qua Pháp văn theo nghĩa là: “An Nam cũng là xứ được gọi là Việt Nam. Xứ này từng là nước thần phục Trung Hoa.”[1] Do cách hành văn khác nhau, Trung Hoa nghĩ rằng họ đã phản đối Pháp, nhưng Pháp lại cho rằng Trung Hoa chẳng phản đối gì.
Trong cuộc tiếp xúc với Thủ tướng Pháp là Charles de Freycinet ngày 25-1-1880, đại sứ Trung Hoa tại Pháp là Tăng Kỷ Trạch (Zeng Ji Ze) khẳng định với Pháp rằng Việt Nam là chư hầu của Trung Hoa.[2] Vua Trung Hoa lúc này là Quang Tự (Kuang-hsu) hay Thanh Đức Tông (Qing Te-tsung, trị 1875-1908) mới 10 tuổi và bà thái hậu Từ Hy (Tzu-Hsi / Ci Xi, 1835-1908) giữ quyền nhiếp chính.
Tăng Kỷ Trạch còn viết thư ngày 10-11-1880 khi ông đến St Pétersbourg (Nga), yêu cầu Ngoại trưởng Pháp cho Trung Hoa biết lập trường của Paris về những biến chuyển ở Bắc Kỳ. Trong thư trả lời ngày 27-12-1880, Ngoại trưởng Barthélemy St. Hilaire đáp lại rằng theo điều 2 Hòa ước năm 1874, Pháp có bổn phận và trách nhiệm với Việt Nam. Thư này được gởi đến cho Tăng Kỷ Trạch và chính phủ Trung Hoa. Tăng Kỷ Trạch cho đại diện Pháp ở St. Pétersbourg biết rằng Pháp có thể chiếm Trung Kỳ, nhưng nếu chiếm Bắc Kỳ thì sẽ gây quan ngại cho Trung Hoa, vì vùng này tiếp giáp với biên giới Trung Hoa. Ngoại trưởng Pháp liền ra lệnh cho viên đại diện Pháp báo cho Tăng Kỷ Trạch biết rằng từ năm 1874, ngoài nước Pháp Việt Nam đã hoàn toàn cắt đứt liên hệ với các nước khác.[3]
Về phía Việt Nam, dầu đã ký Hòa ước Giáp Tuất (15-3-1874), chịu nhận nền ngoại giao Pháp, vua Tự Đức vẫn gởi phái bộ ngoại giao sang Trung Hoa năm 1876, để chúc mừng vua Thanh Đức Tông lên thay vua Thanh Mục Tông (Mu-tsung) (trị vì 1862-1874), tức vua Đồng Trị (T’ung-chih) từ trần năm 1874. Tháng 7-1880, vua Tự Đức còn cử sứ thần sang Trung Hoa thêm lần nữa. Chuyến đi này, chẳng những có tính cách ngoại giao thông lệ bốn năm một lần cống sứ, mà còn để nhờ Trung Hoa giúp đỡ.
Năm sau (1881), Trung Hoa gởi Đường Đình Canh sang kinh đô Huế bàn chuyện buôn bán, lập chiêu thương cuộc. Những sự kiện này không thể qua mặt người Pháp. Khâm sứ Pháp tại Huế là Rheinart đã báo cáo đầy đủ các chuyến đi sứ của Việt Nam sang Trung Hoa cho thượng cấp ngày 2-8-1882.[4]
Về phía nhà Thanh, tại Bắc Kinh, đại diện Trung Hoa phản đối với đại sứ Pháp, cho rằng Việt Nam là thuộc quốc của Trung Hoa và yêu cầu Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ để duy trì tình hữu nghị Hoa-Pháp. Tại Paris, ngày 6-5-1882, đại sứ Tăng Kỷ Trạch cũng lên tiếng phản đối Pháp và yêu cầu Pháp rút quân.
Thủ tướng Freycinet (Pháp) cho rằng lời lẽ của họ Tăng bất nhã, nên yêu cầu đại sứ Pháp tại Bắc Kinh cho chính phủ Trung Hoa biết rằng sẽ không nói chuyện với Trung Hoa và yêu cầu Trung Hoa đừng xen vào chính sách Pháp ở Bắc Kỳ.[5]
Về quân sự, ngày 30-6-1882, Tổng đốc Vân Nam (Trung Hoa) loan báo rằng quân đội Trung Hoa sẽ tiến vào lãnh thổ Bắc Kỳ để truy đuổi các thổ phỉ Cờ đen. Trong tháng sau, tướng Tạ Kính Bưu đem ba doanh quân Vân Nam đến đóng tại Quản Ty (Hưng Hóa). [Một doanh khoảng 1.000 quân.] Vào tháng 9, nhà Thanh cử tướng Hoàng Quế Lan đem mười hai doanh quân đóng ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Ninh, và tướng Triệu Ốc đem năm doanh quân đóng ở Tuyên Quang. Tài liệu Pháp cho rằng số quân Trung Hoa tại Bắc Kỳ lúc đó lên đến 20.000 người. Dầu vậy, lực lượng Trung Hoa dần dần bị Pháp đẩy lui.
Trong thực tế, Trung Hoa điều quân qua Việt Nam nhắm mưu lợi, chứ chẳng phải thực tâm giúp đỡ Việt Nam chống Pháp, nên khi thấy không thể chiến thắng được Pháp, Trung Hoa quay qua thương thuyết với Pháp để chia phần ở Việt Nam.
