© www.talawas.org     |     về trang chính
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Điểm nóngChính trị Việt Nam
3.3.2004
Lê Tuấn Huy
Đạo đức chính trị và giáo dục đạo đức chính trị
 
Đạo đức, như đã biết, là một trong những hình thái của ý thức xã hội, gồm những quy tắc, những chuẩn mực bất thành văn, và một hệ thống các giá trị tương ứng với chúng, có chức năng điều tiết hành vi con người trong quan hệ với người khác và cộng đồng. Đạo đức gia đình, đạo đức cá nhân, truyền thống đạo đức dân tộc, đạo đức giai cấp, đó là những vấn đề được nói đến nhiều nhất trong đạo đức và đạo đức học Marxist. Tuy nhiên, dưới xã hội hiện đại, phạm vi của đạo đức không bị cố định ở những vấn đề truyền thống, mà phát triển tới mức ngày một chuyên sâu, đan xen vào những địa hạt vốn là "ngoài đạo đức". Nay chúng ta thấy có đạo đức kinh doanh, đạo đức sinh học, nhưng trước đó vấn đề đạo đức chính trị đã được đặt ra.

Hegel, trong tác phẩm "Triết học Pháp quyền", đã trực tiếp nói đến đạo lý (morality) và đạo đức (ethics). Ông cho rằng những đạo lý, như mục đích và trách nhiệm, tính hướng đích và niềm hạnh phúc, cái thiện và lương tâm, cũng nằm trong những phạm vi khác nhau của quyền (right). Điều đó có nghĩa là chính những đạo lý này đã mang màu sắc chính trị, và chúng (mà trong tác phẩm Hegel trực tiếp lấy cái thiện làm tiêu biểu) "vẫn còn là một cái gì đó trừu tượng, vì thế những thể xác định nào đó là cần phải có, như là việc xác định một nguyên lý" [1] . Và cái cần thiết đối với ông là việc chuyển những đạo lý này vào đời sống đạo đức hiện thực, cái bao hàm không chỉ là gia đình, mà còn là xã hội công dân và nhà nước. Theo Hegel, đời sống đạo đức cũng chính là một đời sống hòa vào trong đời sống chính trị xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định, và nhiệm vụ của triết học cũng là ở việc làm sáng tỏ những quan hệ đạo đức - chính trị. Từ đây, ta có thể thấy một khi triết học đã "chạm" đến chính trị, nó không thể không chạm đến những chuẩn mực và quy tắc mang tính đạo lý. Nói khác đi, triết học thực tiễn không thể không bàn đến đạo đức chính trị.

Đạo đức chính trị là một loại đạo đức đặt thù - đạo đức trong điạ hạt chính trị, đã định hình như một vấn đề của nhận thức và thực tiễn khi nhà nước bước vào giai đoạn hiện đại của nó, giai đoạn mà quyền lực nhà nước từ bỏ sự tương tác một chiều, tuyệt đối áp đặt lên thần dân, để chấp nhận một sự tương tác nhiều chiều, kể cả trong bản thân bộ máy nhà nước lẫn trong quan hệ của nó với công dân.

Như những phạm vi đạo đức khác, đạo đức chính trị cũng hướng đến các quan hệ giao tiếp xã hội dưới nhiều cấp độ khác nhau, cũng xoay quanh các phạm trù về cái thiện - cái ác, cái tốt - cái xấu, chính nghĩa - phi nghĩa, trung tín - bội tín, v.v Nhưng khác với kiểu đạo đức xử thế trong "nội bộ" công chúng, đạo đức chính trị được đặt trong một phạm vi có sự hiện diện trực tiếp của các quan hệ quyền lực nhà nước, với hai loại chủ thể đối lập nhau. Bên này là một thực thể, cùng với những cá thể thuộc về nó, có quyền đưa ra những quyết định có tính cưỡng bức đối với khối thực thể kia và những cá thể tương ứng với nó, vốn có trách nhiệm phải tuân phục. Vấn đề đạo đức ở đây là cả hai phía thực hiện "phần việc" của mình như thế nào, theo những chuẩn mực và giá trị đạo đức, trong tương quan với những chuẩn mực và giá trị chính trị. Sự khác biệt "bản thể" như vậy tất yếu dẫn đến sự khác biệt trong cấu trúc giữa đạo đức xã hội và đạo đức chính trị.

