Gorbachev đưa thế giới cộng sản tới chỗ sụp đổ, nhưng mầm mống của tình huống này đã được Khrushchev gieo rắc cách nay đúng nửa thế kỷ, đó là “diễn văn mật” được đọc vào ngày cuối cùng tại Đại hội Ðảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 20 (đêm 24 rạng 25-2-1956).
Nhân kỷ niệm 50 năm biến cố trên, và cũng nhân dịp dư luận đang chú ý nhiều tới Đại hội lần thứ Mười của Ðảng Cộng sản Việt Nam sắp diễn ra, người viết xin ghi lại một số dữ kiện đáng chú ý liên hệ tới Stalin, Khrushchev, Đại hội 20 và ảnh hưởng của nó.
Riêng về “diễn văn mật”, vì khá dài, khoảng 20 ngàn chữ, độc giả có thể đọc toàn văn
bản dịch tiếng Việt, hay tiếng Anh trên internet
[1] . Đại cương, từ đầu đến cuối, là những lời tố cáo Stalin về những tội cực kỳ dã man. Thử tưởng tượng, một lãnh tụ đối với Liên Xô và thế giới cộng sản, được tôn thờ nhiều lần hơn so với Hồ Chí Minh và dân Việt Nam, vậy mà bỗng nhiên bị Tổng Bí thư Đảng tố cáo về những tội ghê tởm. Có thể nói, chấn động tâm lý của vụ này cũng mạnh ngang với trái bom nguyên tử đầu tiên ném xuống Hiroshima 11 năm trước, nếu diễn ra công khai. Nhưng vì diễn ra trong vòng bí mật, nên qua những tiết lộ khó kiểm chứng tức thì, chỉ gây ngạc nhiên và bàn tán tại phương Tây vào thời đó. Trong thế giới cộng sản, ngoài thành phần lãnh đạo và các đảng viên cao cấp, dân chúng đã bị bưng bít, không biết nhiều tới diễn văn mật. Tuy vậy, Đại hội 20 và diễn văn mật đã để lại những hậu quả vô cùng to lớn. Diễn văn mật được công khai hóa tại Đại hội Đảng thứ 22, tháng 10 năm 1961, sau đó, xác Stalin bị/được đem chôn. Gorbachev lần đầu tiên là đại biểu của Đại hội này.
Trong cuốn
Tại sao xảy ra Gorbachev (Why Gorbachev Happened), nhà báo Robert G. Kaiser, ký giả báo
Washington Post từng sống lâu năm tại Liên Xô, và nhiều lần phỏng vấn Gorbachev, đã viết: “Vô số những người thuộc thế hệ Gorbachev đã thấm nhuần tinh thần cải tổ của Khrushchev qua ‘diễn văn mật’ nổi tiếng tại Đại hội 20 của Đảng Cộng sản năm 1956, khi ông ta tố cáo những tội ác của Stalin và ngụ ý rằng Đảng phải tìm một đường lối mới. Diễn văn đó đã khơi mào sự ‘Tan băng’ (The Thaw), một thời kỳ thư giãn về kiểm duyệt và kiểm soát đã khiến văn thơ đua nở, và tạo hình một thế hệ - thế hệ Gorbachev, ‘con cái của Đại hội 20’”. Và: “Thành phần của thế hệ này đã coi Gorbachev như một kẻ cứu chuộc—‘cơ hội chót’.” (Why Gorbachev Happened, nxb. Simon & Schuster, 1991, tr. 15).
Chính Gorbachev cũng ghi nhận: “Một mốc quan trọng trong lịch sử chúng ta là Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 20. Nó đã đóng góp lớn lao cho lý thuyết và thực hành của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồi đó và sau này, đã có cố gắng lớn để làm lợi cho quốc gia bằng cách đẩy mạnh việc thoát khỏi những dấu hiệu tiêu cực trong đời sống xã hội chính trị đã nảy sinh do tệ sùng bái cá nhân thời Stalin” (
Perestroika, New thinking for our country and the world, của Mikhail Gorbachev, nxb. Harper & Row, 1987, tr.43).
Hồi đó, Nam Việt Nam được biết tới diễn văn mật qua báo chí phương Tây, và không ngạc nhiên nhiều. Với những người đã nếm mùi chính sách cải cách ruộng đất trước cuộc di cư năm 1954, và với phong trào tố cộng đang lên cao lúc bấy giờ, trùm cộng sản Stalin tàn ác là điều dĩ nhiên. Nhưng Bắc Việt Nam, ngay những cán bộ tuyên huấn nòng cốt như Trần Thư của báo
Quân đội Nhân dân, cũng phải đợi tới năm 1960 mới cảm thấy thấm thía. Mới đây, ông đã viết trong bút ký
Anh cả cò về Đại hội 20 như sau:
Đối với các bạn trẻ bây giờ thì câu “Đại hội 20” không gây một ấn tượng nào cả, thậm chí các bạn cũng chẳng biết nó là cái gì. Nhưng đối với thế hệ chúng tôi lúc bấy giờ thì nó là một cú sốc dữ dội. Nó là quả bom tấn nổ bất thần trên bầu trời tưởng như quang đãng của thế giới cộng sản.