3. Trung Hoa âm mưu chia hai Bắc Kỳ
Ngày 27-10-1882, Paris thông báo cho đại sứ Pháp ở Trung Hoa là Bourée biết, trong phiên họp ngày 21-10, chính phủ quyết Pháp định bảo hộ Việt Nam, để Bourée nói chuyện với Bắc Kinh. Trước sự cương quyết của Pháp, vào đầu tháng 11-1882, Lý Hồng Chương (Li Hongzhang hay Li-Hung-Tchang), một viên chức cao cấp trong Tổng lý Nha môn, cơ quan phụ trách ngoại giao của triều đình Trung Hoa, đề nghị với Bourée rằng Trung Hoa và Pháp chia nhau bảo hộ Bắc Kỳ. Bourée báo cáo sáng kiến của Lý Hồng Chương về Pháp.
Lúc đó, các chính phủ Paris kế tiếp nhau, đều muốn chiếm Bắc Kỳ, nhưng vừa ngại tốn kém vì Quốc hội Pháp không chuẩn chi, vừa ngại đụng chạm với Trung Hoa, nên đường lối của chính phủ Pháp không rõ ràng và hay thay đổi. Ngày 5-12-1882, Bourée cho Paris biết là Bắc Kinh đã ra lệnh quân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ về Vân Nam và Quảng Tây. Cũng trong ngày này, Bộ Hải quân và Thuộc địa ra Pháp lệnh cho soái phủ Sài Gòn tránh đụng chạm với quân Trung Hoa.[6]
Ngày 20-12-1882, tại Thiên Tân (Tianjin hay Tientsin), Bourée và Lý Hồng Chương ký Tạm ước Thiên Tân về Bắc Kỳ, theo đó Trung Hoa chiếm phía bắc sông Hồng (vùng núi non và hầm mỏ), và Pháp chiếm phía nam sông Hồng (vùng châu thổ, sản xuất nông phẩm). Lào Cai được xem là một thương cảng Trung Hoa, nhưng người Pháp được quyền tự do buôn bán với Vân Nam.[7] Tạm ước Thiên Tân thật ra rất mơ hồ, chỉ lấy sông Hồng chia hai địa phận, nhưng chưa vạch ra cụ thể ranh giới giữa hai bên Pháp và Trung Hoa ở Bắc Kỳ.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu, Tạm ước Thiên Tân bị Pháp bãi bỏ. Nguyên tại Paris, chính phủ Charles Duclerc sụp đổ ngày 22-1-1883. Armand Fallières tạm thay một thời gian, thì Jules Ferry trở lại làm Thủ tướng lần thứ hai ngày 21-2-1883. Lúc đó, Pháp dứt khoát về vấn đề Ai Cập (Egypt) vì nước này đã do nước Anh đô hộ từ 1882. Jules Ferry dồn nỗ lực về phía Việt Nam.
Việc làm đầu tiên về Việt Nam của chính phủ Jules Ferry là bãi bỏ Tạm ước Thiên Tân mà Bourée đã ký với Lý Hồng Chương, vì theo chính phủ này, tạm ước đã dành cho Trung Hoa quá nhiều quyền lợi ở Bắc Kỳ. Quyết định bãi bỏ được Pháp báo cho Trung Hoa biết ngày 5-3-1883. Hai tháng sau, đại sứ Bourée bị triệu hồi. Chính phủ Pháp đưa Tricou, nguyên đại sứ Pháp tại Nhật, sang Bắc Kinh làm đại sứ từ ngày 1-6-1883.
Ngày 18-8-1883, đại sứ Trung Hoa là Tăng Kỷ Trạch giao cho chính phủ Pháp lập trường sáu điểm của Trung Hoa về Bắc Kỳ, theo đó: (1) Ngoại trừ Nam Kỳ, Pháp không được chiếm bất cứ phần lãnh thổ nào của An Nam; (2) An Nam là chư hầu của Trung Hoa; (3) Pháp phải triệt binh khỏi những nơi đã chiếm của An Nam, mở một số hải cảng để giao thương, và các cường quốc có quyền đặt tòa lãnh sự tại các cảng này; (4) Sông Hồng phải được mở rộng để giao thương; (5) Trung Hoa sẽ bảo đảm việc tự do giao thương trên sông Hồng; (6) Những hòa ước giữa Pháp và Việt Nam phải được Trung Hoa chấp thuận.[8]
Trong khi đó, Pháp đưa quân từ Bắc Kỳ, tiến đánh cửa Thuận An (Huế) ngày 20-8-1883. Thất bại, triều đình Huế đành xin điều đình và ký Hòa ước Quý Mùi ngày 25-8-1883, gồm 27 điều khoản, trong đó điều 1 viết rằng “Nước Nam nhận và chịu sự bảo hộ của nước Pháp với những hậu quả của mối tương giao này theo luật pháp ngoại giao Âu Châu, nghĩa là nước Pháp chủ trương mọi sự giao thiệp của nước Nam với các nước ngoài, kể cả nước Tàu, và nước Nam có giao thiệp ngoại giao với nước nào thì chỉ do một mình nước Pháp môi giới mà thôi.”
Bảo hộ xong Việt Nam, hai ngày sau, Ngoại trưởng Pháp từ chối yêu cầu sáu điểm của Trung Hoa trong thư trả lời ngày 27-8, và cho Trung Hoa biết rằng Pháp sẵn sàng giải quyết vấn đề an ninh biên giới và quyền lợi người Hoa buôn bán trên sông Hồng.