Chưa phải đã hoàn toàn chính xác, nhưng có thể thấy đạo đức xã hội bao gồm đạo đức gia đình, đạo đức giao tiếp cộng đồng (giao tiếp riêng tư), và đạo đức giao tiếp công quyền. Ở thành tố thứ ba này, từ địa hạt của đạo đức xã hội, bắt đầu đã bước sang địa hạt của đạo đức chính trị. Nhưng trong khi ở đạo đức giao tiếp công, người ta nhấn mạnh đến nghĩa vụ đạo lý của người công dân trước nhà nước và xã hội, thì trong đạo đức chính trị, chiều ngược lại cũng nổi lên tương ứng.

Cũng chưa hẳn đã đầy đủ, nhưng theo phạm vi chủ thể đạo đức, có thể xem đạo đức chính trị có một kết cấu gồm đạo đức công dân, đạo đức quan chức, và đạo đức thiết chế. Ba bộ phận của đạo đức xã hội dù không hoàn toàn tách rời nhưng có một mức độ độc lập tương đối cao. Trong khi đó những cấu thành của đạo đức chính trị lại có một mức độ gắn kết rất lớn, không thể nói đến thành phần này mà không nói đến hai thành phần kia, cũng như khi có một "biến động" ở một thành phần nào đó, hai thành phần còn lại cũng nhanh chóng "tương thích".
Đạo đức công dân, trước tiên đó là những nguyên tắc, những giá trị của một công dân tốt: quan hệ xử thế đúng mực trong cộng đồng, yêu nước, chấp hành luật pháp, thực hiện đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ… Nhưng trong phạm vi đặc thù của đạo đức chính trị, người công dân không đơn giản sinh ra là mặc nhận những quy tắc, giá trị đạo đức của nó như trong đạo đức gia đình hay đạo đức giao tiếp, vì trong chính trị, cái mà các cá nhân phải xử thế không phải là những quan hệ tình cảm hay những quan hệ tự nguyện, mà là những quan hệ cưỡng bức. Như vậy, vấn đề là cần tạo nên bước chuyển từ quan hệ cưỡng bức của chính trị sang quan hệ tự nguyện và tình cảm của đạo đức chính trị.

Montesquieu, người đã có nhiều tư tưởng mở đường cho vấn đề đạo đức chính trị, xem đạo đức là nguyên tắc của chính thể dân chủ. Đó là đức hạnh của con người đối với quốc gia và nền dân chủ, là việc người dân chấp hành luật pháp bằng ý thức là làm cho mình, tự mình gánh lấy gánh nặng về nghĩa vụ và quyền lợi, quyền lực và trách nhiệm. Đó còn là tình yêu dành cho những đối tượng này, vì có yêu thì người ta mới đấu tranh để giành lấy và bảo vệ nền dân chủ, bảo vệ quốc gia. Đối với Montesquieu, giáo dục đạo đức chính trị bằng cả lý trí và tình cảm, từ trong gia đình đến nhà trường và ra xã hội, là biện pháp căn bản để thăng tiến đạo đức công dân.