Thế là sau mấy chục năm trời dối trá, một sự dối trá đã tung được hỏa mù vào cả những bộ óc vĩ đại nhất, những nhà bác học, nhà văn, nhà thơ tầm nhân loại, những “Giải thưởng Nôben”, từ Langevin, Curie đến Sartre và Aragon, bức màn bí mật bao phủ chế độ Xô Viết đã bị xé toang, phơi bày ra ánh sáng những tội ác ghê tởm của chế độ độc tài Xtalin. Và xé toang bởi một người mà không ai có thể nghi ngờ được độ đáng tin cậy của lời nói: Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, Nikita Khơrutsốp. Bản báo cáo của Khơrutsốp đã làm chấn động thế giới và nổi tiếng đến mức người ta không gọi bằng cái tên gọi nào khác là cái tên tắt “Bản báo cáo K”.
Lúc ấy Xtalin đang là một huyền thoại. Ta nhớ rằng khi Xtalin chết hàng ngày có hàng ngàn người dân Matxcơva đến tụ tập ở Quảng trường Đỏ khóc lóc: “Xtalin chết rồi ta biết sống với ai?”
Cứ như Xtalin chết thì trời sập vậy.
[2]
Ở Việt Nam ông được coi là ông thánh không bao giờ phạm sai lầm. Năm 1949, ở Việt Bắc, ông Nguyễn Sơn và ông Bùi Công Trừng đến giảng ở trường Nguyễn Ái Quốc đã phê phán kịch liệt chính sách ruộng đất của Đảng và khẩu hiệu “tích cực cầm cự, chuẩn bị tổng phản công”. Hai ông được nhiều người đồng tình. Ông Trường Chinh giải đáp không xong. Cuối cùng Cụ Hồ đến chỉ cần nói một câu: Bác đã sang Liên Xô báo cáo với đồng chí Xtalin. Đồng chí Xtalin hoàn toàn tán thành đường lối của Đảng ta. Xtalin đã nói đúng là đúng.
Thế là xong! Nhẹ nhàng.
Nguyên nhân nào đã khiến Khrushchev làm chuyện động trời như vậy? Sau khi bị hạ bệ vào năm 1964, trong thời gian bị quản thúc tại gia, Khrushchev đã để lại hồi ký, và tài liệu này đã lọt được ra ngoài, nhờ đó, người ta biết thêm được nhiều điều về Khrushchev, và những điều bí mật về Stalin đã không được đề cập tới trong diễn văn mật. Bản dịch tiếng Anh của hồi ký này mang tên
Khrushchev Remembers, nhà xuất bản Little Brown, năm 1970.
Tuy từng tuyên bố không thể quên Marx, Engels và Lenin cho đến khi tôm biết bay, nhưng trước hết, Khrushchev là một người thực tế. Ông chủ trương giải quyết khó khăn dựa trên các điều kiện đang có, hơn là căn cứ vào lý thuyết. Năm 1922, sau khi tham dự nội chiến trở về, thấy vợ trẻ bị chết trong trận đói ghê gớm năm trước. Có nơi ăn cả thịt người. Theo ông: Những năm đầu của chính quyền Sô Viết là những năm phải tranh đấu khó khăn và hy sinh, nhưng nhân dân vẫn tin vào Đảng. Chúng tôi tự nói với nhau rằng, dù tình hình có tồi tệ thế nào chăng nữa, cũng còn khá hơn thời tiền Cách mạng.
Nhưng Khrushchev nói tiếp: Thật ra, điều này không đúng với mọi người. Những người thợ mỏ tài giỏi nhất ở Donbass đã có cuộc sống khá vào thời trước Cách mạng hơn là ngay sau đó. “Đối với tôi, về phương diện vật chất, dù là trợ lý xí nghiệp, tôi đã có cuộc sống kém hơn so với trước Cách mạng, khi tôi chỉ là một thợ kim khí thường”.
Để giải quyết những khó khăn về kinh tế, Khrushchev khen Lenin đã sáng suốt học hỏi kinh nghiệm và thu hút chuyên viên từ phía tư bản, đưa ra Chính sách Kinh tế Mới, chủ trương phục hồi quyền tư hữu, và tái lập giới trung lưu. Trong khi đó, cả đời Stalin là kẻ tàn sát chuyên viên (specialist-eater).