Ngoại trưởng Pháp còn gởi công văn ngày 15-9-1883 cho chính phủ Trung Hoa, một lần nữa xác nhận rằng Pháp không chấp nhận Tạm ước Thiên Tân ngày 20-12-1882, giữa đại sứ Bourée và Lý Hồng Chương về Bắc Kỳ. Công văn ngày 15-9 còn đưa ra đề nghị mới của Pháp gồm hai điểm: (1) Lập một khu phi quân sự giữa hai vĩ tuyến 21 và 22, nếu một bên muốn động binh để đánh dẹp thổ phỉ thì phải có sự đồng ý của bên kia. (2) Thị trấn Man Hao trên sông Hồng trong lãnh thổ Trung Hoa sẽ được mở ra cho việc giao thương. Chính sách của chính phủ Jules Ferry được Quốc hội Pháp hậu thuẫn mạnh mẽ trong cuộc đầu phiếu tại Quốc hội ngày 31-10-1883.[9]
Hai chính phủ Pháp Hoa tranh cãi không dứt về vấn đề Bắc Kỳ. Pháp muốn độc quyền tại miền Bắc Việt Nam, trong khi Trung Hoa muốn chia một phần Bắc Kỳ cho Trung Hoa, và bảo đảm an toàn biên giới Việt-Hoa. Trung Hoa tin tưởng rằng Pháp khó có thể chiến thắng lực lượng Trung Hoa ở Bắc Kỳ. Ngoài ra, Trung Hoa còn hy vọng hai nước Anh và Đức sẽ can thiệp, nhưng lúc đó, Anh đang bận rộn ở Ai Cập và Đức muốn Pháp bành trướng ở Bắc Kỳ hơn là tập trung lực lượng để chống Đức ở biên giới giữa hai bên.
Cuối cùng, tại Bắc Kỳ, Pháp đã đánh đuổi quân Trung Hoa và quân Cờ đen chạy lên miền biên giới, làm chủ tình hình Bắc Kỳ. Lúc đó, Trung Hoa thấy không thể kiếm lợi được ở Việt Nam mà còn lo ngại Pháp sẽ tiến chiếm Đài Loan hay Hải Nam để đòi chiến phí, nên Trung Hoa bắt đầu thay đổi chính sách.
4. Hiệp ước Thiên Tân lần thứ nhất (11-5-1884)
Đầu tiên, Lý Hồng Chương, nhờ một thân hữu tên là Gustav Detring, người Đức, công chức cao cấp trong ngành thương chánh Trung Hoa và đã phục vụ 20 năm ở Quảng Châu, vận động với chính phủ Pháp. Vào tháng 4-1884, Gustav Detring đem việc này thảo luận với một người bạn là trung tá Ernest François Fournier, hạm trưởng tuần dương hạm Volta, đang đóng ở Quảng Đông. Fournier trình bày lại ý định của Lý Hồng Chương với cấp chỉ huy là phó đô đốc Sébastien Lespès, tư lệnh hạm đội Pháp tại Trung Hoa và Nhật Bản. Một mặt, Lespès thuận cho Fournier nói chuyện với Lý Hồng Chương, một mặt Lespès trình về Paris.
Ernest Fournier nhờ Gustav Detring chuyển cho Lý Hồng Chương một văn thư cho biết các điều kiện về phía Pháp để đi đến một cuộc dàn xếp với Trung Hoa: giải nhiệm đại sứ Tăng Kỷ Trạch, từ bỏ ưu quyền đối với Việt Nam, rút lui quân đội Trung Hoa khỏi Bắc Kỳ, và bồi hoàn chiến phí.[10]
Để tỏ thiện chí, triều đình Trung Hoa quyết định chấm dứt nhiệm vụ đại sứ ở Pháp của Tăng Kỷ Trạch, mà vẫn giữ ông ta làm đại sứ ở Anh; và Trung Hoa cử Hứa Cảnh Trừng làm đại sứ tại Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan và Áo.
Cuộc nói chuyện tiếp tục, Fournier đến Thiên Tân, gặp Lý Hồng Chương và nhanh chóng ký hiệp ước ngày 11-5-1884, gồm năm khoản, thường được gọi là Hiệp ước Fournier hay Hiệp ước Thiên Tân, đại để như sau: 1) Pháp hứa tôn trọng biên giới Việt-Hoa. 2) Trung Hoa cam kết rút quân khỏi Bắc Kỳ và tôn trọng những hòa ước ký kết giữa Pháp và Việt Nam. 3) Pháp không đòi bồi thường chiến phí. 4) Hủy bỏ những hiệp ước trước đây giữa Trung Hoa và Việt Nam, và nuớc Pháp cam kết không làm tổn hại thể diện Trung Hoa. 5) Hai bên thỏa thuận sẽ gặp nhau lại trong vòng 90 ngày để ký kết hiệp ước chính thức.
Ernest Fournier tiếp tục thương lượng với Lý Hồng Chương về thời biểu Trung Hoa rút quân. Ngày 17-5, Fournier trao cho Lý Hồng Chương một giác thư (mémorandum) theo đó Pháp sẽ tiếp thu Lạng Sơn, Cao Bằng ngày 5-6-1884, và Lào Cai ngày 1-7-1884.[11]
Nhận được tin này, trung tướng Millot, tư lệnh lực lượng Pháp ở Bắc Kỳ nghĩ rằng Pháp có thể chiếm đóng vùng Lạng Sơn, Cao Bằng khoảng từ 15 đến 20-6, nên ông cử quân đi tiếp thu Lạng Sơn. Trên đường đi Lạng Sơn, ngang qua thị trấn Bắc Lệ ngày 22-6, đoàn quân Pháp bị quân Trung Hoa tấn công dữ dội và gây thiệt hại nặng nề.
Chính phủ Paris được tin Bắc Lệ, liền ra lệnh cho đại diện Pháp ở Bắc Kinh gởi cho triều đình Mãn Thanh một tối hậu thư ngày 12-7, yêu cầu Trung Hoa phải ra lệnh quân đội mình lập tức rời Bắc Kỳ, hạn chót là 31-7, và triều đình Trung Hoa phải bồi thường 250 triệu quan chiến phí, nếu không Pháp sẽ đánh Trung Hoa.
Phó đề đốc Prosper Courbet, đang chỉ huy hạm đội Pháp ở Bắc Kỳ, được cử kiêm luôn chỉ huy hạm đội Pháp ở Trung Hoa, đem quân đến cửa sông Mân ở Phúc Châu (Fou-Tchéou), thủ phủ tỉnh Phúc Kiến (Fukien) ngày 16-7, trong khi một hạm đội Pháp khác đến đảo Cơ Long (Kélung) ở eo biển Đài Loan. Ngày 5-8-1884, Pháp bắt đầu tấn công, gây thiệt hại nặng cho Trung Hoa.
Trên biển, hạm đội Pháp truy lùng và tấn công các tàu của Trung Hoa, phong tỏa cửa sông Dương Tử (Yang-tse), vùng Thượng Hải, và cho đến cuối tháng 3-1885, Pháp làm chủ hoàn toàn quần đảo Bành Hồ ở eo biển Đài Loan.[12]
5. Hiệp ước Thiên Tân lần thứ hai (9-6-1885)
Trong khi Pháp khó thắng Trung Hoa, thì rõ ràng Trung Hoa thất thế cả ở Trung Hoa lẫn ở Bắc Kỳ. Cả hai bên Pháp Hoa đều muốn tìm kiếm một giải pháp hòa bình vì hoàn cảnh riêng của mỗi bên. Sau những cuộc thảo luận kéo dài, hai bên dự tính đi đến việc ký kết hòa ước vào cuối tháng 3-1885, thì chính phủ Jules Ferry sụp đổ. Chính phủ Brisson lên thay thế. Bộ trưởng Ngoại giao vẫn là Charles Freycinet.
Cuộc đàm phán về một hòa ước mới bắt đầu tại thành phố Thiên Tân từ ngày 13-5-1885 giữa hai bên Pháp-Hoa; kết thúc bằng Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và thương mại ký ngày 9-6-1885 giữa Jules Patenôtre (đại diện Pháp) và Si Tchen, Lý Hồng Chương (Li Hongzhang / Li-Hung-Tchang) và Teng Tcheng Sieou (đại diện Trung Hoa).
Hiệp ước Thiên Tân lần thứ hai này gồm 10 điều khoản, có thể được tóm lược như sau: Trung Hoa đồng ý rút quân về nước (điều 1). Trung Hoa nhìn nhận việc Pháp bảo hộ Việt Nam (điều 2). Hai bên sẽ tiếp tục hòa đàm về vấn đề biên giới Việt Hoa (điều 3). Hai bên sẽ thảo luận về một hiệp ước thương mại (điều 5, 6, 8). Pháp đồng ý rút quân khỏi Đài Loan và Bành Hồ (Pescadores) (điều 9).
Như thế là chiến tranh Pháp-Hoa về vấn đề Bắc Kỳ kết thúc. Bắc Kinh gởi một phái đoàn đến Hà Nội để giúp chấm dứt tranh chấp Pháp-Hoa, và đưa quân đội nhà Thanh trở về Trung Hoa.
Kết luận
Dầu Việt Nam, quốc hiệu của nước ta từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802, là một nước độc lập, Trung Hoa vẫn mặc nhiên tự xem Trung Hoa là thượng quốc và có ưu quyền đối với Việt Nam. Khi người Pháp xuất hiện, Trung Hoa tự xem có quyền thương lượng với Pháp về Việt Nam, muốn chia phần với Pháp và quyết định số phận Việt Nam. Cho đến khi bị Pháp đánh bại, Trung Hoa đành nhượng bộ, nhưng những nhà cầm quyền Trung Hoa không bao giờ từ bỏ mục tiêu truyền kiếp là đánh chiếm và đô hộ Việt Nam.
Vì vậy, nhà cầm quyền Trung Hoa luôn luôn tìm kiếm cơ hội nhằm trở lại Việt Nam. Cơ hội đó là việc giải giới quân đội Nhật Bản ở Đông Dương sau Thế chiến thứ hai vào năm 1945 và sau đó thêm một lần nữa khi Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh cầu viện năm 1950, dầu Hồ Chí Minh biết rằng trong một tài liệu của Đảng Cộng sản Trung Hoa năm 1939, Mao Trạch Đông đã khẳng định Việt Nam là một nước phụ thuộc Trung Hoa.
© 2009 Trần Gia Phụng (phungtrangia@yahoo.com)
© 2009 talawas blog
[1]Yoshiharu Tsuboii, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, TpHCM: Ban Khoa học Xã hội, 1990, tr. 142
[2] Yoshiharu Tsuboii, sđd.
[3] Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn 1883-1945, tập 1, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1999, tt. 273-274
[4] Yoshiharu Tsuboii, sđd. tt. 298-299
[5] Alfred Schreiner, Abrégé de l’histoire d’Annam, Sài Gòn: 1906, tr. 353
[6] Vũ Ngự Chiêu, sđd. tr. 291
[7] Khối Quân sử, Quân dân Việt Nam chống Tây xâm (1847-1945), Quân sử III, Sài Gòn: Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, 1971, tr. 164
[8] Vũ Ngự Chiêu, sđd.tt. 328-329
[9] Vũ Ngự Chiêu, sđd. tt. 330-332
[10] Alfred Schreiner, sđd.. tt. 371-372
[11] Alfred Schreiner, sđd. tr. 362
[12] Quân sử III, sđd, tt. 227-228
Bình luận
7 Comments (bài “Trần Gia Phụng – Đại nạn Trung Hoa thời cận đại”)
Xin lỗi quý vị cái link trước không vào được. Xin quý vị vào hai links dưới đây để đọc bài của tác giả Trần Gia Phụng về việc ông Hồ cầu viện TQ năm 1950:
VAI TRÒ CỦA CỘNG SẢN TRUNG QUỐC TRONG CHIẾN TRANH !946-1954 Ở VIỆT NAM (Phần 1)
VAI TRÒ CỦA CỘNG SẢN TRUNG QUỐC TRONG CHIẾN TRANH !946-1954 Ở VIỆT NAM (Phần 2)
“Vì vậy, nhà cầm quyền Trung Hoa luôn luôn tìm kiếm cơ hội nhằm trở lại Việt Nam. Cơ hội đó là việc giải giới quân đội Nhật Bản ở Đông Dương sau Thế chiến thứ hai vào năm 1945 và sau đó thêm một lần nữa khi Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh cầu viện năm 1950, dầu Hồ Chí Minh biết rằng trong một tài liệu của Đảng Cộng sản Trung Hoa năm 1939, Mao Trạch Đông đã khẳng định Việt Nam là một nước phụ thuộc Trung Hoa.” (Trích lời tác giả Trần Gia Phụng)
Đúng thế! Chính ông Hồ Chí Minh đã đưa nước ta trở lại vòng Bắc thuộc sau hơn 100 năm thoát khỏi ảnh hưởng của TQ (do phải chịu sự đô hộ của thực dân Pháp). Ông Hồ và ĐCSVN vẫn huyênh hoang khoác lác là họ có công đuổi Pháp để giành độc lập. Nhưng thực chất là ông và đảng ông đã thay thế việc lệ thuộc Tây bằng việc lệ thuộc Nga Tàu (trước đây) và lệ thuộc Tàu ngày nay. Đây chỉ là một hành vi “dịch chủ tái nô” chứ chẳng hay ho gì cả, chưa kể là hiểm họa mất nước và bị Tàu đồng hóa còn trầm trọng hơn thời thuộc Pháp rất nhiều.