Năm 1925, với tư cách bí thư đại diện một quận đi dự Đại hội Đảng thứ 14, lần đầu tiên Khrushchev được gặp Stalin. Nhờ quan thầy tốt, Khrushchev đã thăng quan tiến chức khá nhanh, và sớm được Stalin tin dùng. Trong thời gian làm bí thư cai trị Ukraine cả chục năm, Khrushchev đã theo lệnh Stalin chỉ huy một cuộc thanh trừng lớn, giết hại nhiều người. Có lẽ vì thế, Khrushchev biết rõ sự tàn ác của Stalin, và sau này tố cáo Stalin để đỡ phần nào bứt rứt. Và cũng có thể, Khrushchev tố cáo Stalin để chặn trước những kẻ có thể tố cáo mình.
Từ khi về làm việc cạnh Stalin tại Mạc Tư Khoa, thỉnh thoảng Khrushchev được cử đi xem xét tình hình tại những nông trại tập thể, và chứng kiến nhiều cảnh dân chúng đói khổ, không giống với hình ảnh tốt đẹp do báo chí của chế độ mô tả. Nhiều vùng dân đói quá, biểu tình phản đối, đều bị quân đội thẳng tay đàn áp. Những người dân thoát chết, bị trừng phạt bằng cách cả vùng bị đầy đi Siberia. Trong khi đó, dân Thủ đô và báo chí nước ngoài không hay biết gì.
Năm 1934, Khrushchev được bầu vào BCH Trung ương trong Đại hội Đảng thứ 17, và nằm trong số rất ít những người không bị thanh trừng. Trong tổng số 139 ủy viên chính thức và dự khuyết của Trung ương Đại hội 17, có tới 98 người (70%) bị bắt và xử bắn. Có tới 1.108 trong số 1.956 đại biểu của Đại hội này bị bắt, và bị kết án phản cách mạng.
Vào những năm 1945-46, tại Việt Nam, muốn giết ai, chỉ cần gán cho người đó hai chữ “Việt gian”. Đây không phải là sáng kiến của Việt Minh, mà là trò chơi của Stalin từ vài chục năm trước. Mỗi khi muốn giết ai, kể cả nhiều đảng viên cao cấp thuộc Trung ương hay Bộ Chính trị, Stalin chỉ cần gán cho người đó nhãn hiệu “kẻ thù của nhân dân”. Dán nhãn hiệu trước, rồi chứng minh bằng cách thú tội, là sở trường của công an.
Stalin nghi ai, là người đó tới số. Không may là Stalin rất đa nghi. Chính Stalin cũng nói “Tôi không tin ai, kể cả tôi”. Những người thân cận thường được Stalin mời ăn, mỗi người được chỉ định nếm một món, trước khi Stalin ăn, để biết chắc không có thuốc độc. Một hôm Bulganin nói với Khrushchev: “Đôi khi một người được Stalin mời tới gặp như bạn. Và khi ngồi với Stalin, không biết sau đó sẽ đi đâu, về nhà hay vào tù”.
Thí dụ điển hình là vụ kỳ thị Do Thái vào thời Đệ nhị Thế chiến. Trong khi Liên Xô còn đang đánh nhau với quân của Hitler tại Ukraine, để tuyên truyền, Stalin cho thành lập Ủy ban Do Thái chống Phát-xít (Jewish Anti-Fascist Commitee), chủ yếu là thu góp những tài liệu chứng tỏ sự tàn ác của Hitler đối với người Do Thái, và đề cao thành tích của Hồng quân Liên Xô chống Đức Quốc Xã, rồi tung tin cho giới truyền thông Mỹ. Ủy ban này đứng đầu bởi Lozovsky, thành viên Trung ương Đảng, và là người phát ngôn chính thức của chính quyền Sô Viết. Người thứ nhì là Mikhoels, một diễn viên kịch nghệ Do Thái nổi tiếng. Người thứ ba là bà Zhemchuzhina, thuộc bộ tham mưu của Trung ương Đảng, đồng thời là vợ của Molotov. Việc làm của Ủy ban này đã tạo được dư luận tốt tại Tây phương, giúp Liên Xô dễ dàng nhận được nhiều viện trợ quân sự từ Mỹ.