Về chi tiết vụ ông Hồ qua Bắc Kinh cầu viện Tàu năm 1950, kính mời quý vị đọc thêm bài sau đây của ông Trần Gia Phụng:
VAI TRÒ CỦA CỘNG SẢN TRUNG QUỐC TRONG CHIẾN TRANH 1946-1954 Ở VIỆT NAM (Phần 1) (Trần Gia Phụng)
Hiệp Ước Thiên Tân ngày 9 tháng Sáu, 1885
Hòa ước Thiên Tân
(Tài liệu tiếng Anh và Pháp)
Trade and Friendship, peace treaty, concluded between France and China, June 9, 1885, in Tien-Tsin
(From “Official Journal” 27/01/1886 )
The President of the French Republic, on the proposal of the President of the Council, Foreign Minister, Issues: Article 1st. The Senate and the House of Commons having approved the Trade and Friendship, Peace treaty, having concluded between France and China with Tie-Tsin, June 9, 1885, and the ratifications of this Act having been exchanged in Peking 28 Novembre, 1885, says it Traité, whose content follows, will receive its peleine and whole execution: – Trade and Friendship, peace treaty, concluded between France and China, June 9, 1885, in Tien-Tsin.
The President of the French Republic and His Majesty the Emperor of China, animated one and the other of an equal desire to put a term at the difficulties to which place their simultaneous intervention in the businesses of Annam gave, and wanting to restore and improve the old relations of alitié and trade which existed between France and China, solved to conclude a new treaty answering the interests common from the two nations by taking for base Preliminary Convention signed to Tien-Tsin on May 11, 1884, ratified by Imperial Décret on April 13, 1885. To this end, the two High contracting parties named for their Plénipotentiaries, knowledge: The President of the Republic, Mr. Jules Patenôtre, Extraordinary envoy and Ambassador plenipotentiary of France in China, Officer of the Legion of ‘ onnor, Grand Cross of Pole star of Sweden, &c.; And Its Majesty the Emperor of China, Li Hong-chang, Imperial Police chief, First Large Secretary of State, Large Honorary Tutor of the Heir apparent, Superintendent Commercial of the Ports of North, General Governor of the Province of Tcheh, pertaining to the first degree of the third rank of the Nobility, with the title of Souyi; Assisted of If-Tchen, Imperial Police chief, Member of the Council of the Foreign Affairs, President with the Ministry for Justice, Administrator of the Treasury to the Ministry for Finances, Director of the Schools for the Education of the Hereditary Officers of the Left wing of the Tartar Army of Peking, ordering as a head contigent it Chinese of the Yellow Banner with edge; And of Teng-Tcheng-Sieou, Commissaier Imperial, Member of the Ceremonial of State; Which, after communicatehaving communicated their full powerss, which they recognized good and had form, are agreed following Articles: –
ARTICLE I
France commits itself to restore and be maintaining the order in the Provinces of Annam which confine with the Chinese Empirẹ To this end, it will take measurements necessary to disperse or expel the bands of plunderers and people without consent which compromise the public tranquility and to prevent that they do not reform. However the Française troops will be able, in no case, to cross the borders which separate Tonkin from China, border which France promises to respect and to guarantee against any aggression. On its side, China commits itself to exempt or be expelling the bands which take refuge in its provinces bordering on Tonkin, and to disperse cellles which would seek to be formed on its territory to go to carry the disorder among the populations placed under the protection of France, and, in consideration of the guarantees which are given to him as for the safety of its border, it pareillement avoids sending troops to Tonkin. High Prtes Contractantes will fix, by a special convention, the conditions under which the extradition of the criminals between China and Annam will be carried out. The Chinese, colonists or former soldiers, who live peacefully in Annam, by delivering to agriculture, with the industry, or with the trade, and whose control will not give place to qucun reproach, will enjoy for their people and their goods the same safety as the protected French ones.
ARTICLE II
China, decided nothing to make which can compromise the work of pacification entreprie by France, commits itself to respect, in the present and the future, the Treaties, Conventions, and Arrangements, directly occurred or intervening between France and Annam. With regard to the relationship between China and Annam, it is understood that they will be of natureà not to attack the dignity of the Chinese Empire and to give place to no violation of this Treatỵ
ARTICLE III
Within six month starting from the signature of this Treaty, Commissionaires indicated by the High contracting parties will go on the spot for reconnaitre the border between China and Tonkin. They will pose everywhere, where need will be, of the terminals intended to return connect the line of demarcation. If they could not agree on the site of these terminal-or corrections of detail, it could be necessary to bring to the current border of Tonkin, in the common interest of the two countries, they would refer about it to their respective Governments.
ARTICLE IV
When the border is recognized, French, or the protected French ones and the foreign inhabitants from Tonkin, who will want to cross it to go to China, will not be able to make it that after having provided itself beforehand with passports delivered by the Chinese authorities of the border request of the French authorities sweats. For the Chinese subjects, it will be enough to an authorization delivered by the Impériales authorities of the border. The Chinese subjects which will want to go from China in Tonkin by overland route, will have to be provided with regular passports, delivered by the French authorities on the request of the Impériales authorities.
ARTICLE V
The export and import trade will be parmis to the traders French or protected French and with the Chinese traders by the ground border between China and Tonkin.Il will have to be done however by certain points which will be later on given, and of which the choice, as well as the number, will be in connection with the direction as with the importance of the traffic between the two countries. It will be held account, in this respect, of the Payments in force in the interior of the Chinese Empirẹ In any event, two of these points will be indicated on the Chinese border: one with the top of Lao-Kaï, the other beyond Lang-Sound. The French tradesmen will be able to fix themselves at it under the same conditions and with the same advantages as in the open ports of the foreign tradẹ The government of Its Majesty the Emperor of China will install there Customs and the Government of the Republic will be able to maintain there the Consuls whose privileges and attributions will be identical to those of the of the same agents order in the open ports. On its side, Its Majesty the Emperor of China will be able, agreement with the French Government, to name Consuls in the principal cities of Tonkin.
ARTICLE VI
A special payment, annexed to the present Treaty, will specify the conditions under which will be carried out the trade by ground between Tonkin and the Chinese provinces of Yun Nan, Kouang-If, and Kouang-Tong. This payment will be worked out by Police chiefs who will be named by the High contracting parties, within three month after the signature of this Treatỵ The goods being the subject of this trade will be subjected, with the entry and the exit, between Tonkin and the provinces of Yun Nan and of Kouang-If, with rights lower than those which the current Tariff of the foreign trade stipulates. However, the reduced tariff will not be applied to the goods transported by the terrestrial border between Tonkin and Kouang-Tong and will not have an effect in the ports already opened by the Treaties. Trade of the weapons, machines, provisioning, and ammunition of war of any species will be subjected to the Laws and Règlements enacted by each State Contractants on its territorỵ The export and the importation of opium will be controls by special provisions which will appear in the above-mentioned Commercial Payment. The trade of sea between China and Annam will be also the object of a particular Payment. Temporarily, it will not be innovated of anything with the current practicẹ
ARTICLE VII
In order to develop under the conditions the most advantageous relations of trade and good vicinity that this Treaty has for abjet to restore between France and China, the government of the Republic will build roads in Tonkin and will encourage there the construction of railroads. When, on its side, China decides to build railways, it is understood that it will be addressed to French industry, and the Government of the Republic will give him all the facilities to get in France the personnel which it will need. It is also heard that this clause cannot be regarded as component an exclusive privilege in favour of Francẹ
ARTICLE VIII
The commercial stipulations of this Treaty and the Payments to intervene could be revised after a decennial interval completed as from the day of the exchange of the ratifications of this Treatỵ But, if, six months before the term, neither one nor the other of the High contracting parties would have expressed the desire to proceed to the revision, the commercial stipulations would remain in force for new a ten years term and so on.
ARTICLE IX
As soon as this Treaty is signed, the French forces will receive the order to be withdrawn from Kelung and to cease the visit, &c., in open seạ Within one month after the signature of this Treaty, the Island of Formosa and Pescadores will be entirely evacuated by the French troops. ARTICLE X Provisions of the old Treaties, Agreements, and Conventions between France and China, not modified by this Treaty, remain in full strength. This Treaty will be ratified as of now by Its Majesty the Emperor of China, and after it will have been ratified by the President of the French Republic, the exchange of the ratifications will be done in Peking as soon as possible possiblẹ Fact with Tien-Tsin in four specimens, June 9, 1885, corresponding to the 27th day of the 4th moon of the 11th year Kouang-His.
(L.S.) (Signed) PATENOTRẸ
(L.S.) (SIGNED) SI TCHEN.
(L.S.) (Signed) Li Hong-Chang.
(L.S.) (SIGNED) TENG TCHENG SIEOỤ
Art.2. The President of the Council, Foreign Minister, is charged with l”exécution of this Decreẹ Fact in Paris, 25 Janvier, 1886.
(SIGNED) JULES GREVE
By the President of the Republic: The President of the Council, Foreign Minister,
(SIGNED) C. DE FREYCINET.
_________
Traité de Paix, d’Amitié, et de Commerce, conclu entre la France et la Chine, le 9 Juin, 1885, à Tien-Tsin.
(From “Journal Officiel” 27/01/1886)
LE Président de la République Française, sur la proposition du Président du Conseil, Ministre des Affaires Etrangères, Décrète: Article 1er. Le Sénat et la Chambre des Députés ayant approuvé le Traité de Paix, d’Amitié, et de Commerce, conclu entre la France et la Chine à Tie-Tsin, le 9 juin, 1885, et les ratifications de cet Acte ayant été échangées à Pékin le 28 Novembre, 1885, le dit Traité, dont la teneur suit, recevra sa peleine et entière exécution:-
Traité de Paix, d’Amitié, et de Commerce, conclu entre la France et la Chine, le 9 Juin, 1885, à Tien-Tsin.