Sau khi Ukraine được giải phóng, sắc dân Tartar tại bán đảo Crimea (phía Nam Ukraine trên Hắc Hải) bị kết tội hợp tác với Hitler. Ngày 11-5-1944, Stalin ký sắc lệnh trừng phạt toàn thể
[3] cộng đồng này bằng cách lưu đầy họ tới vùng hẻo lánh ở Uzbek. Mỗi người chỉ được mang theo tối đa 500 ký thực phẩm, quần áo và đồ dùng. Tất cả tài sản còn lại như nhà cửa, đất đai, gia súc... đều bị tịch thu. Nhân cơ hội này, Ủy ban Do Thái chống Phát-xít trên đây đề nghị dùng đất Crimea bỏ trống sau khi người Tartars bị lưu đầy làm khu vực Do Thái tự trị. Thế là Stalin nghi các lãnh đạo Ủy ban làm tay sai cho Mỹ, thi hành kế hoạch dùng người Do Thái xâu xé đất đai và bao vây Liên Xô.
Lozovsky bị xử bắn. Tin chính thức loan báo Mikhoels bị chết vì tai nạn lưu thông, lễ mai táng được cử hành trọng thể. Nhưng sau khi Stalin chết, Khrushchev cho mở lại hồ sơ, được biết Mikhoels thiệt mạng vì đã bị đẩy vào trước xe vận tải. Vẫn theo Khrushchev, nhiều vụ giết người tương tự như vậy đã diễn ra, theo lệnh của Stalin. Chuyện này cũng không phải chỉ xảy ra tại Liên Xô. Theo tài liệu đọc thêm trong
Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên, vào thời gian Khrushchev tố cáo tội ác của Stalin, tại Việt Nam, Hồ Chí Minh có một cô phục vụ nhu cầu sinh lý tên là Nguyễn Thị Xuân. “Cuối năm 1956 chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung”. Có con với nhau rồi, cô muốn chính thức lấy Cụ, nhưng Cụ sợ Đảng bị mang tiếng. Nội vụ được công an giải quyết bằng cách ngụy tạo một vụ tai nạn xe cán chết người. Nhưng Việt Nam ăn chắc hơn, đập chết cô Xuân rồi mới vất xác ra đường. “Tai nạn” này sau được ông Nguyễn Minh Cần, Phó Chủ tịch UBND Hà Nội thời đó xác nhận.
Bà Zhemchuzhina, tuy là vợ Molotov, cũng bị bắt, và bị đi đầy. Mãi tới sau khi Stalin chết mới được trở về. Molotov, một cán bộ đắc lực từ thời Lenin, từng làm thủ tướng trước khi Stalin kiêm nhiệm chức vụ này, và là Ngoại trưởng Liên Xô thời Đệ nhị Thế chiến. Khi Trung ương họp bàn về hình phạt dành cho Zhemchuzhina, Molotov không bỏ phiếu thuận, cũng không bỏ phiếu chống, coi như vắng mặt. Stalin đã nổi xung về chuyện này, và sau đó Molotov đã bị hành hạ đủ điều.
Con gái của Stalin cũng bị vạ lây. Svetlana mới sáu tuổi khi mẹ chết vào năm 1932. (Người thân cận như Khrushchev cũng không biết rõ bà ta tự tử, hay bị Stalin bắn). Năm 17 tuổi, nàng lấy chồng gốc Do Thái. Vì nghi ngờ Do Thái trong vụ Crimea, Stalin bắt Svetlana li dị chồng. Chuyện đáng cười ra nước mắt là khi thấy Stalin bắt con gái li dị chồng gốc Do Thái, nhân vật thứ nhì của chế độ là Malenkov cũng bắt con gái mình là Volya phải li dị chồng cũng gốc Do Thái. Khrushchev nhận xét: “Stalin đã bắt con gái ông ta li dị một tên Do Thái, thì Malenkov cũng phải làm như vậy”. Để chứng tỏ dạ trung thành.
Li dị xong, Stalin ép Svetlana lấy con trai của Zhdanov, một bộ hạ thân tín và tàn ác, từng chỉ huy cuộc thanh trừng đẫm máu trong “vụ Leningrad” và được coi như sẽ kế nghiệp Stalin. Khi Zhdanov bị chết vào năm 1948, Stalin nghi ông này đã bị các bác sĩ đầu độc, thế là phát sinh vụ “Bác sĩ mưu phản” (Doctors’ plot), rất nhiều bác sĩ bị bắt, kể cả bác sĩ riêng của Stalin. May mắn là Stalin chết trước khi các bác sĩ bị thanh toán. Cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối” này không được lâu, Svetlana li dị và lấy chồng lần thứ ba là một chuyên viên người Ấn. Năm 1967 chồng chết, nhân cơ hội đưa tro về Ấn Độ, Svetlana đã trốn sang Mỹ. Năm 1970 lấy người chồng thứ tư, William Peters, là con rể cũ của kiến trúc sư hàng đầu nước Mỹ Frank Lloyd Wright. Hiếm có người nào trên thế giới đã kết hôn với cả ba khuynh hướng chính thời Chiến tranh lạnh: Cộng sản, Tự do, và Trung lập; và cả hai phía Do Thái và bài Do Thái.