Le Président de la République Française et Sa Majesté l’Empereur de Chine, animés l’un et l’autre d’un égal désir de mettre un terme aux difficultés auxquelles a donné lieu leur intervention simultanée dans les affaires de l’Annam, et voulant rétablir et améliorer les anciennes relations d’alitié et de commerce qui ont existé entre la France et la Chine, ont résolu de conclure un nouveau traité répondant aux intérêts communs des deux nations en prenant pour base la Convention Préliminaire signée à Tien-Tsin le 11 Mai 1884, ratifiée par Décret Impérial le 13 Avril 1885. A cet effet, les deux Hautes Parties Contractantes ont nommé pour leurs Plénipotentiaries, savoir: Le Président de la République, M. Jules Patenôtre, envoyé Extraordinaire et Ministre Plénipotentiaire de France en Chine, Officier de la Légion d”onneur, Grand-Croix de l’Etoile Polaire de Suède, &c.; Et Sa Majesté l’Empereur de Chine, Li Hong-chang, Commissaire Impérial, Premier Grand secrétaire d’Etat, Grand Précepteur Honoraire de l’Héritier Présomptif, Surintendant du Commerce des Ports du Nord, Gouverneur Général de la Province du Tcheh, appartenant au premier degré du troisième rang de la Noblesse, avec le titre de Souyi; Assistés de Si-Tchen, Commissaire Impérial, Membre du Conseil des Affaires Etrangères, Président au Ministère de la Justice, Administrateur du Trésor au Ministère des Finances, Directeur des Ecoles pour l’Education des Officiers Héréditaires de l’Aile Gauche de l’Armée Tartare de Pékin, commandant en chef le contigent Chinois de la Bannière Jaune à bordure; Et de Teng-Tcheng-Sieou, Commissaier Impérial, Membre du Cérémonial d’Etat; Lesquels, après s’être communiqué leurs pleins pouvoirs, qúils ont reconnus bonne et due forme, sont convenus des Articles suivants:-
ARTICLE I
La France s’engage à rétablir et à maintenir l’ordre dans les Provinces de l’Annam qui confinent à l’Empire Chinois. A cet effet, elle prendra les mesures nécessaires pour disperser ou expulser les bandes de pillards et gens sans aveu qui compromettent la tranquilité publique et pour empêcher qúelles ne se reforment. Toutefois les troupes Française ne pourront, dans aucun cas, franchir les frontières qui séparent le Tonkin de la Chine, frontière que la France promet de respecter et de garantir contre toute agression. De son côté, la Chine s’engage à dispenser ou à expulser les bandes qui se réfugient dans ses provinces limitrophes du Tonkin, et à disperser cellles qui chercheraient à se former sur son territoire pour aller porter le trouble parmi les populations placées sous la protection de la France, et, en considération des garanties qui lui sont données quant à la sécurité de sa frontière, elle s’interdit pareillement d’envoyer des troupes au Tonkin. Les Hautes Prtes Contractantes fixeront, par une convention spéciale, les conditions dans lesquelles s’effectuera l’extradition des malfaiteurs entre la Chine et l’Annam. Les Chinois, colons ou anciens soldats, qui vivent paisiblement en Annam, en se livrant à l’agriculture, à l’industrie, ou au commerce, et dont la conduite ne donnera lieu à qucun reproche, jouiront pour leurs personnes et pour leurs biens de la même sécurité que les protégés Français.
ARTICLE II
La Chine, décidée à ne rien faire qui puisse compromettre l’oeuvre de pacification entreprie par la France, s’engage à respecter, dans le présent et dans l’avenir, les Traités, Conventions, et Arrangements, directement intervenus ou à intervenir entre la France et l’Annam. En ce qui concerne les rapports entre la Chine et l’Annam, il est entendu qúils seront de natureà ne point porter atteinte à la dignité de l’Empire Chinois et à ne donner lieu à aucune violation du présent Traité.
ARTICLE III
Dans un délai de six mois à partir de la signature du présent Traité, les Commissionaires désignés par les Hautes Parties Contractantes se rendront sur les lieux pour reconnaitre la frontière entre la Chine et le Tonkin. Ils poseront partout, où besoin sera, des bornes destinées à rendre apparente la ligne de démarcation. Dans le cas où ils ne pourraient se mettre d’accord sur l’emplacement de ces bornes-ou sur les rectifications de détail, il pourrait y avoir lieu d’apporter à la frontière actuelle du Tonkin, dans l’intérêt commun des deux pays, ils en référeraient à leurs Gouvernements respectifs.
ARTICLE IV
Lorsque la frontière aura été reconnue, les Français, ou les protégés Français et les habitants étrangers du Tonkin, qui voudront la franchir pour se rendre en Chine, ne pourront le faire qúaprès s’être munis préalablement de passeports délivrés par les autorités Chinoises de la frontière sue demande des autorités Françaises. Pour les sujets Chinois, il suffira d’une autorisation délivrée par les autorités Impériales de la frontièrẹ Les sujets Chinois qui voudront se rendre de Chine au Tonkin par voie de terre, devront être munis de passeports réguliers, délivrés par les autorités Françaises sur la demande des autorités Impériales.
ARTICLE V
Le commerce d’importation et d’exportation sera parmis aux négociants Français ou protégés Français et aux négociants Chinois par la frontière de terre entre la Chine et le Tonkin.Il devra se faire toutefois par certains points qui seront déterminés ultérieurement, et dont le choix, ainsi que le nombre, seront en rapport avec la direction comme avec l’importance du trafic entre les deux pays. Il sera tenu compte, à cet égard, des Règlements en vigueur dans l’intérieur de l’Empire Chinois. En tout état de cause, deux de ces points seront désignés sur la frontière Chinoise: l’un au dessus de Lao-Kaï, l’autre au delà de Lang-Son. Les commerçants Français pourront s’y fixer dans les mêmes conditions et avec les mêmes avantages que dans les ports ouverts du commerce étranger. Le gouvernement de Sa Majesté l’Empereur de Chine y installera des Douanes et le Gouvernement de la République pourra y entretenir des Consuls dont les privilèges et les attributions seront identiques à ceux des agents de même ordre dans les ports ouverts. De son côté, Sa Majesté l’Empereur de Chine pourra, d’accord avec le Gouvernement Français, nommer des Consuls dans les principales villes du Tonkin.