Dù vẫn thương Svetlana, Khrushchev coi việc bỏ trốn sang Mỹ là hành vi phản bội không thể tha thứ. Tuy vậy, Khrushchev cũng lên án Đại sứ Liên Xô tại Ấn đã hành động thiếu khôn ngoan. Khởi đầu, Svetlana đã gặp Đại sứ Liên Xô, xin ở lại Ấn ba tháng, nhưng bị từ chối, được lệnh phải về ngay, nên mới lén gặp Đại sứ Mỹ xin tị nạn. Khrushchev chủ trương, Đại sứ Liên Xô nên hỏi Svetlana tại sao chỉ xin ở lại ba tháng, mà không là một vài năm? Tại sao không để Svetlana tự do đi về, như vậy Liên Xô đã không bao giờ mất nàng, và Tây phương đã không có cơ hội tuyên truyền. Điều này chứng tỏ Khrushchev là người thực tế. Khi thấy không thể chọn thái độ cứng rắn, tốt hơn nên ôn hòa.
Không phải Khrushchev chỉ nói suông, chính ông đã nhiều lần hành động như vậy. Nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng Ashkenazy từng thắng giải Tchaikovsky, có vợ người Anh và một con. Năm 1963, Ashkenazy đem vợ con về thăm quê ngoại, rồi tới tòa Đại sứ Liên Xô ở London hỏi phải làm thế nào, vì vợ không chịu trở lại Liên Xô nữa. Được báo cáo nội vụ, trong tình thế “bắt không được, tha làm phúc”, Khrushchev đã cho Ashkenazy ở lại ngoại quốc, muốn bao giờ về cũng được. Ông đã viết một câu có lý: “Đối với tôi, thật không thể tin được là sau năm mươi năm Sô Viết cầm quyền, cửa thiên đàng nên khóa chặt và giữ chìa khóa”.
Một trường hợp tương tự khác là nữ vũ công ba lê nổi tiếng thế giới Maya Plisetskaya. Nàng thường bị loại mỗi khi đoàn Bolshoi ra ngoại quốc lưu diễn, vì người ta sợ nàng bỏ trốn. Năm 1959, nàng viết thư thẳng cho Khrushchev xin đi với đoàn lưu diễn tại Hoa Kỳ. Khrushchev đồng ý. Từ đó về sau, nàng đã đi lưu diễn nhiều nơi, và vẫn trở về. Khrushchev kết luận: “Chúng ta không thể làm hàng rào giữ dân chúng bên trong. Chúng ta phải cho họ cơ hội để tự tìm hiểu xem thế giới như thế nào”. Nhưng điều mỉa mai là chính Khrushchev đã ra lệnh xây “bức tường ô nhục” Bá Linh, một bức tường mà nhiệm vụ chính không phải để ngăn người xâm nhập từ bên ngoài như Vạn lý Trường thành ở Trung Hoa, mà để giam giữ dân chúng trong “thiên đàng” của mình. Một lần nữa chứng tỏ, đối với Khrushchev, cái gì có thể làm được thì làm. Điều gì khó, sẵn sàng thay đổi cho phù hợp với thực tế.
Khrushchev đã dùng phần cuối diễn văn mật để nêu ra tệ sùng bái cá nhân của Stalin. Sau khi nhắc lại nhiều lần Lenin đã nhấn mạnh sự khiêm nhượng là đức tính không thể thiếu được của người cộng sản Bôn-sơ-vích, Khrushchev tố cáo chính Stalin đã viết sách tự ca tụng mình. Trong cuốn
Toát yếu tiểu sử (Short Biography), Stalin viết: “Mặc dầu đã thực hiện một cách tài tình nhiệm vụ của người lãnh đạo Đảng và nhân dân, cùng được sự ủng hộ toàn diện của tất cả nhân dân Liên Xô, Stalin không bao giờ để cho việc làm của mình bị tổn thương vì một chút khoe khoang, kiêu ngạo, hay tự đề cao”. Viết như vậy rồi, Stalin tự bốc mình tận mây xanh. Stalin còn chọn lời đề cao mình trong bản quốc ca:
“Stalin dạy chúng ta trung thành với nhân dân, Người gây cảm hứng cho chúng ta trong việc làm và hành động”. Khrushchev đặt câu hỏi: “Có bao giờ và ở đâu mà một lãnh tụ ca tụng mình như vậy không? Có xứng đáng là một lãnh tụ Marxist-Leninist không?”
Thật ra, Khrushchev chẳng phải tìm đâu xa, tại nước cộng sản Việt Nam anh em, lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng hành động y hệt. Ông dùng bút hiệu Trần Dân Tiên viết tiểu sử của mình. Sau khi viết: “Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế”, ông đã ca tụng mình toàn những tính tốt như một vị thánh sống, là anh hùng cứu nước, là cha già dân tộc...
Đại hội 20 là Đại hội đầu tiên kể từ khi Stalin chết. Liên Xô trải qua ba năm chế độ Stalin không có Stalin. Đồ tể của Stalin là Beria đã bị thanh toán, nhưng bóng ma Stalin vẫn còn đó. Những kẻ bị oan ức chưa được phục hồi. Những kẻ bị bắt may mắn chưa bị thanh toán vẫn còn bị giam giữ. Khrushchev phải làm cái gì đó để khai thông bế tắc. Ông ghi lại sự băn khoăn của mình:
Chúng tôi đã kiên trì tin vào cái ảo tưởng do Stalin gây ra là chúng tôi bị bao vây bởi quân thù, rằng chúng tôi phải đánh lại chúng, và rằng bằng việc theo những phương pháp được minh chứng qua lý thuyết và củng cố qua thực hành của Stalin, chúng tôi đã gia tăng cường độ cho cuộc đấu tranh giai cấp và gặt hái thêm thắng lợi về cho Cách mạng. Chúng tôi không thể tưởng tượng nổi là tất cả các cuộc hành quyết trong các vụ thanh trừng, đứng về phương diện luật pháp, tự nó là những tội phạm. Nhưng đúng thế! Chính Stalin đã có hành vi phạm pháp, những việc làm có thể bị trừng phạt tại bất cứ nước nào trên thế giới, trừ những nước phát xít như của Hitler và Mussolini.
[4]
Rồi tới khi Beria bị bắt và cuộc điều tra nội vụ. Có những phát hiện kinh hoàng về guồng máy bí mật mà chúng tôi không biết, đã gây ra chết chóc cho biết bao nhiêu người. Tôi còn nhớ đã vô cùng sửng sốt khi được biết Kedrov đã bị hành quyết như một kẻ thù của nhân dân. Kedrov đã là tư lệnh đầu tiên tại phía Bắc, tổ chức phòng thủ để chống lại quân Anh. Nhưng ngay cả khi chúng tôi đã sáng mắt qua vụ án Beria, chúng tôi vẫn chưa chịu tin rằng chính Stalin có thể là kẻ đằng sau những vụ khủng khiếp do Beria chỉ huy. Chúng tôi đã giải thích sai lạc cho Đảng và nhân dân về những gì đã xảy ra; Chúng tôi đã đổ mọi tội lỗi cho Beria. Ông ta là một vai trò thuận tiện. Chúng tôi đã làm tất cả mọi sự có thể để bao che cho Stalin, mà chưa hoàn toàn nhận thức được rằng, làm như vậy là chúng tôi đã che chở một phạm nhân, một tên sát nhân, một kẻ tàn sát tập thể! Tôi nhắc lại: Mãi cho đến năm 1956 chúng tôi mới tự giải thoát khỏi sự tùng phục vào Stalin.
Cuối cùng, Khrushchev đã nhận ra rằng, cần phải nêu rõ tội ác để những phương pháp của chế độ Stalin sẽ không bao giờ được Đảng dùng lại. Nhưng không phải việc dễ, tất cả các nhân vật cao cấp trong Đảng đầu chống lại. Khrushchev biết không thể tạo được đồng thuận của Bộ Chính trị về việc nên hay không nên phơi bầy tội ác của Stalin, ông đã căn cứ vào nội quy Đảng, nói rằng Báo cáo Đại cương đã được đọc, ai trong BCT không đồng ý, có quyền phát biểu về cả những điều đã không được đề cập tới trong Báo cáo. Khrushchev muốn cho BCT hiểu, ông vẫn có thể kể tội Stalin, dù mọi người không đồng ý. Sau một hồi đưa đẩy, Khrushchev đã được chỉ định đọc diễn văn mật vào đêm cuối cùng của Đại hội, chỉ có các đại biểu Liên Xô được tham dự. Khrushchev nhớ lại:
Thế là diễn văn tại Đại hội thứ 20 của Đảng về sự lạm quyền của Stalin đã ra đời. Đáng lẽ nó phải được giữ bí mật, nhưng thực tế đã không như vậy. Chúng tôi đã dự trù một số phó bản được phổ biến cho các Đảng Cộng sản thân hữu để họ làm quen với nó. Đó là lý do vì sao Đảng Ba Lan cũng nhận được một bản. Vào thời gian diễn ra Đại hội 20, Đồng chí Bierut của Trung ương Đảng Cộng sản Ba Lan từ trần. Có nhiều xáo trộn sau cái chết này, và văn kiện rơi vào tay một số đồng chí thù nghịch với Liên Xô. Họ dùng diễn văn của tôi vào việc riêng, và sao ra nhiều bản. Tôi được cho biết là họ bán rất rẻ. Thế là diễn văn của Khrushchev nói trong phiên họp bí mật của Đại hội 20 đã bị đánh giá thấp. Điệp viên của mọi nước trên thế giới có thể mua nó trên thị trường với giá rẻ mạt.