ARTICLE VI
Un règlement spécial, annexé au présent Traité, précisera les conditions dans lesquelles s’effectuera le commerce par terre entre le Tonkin et les provinces Chinoises du Yun Nan, du Kouang-Si, et du Kouang-Tong. Ce règlement sera élaboré par des Commissaires qui seront nommés par les Hautes Parties Contractantes, dans un délai de trois mois après la signature du présent Traité. Les marchandises faisant l’objet de ce commerce seront soumises, à l’entrée et à la sortie, entre le Tonkin et les provinces du Yun Nan et du Kouang-Si, à des droits inférieurs à ceux que stipule le Tarif actuel du commerce étranger. Toutefois, le tarif réduit ne sera pas appliqué aux marchandises transportées par la frontière terrestre entre le Tonkin et le Kouang-Tong et n’aura pas d’effet dans les ports déjà ouverts par les Traités. Le commerce des armes, engins, approvisionnements, et munitions de guerre de toute espèce sera soumis aux Lois et Règlements édictés par chacun des Etats Contractants sur son territoirẹ L’exportation et l’importation de l’opium seront régies par des dispositions spéciales qui figureront dans le Règlement Commercial susmentionné. Le commerce de mer entre la Chine et l’Annam sera également l’objet d’un Règlement particulier. Provisoirement, il ne sera innové en rien à la pratique actuellẹ
ARTICLE VII
En vue de développer dans les conditions les plus avantageuses les relations de commerce et de bon voisinage que le présent Traité a pour abjet de rétablir entre la France et la Chine, le gouvernement de la République construira des routes au Tonkin et y encouragera la construction de chemins de fer. Lorsque, de son côté, la Chine aura décidé de construire des voies ferrées, il est entendu qúelle s’adressera à l’industrie Française, et le Gouvernement de la République lui donnera toutes les facilités pour se procurer en France le personnel dont elle aura besoin. Il est entendu aussi que cette clause ne peut être considérée comme constituant un privilège exclusif en faveur de la Francẹ
ARTICLE VIII
Les stipulations commerciales du présent Traité et les Règlements à intervenir pourront être révisés après un intervalle de dix ans révolus à partir du jour de l’échange des ratifications du présent Traité. Mais, au cas où, six mois avant le terme, ni l’une ni l’autre des Hautes Parties Contractantes n’aurait manifesté le désir de procéder à la révision, les stipulations commerciales resteraient en vigueur pour un nouveau terme de dix ans et ainsi de suitẹ
ARTICLE IX
Dès que le présent Traité aura été signé, les forces Françaises recevront l’ordre de se retirer de Kelung et de cesser la visite, &c., en haute mer. Dans le délai d’un mois après la signature du présent Traité, l’Ile de Formose et les Pescadores seront entièrement évacuées par les troupes Françaises.
ARTICLE X
Les dispositions des anciens Traités, Accords, et Conventions entre la France et la Chine, non modifiés par le présent Traité, restent en pleine vigueur.
Le présent Traité sera ratifié dès à présent par Sa Majesté l’Empereur de Chine, et après qúil aura été ratifié par le Président de la République Française, l’échange des ratifications se fera à Pékin dans le plus bref délai possiblẹ
Fait à Tien-Tsin en quatre exemplaires, le 9 Juin, 1885, correspondant au 27ème jour de la 4ème lune de la 11ème année Kouang-Sien.
(L.S.) (Signé) PATENOTRE.
(L.S.) (Signé) SI TCHEN.
(L.S.) (Signé) LI HONG-CHANG.
(L.S.) (Signé) TENG TCHENG SIEOU.
Art.2. Le Président du Conseil, Ministre des Affaires Etrangères, est chargé de l”exécution du présent Décret. Fait à Paris, le 25 Janvier, 1886.
(Signé) JULES GREVE
Par le Président de la République: Le Président du Conseil, Ministre des Affaires Etrangères,
(Signé) C. DE FREYCINET.
Phản đối Trung Quốc bắt giữ ngư dân VN
Chính quyền CHXHCNVN ở mô rồi, Trời đất ơi !
Hôm nay, Thứ Ba, 15/12/2009, trên mạng Tuổi Trẻ có đăng bài Phản đối Trung Quốc bắt giữ ngư dân VN mở đầu như sau:
“TT (HÀ NỘI, THỪA THIÊN – HUẾ) – Hôm 14-12, Trung ương Hội Nghề cá Việt Nam đã có văn bản chính thức gửi Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối hành động của phía Trung Quốc bắt giữ ba tàu cá của ngư dân VN trong lúc đang hành nghề trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa (Tuổi Trẻ ngày 13-12).”
Vậy chính phủ và nhà nước CHXHCNVN ở nơi mô ? Sao lại để cho cái ban Trung ương Hội Nghề cá Việt Nam nhỏ tí teo này gửi văn bản CHÍNH THỨC phản đối với Đại sứ quán TQ ? Quý vị ở đâu hết rồi, hay đã TỪ NHIỆM mà quên chưa thông báo cho toàn dân VN trong và ngoài nước biết ? Thiệt chán quý vị quá !
Đại nạn Trung Hoa thời hiện đại.
Kính mời quý vị đọc ý kiến dưới đây của độc giả Pha Lê (từ Việt Nam) đăng trên mạng X-Cafe VN:
Âm mưu khống chế hoàn toàn Việt Nam của Trung Quốc
[…] là xứ được gọi là Việt Nam. Xứ này từng là nước thần phục Trung Hoa.”[1] Do cách hành văn khác nhau, Trung Hoa nghĩ rằng họ đã phản đối Pháp, nhưng Pháp […]