Đó là tại sao văn kiện đã được phổ biến. Nhưng chúng tôi không xác nhận.
[5] Tôi nhớ khi có ký giả hỏi, “Ông nói thế nào về bài diễn văn đã được gán cho ông?” Tôi thường nói tôi không biết gì về điều ấy, và họ nên hỏi ông [Allen] Dulles – nghĩa là tình báo Hoa Kỳ.
Nhớ lại chuyện cũ, Khrushchev nói: “Tôi thỏa mãn về việc đã bắt đúng thời cơ khi nhấn mạnh bài diễn văn phải được đọc tại Đại hội 20”. Tuy vậy, ông cũng nói:
Có lẽ mọi sự sẽ dễ dàng hơn, nếu cứ tiếp tục đổ tội cho Beria, và để nguyên cái ảo tưởng không bị thử thách rằng Stalin là ‘Cha và Bạn của nhân dân’. Cho đến bây giờ, dù đã khá lâu sau Đại hội 20, vẫn còn những người cố bám vào cái lập luận tội lỗi của Beria, và từ chối chấp nhận sự thật về Stalin. Một số người vẫn muốn tin rằng không phải Chúa có lỗi mà chỉ vì một trong những thiên thần của ngài; một thiên thần của ngài đã báo cáo láo, và đó là lý do Chúa đã giáng mưa gió bão bùng và các tai nạn khác lên đầu loài người; dân chúng khốn đốn không phải vì Chúa muốn họ phải chịu như vậy, nhưng bởi vì một thiên thần ma quỷ Beria đã ngồi bên tay mặt của Chúa.
Khrushchev phản bác lại lập luận trên đây: “Một điều tuyệt đối sơ đẳng là: Beria đã không tạo ra Stalin, chính Stalin đã tạo ra Beria”. Chuyện tương tự trên đây cũng xảy ra tại Việt Nam. Có nhiều người vẫn cho rằng không phải Hồ Chí Minh, mà Trường Chinh phải chịu trách nhiệm về vụ giết hại dân vô tội trong cải cách ruộng đất, và Lê Duẩn với Lê Đức Thọ phải chịu trách nhiện về các vụ
Nhân văn-Giai phẩm, và Xét lại chống đảng. Nhưng trên thực tế, liệu Hồ Chí Minh ra lệnh cho Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, hay ngược lại?
Nửa thế kỷ trước, qua diễn văn mật, Khrushchev gây được tiếng vang lớn, nhưng ông đã không thực hiện được nhiều thành quả đáng kể. Chẳng những thế, lời nói và việc làm của ông đã không đi đôi với nhau. Ông tố cáo Stalin độc tài, rồi ông cũng độc tài, tuy kém tàn ác hơn. Các đồng chí thân thiết của ông cũng lần lượt bị hạ bệ, như Kaganovich, Malenkov, và Molotov. Ông tố cáo Stalin đàn áp dân chúng, nhưng rồi ông cũng đàn áp dân chúng trong vụ nổi dậy đẫm máu vào đầu tháng 6 năm 1962 ở vùng Bắc Caucasus. Hàng trăm người biểu tình bị chết; những người bị thương bị đầy đi Siberia; hàng chục người tổ chức bị ra tòa, và bị xử bắn. Ông hô hào sống chung hòa bình, nhưng không thể sống chung với người anh em cộng sản Trung Hoa. Ông gây hấn với đối phương bằng cách xây tường Bá Linh, và chở hỏa tiễn gắn đầu đạn nguyên tử tới Cuba, khiến thế giới nín thở trước vực thẳm đại chiến nguyên tử.
Ngoài ra, không phải đợi Saddam Hussein, Khrushchev đã chế tạo và tích trữ sẵn võ khí hóa học và vi trùng từ 50 năm trước. Ông nói:
Chúng tôi không thể giảm bớt phòng thủ. Không thể có chuyện chúng tôi để hỏa lực nguyên tử của chúng tôi xuống dưới mức cần thiết. Còn cả những loại võ khí khác mà cuối cùng chúng tôi cũng có thể cần tới, đó là võ khí hóa học và vi trùng. May mắn là loại võ khí này đã không được dùng vào Đệ nhị Thế chiến, nhưng nó đã được dùng vào Đệ nhất Thế chiến. Quân đội của chúng ta sẽ trong tình trạng khốn đốn nếu địch quân dùng võ khí hóa học và vi trùng chống lại chúng ta mà chúng ta không có. Khi nào hai thế đối đầu còn tồn tại, chúng ta bó buộc phải tích trữ mọi phương tiện chiến tranh. Tôi nhấn mạnh điều này bởi vì tôi muốn niềm tin của tôi vào sự quan trọng của việc cảnh giác và răn đe hữu hiệu bọn đế quốc xâm lược phải được hiểu rõ.
Nhìn lại 50 năm qua, người ta thấy cộng sản Việt Nam đã làm tất cả những gì Khrushchev chống lại: Khrushchev hạ bệ Stalin, đem xác ướp Stalin nằm cạnh Lenin trong nhà mồ chôn xuống đất, và đổi tên “thành phố anh hùng” Stalingrad thành Volgagrad. Cộng sản Việt Nam xây nhà mồ để trưng bày xác ướp Hồ Chí Minh, đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, và tặng danh hiệu ‘thành phố anh hùng”. Khrushchev chống Trung cộng, Việt Nam ôm chân Trung cộng (trừ thời gian bị Trung cộng đánh). Khrushchev thả nhiều tù chính trị, lập ủy ban điều tra tội ác và phục hồi danh dự cho những người bị oan ức dưới thời Stalin. Việt Nam bắt thêm nhiều tù chính trị và vẫn làm thinh trước những người bị oan ức. Khrushchev coi việc tố cáo Stalin trong diễn văn mật giống như giặt đồ dơ (wash our dirty linen). Việt Nam làm những điều Khrushchev tố cáo, bỏ tù những cán bộ theo chủ trương của Khrushchev, chẳng khác gì uống nước giặt đồ do Khrushchev phế thải.
Tóm lại, Khrushchev là một người thực tế, nhưng chưa thực tế đủ để nhìn rõ vấn đề sờ sờ trước mắt. Đó là, chủ nghĩa cộng sản giống như một cái áo sặc sỡ, người nghèo khó trông rất ham, nhưng không mặc vừa cho một cơ thể xã hội cần lớn mạnh. Khrushchev thấy áo bị dơ vì vấy máu, tưởng chỉ cần giặt sạch là có thể mặc lại. Nhưng vì áo có kích thước không vừa, giặt cũng vô ích. Ba mươi năm sau, Gorbachev biết áo không vừa nên không giặt, đem ra sửa lại. Nhưng vải đã mục, vì sửa nên rách bươm, đành bỏ đi. Trong khi ấy, Bắc Hàn và Cuba, không giặt cũng không sửa, cứ để vậy mặc, bị áo gò bó, năm sáu mươi tuổi vẫn không lớn được. Sau khi Mao chết, Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc cởi áo ra, vắt trên bàn thờ, rồi mọi người ở trần, hì hục đua nhau làm giàu. Còn Việt Nam, vẫn dùng nước giặt áo của Khrushchev uống cầm hơi. Có lần cũng định bắt chước Gorbachev mang áo ra sửa, nhưng sợ rách, lại thôi. Gần đây còn đem thứ nước dơ của Khrushchev đóng chai, nói là để làm thuốc, rồi dán bên ngoài nhãn hiệu “Định hướng Xã hội Chủ nghĩa”.
© 2006 talawas
[1]Tiếng Việt:
http://www.tusachnghiencuu.org/pdf_files/baocao.pdf
Tiếng Anh:
http://www.uwn.edu/course/448-343/index12.html[2]Tại Việt Nam cũng khóc lóc rất thảm thiết, rõ rệt nhất qua bài thơ của Tố Hữu “Đời đời nhớ ông”.
[3]Theo sắc lệnh của Stalin, tổng số người bị lưu đày vào khoảng từ 140 tới 160 ngàn. Nhưng theo các tài liệu khác, tổng số này lên tới 380 ngàn.
[4]Khrushchev Remembers, tr. 343. Lần đầu tiên Khrushchev đã ví chế độ Stalin dã man như chế độ phát xít của Hitler và Mussolini.
[5]Bộ Ngoại giao Mỹ phổ biến vào ngày 4-6-1956, nhưng tại Liên Xô, mãi tới năm 1989 mới chính thức phổ biến cho dân chúng.