Tuy nhiên, khi vượt quá bối cảnh chuyển biến cách mạng từ chuyên chế sang phi chuyên chế, việc thực hiện bước chuyển sang đạo đức chính trị, nếu chỉ nhấn mạnh giáo dục theo nghĩa truyền thụ tri thức và tình cảm, là chưa đủ. Trong xã hội ngày nay, nó cần đến giải pháp của cả hệ thống chính trị.Montesquieu cũng liên kết đạo đức công dân - tức đạo đức của người chịu sự cai trị, với đạo đức quan chức - tức đạo đức của người cai trị, xem đó như là hai mặt của "phẩm hạnh chính trị" của quốc gia và nền cộng hòa. Quan chức - người cai trị - người cầm quyền, về mặt lý luận chung, được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các cá nhân "có chân" trong bộ máy công quyền các cấp, không phân loại thành công chức và cán bộ theo kiểu diễn đạt hàng ngày.Machiavelli từng chủ trương một quân vương - người cai trị, sử dụng các thủ đoạn chính trị, lừa dối, phản bội, và cả giết chóc, tùy vào mục đích và kết quả dự trù của những hành động như vậy, nhưng đối với ông công chúng vẫn ở một vị trí cao. Đó là lực lượng sẽ đưa một "công dân ưu tú trở thành một quân vương" bằng thiện cảm và sự ủng hộ của họ, mà cũng có thể là lực lượng hủy hoại ông ta, nên "trên tất cả mọi thứ, người cai trị phải biết sống cùng với dân chúng của mình" [2] . Kant, người đã khẳng định sự chuyển hóa của bạo lực phi đạo đức trở thành loại cưỡng bức hợp pháp trong quan hệ nhà nước - công dân, cũng từng nói rằng người cai trị "đã tiếp nhận một chức trách rất to lớn đối với một con người, chức trách mà Thượng đế thiêng liêng đã phong ban trên trái đất này, là người được ủy thác bảo vệ các quyền của con người" [3] . Hegel thì xem giới công chức là một "đẳng cấp phổ quát" thuộc về toàn bộ khối công dân. Loại đẳng cấp đặt biệt này trong khi phụng sự nhà nước cũng đồng thời làm việc cho "lợi ích phổ quát" của xã hội [4] . Hồ Chí Minh cũng đã nói rằng "Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém", và đối với Người, "Đó là một chân lý nhất định" [5] .

Có thể xem đạo đức quan chức là sự hành xử có đạo đức của các cá nhân có chức có quyền. Về lý trí, đó là ý thức ở các quan chức rằng mình là người từ trong công chúng mà ra, là người được uỷ thác thực thi và bảo đảm các quyền của công chúng, là một loại tài sản đặt biệt của quốc gia - có nghĩa là họ được sử dụng để phục vụ cho sự thịnh vượng của quốc gia và từng thành viên của tổng thể đó, mà không phải là ngược lại, tiêu hoang trên tài sản của quốc gia hay buộc cung phụng cho mình từ các thành viên xã hội. Hành vi đạo đức của quan chức do vậy sẽ trải ra trên khắp các bình diện của kinh tế, chính trị, xã hội. Như đạo đức công dân, đạo đức quan chức cũng cần đến một thái độ tình cảm trước quốc gia, trước nền dân chủ, và trước công dân.

Khác với đạo đức xử thế, và cũng có phần khác với đạo đức công dân - những lĩnh vực ít nhiều đều có yếu tố tự nguyện cao, đạo đức quan chức không phải là hành vi "tự nguyện" ban phát hay không ban phát của các giới chức mà, bên cạnh quyền ra quyết định công quyền của họ, chính là nghĩa vụ của họ trước công dân. Có điều này là do đạo đức quan chức đã gắn liền với tính pháp lý (cũng như đạo đức công dân cũng có một phần gắn kết như vậy). Mỗi một quan chức nắm giữ một chức vụ công, mỗi chức vụ lại chính là trách nhiệm được thể chế hóa, và đến lượt trách nhiệm này lại có những tiêu chuẩn xác định nên chức vụ tương ứng. Do vậy, đạo đức quan chức, đó chính là việc thực hiện đúng, đủ, và có hiệu quả những chức trách đó. Nhưng đồng thời không có nghĩa là do pháp luật quy định các tiêu chuẩn và chức trách này, nên hành vi công quyền mặc định là hành vi đạo đức. Đạo đức là một địa hạt mà trong đó ý thức và tình cảm có tính chủ quan cao. Hành vi đạo đức lại là hành vi trực tiếp của mỗi chủ thể, và chỉ thông qua con đường này đạo đức quan chức (và cả đạo đức thiết chế) mới có thể được thể hiện hay không. Ở đây có thể nhận diện thêm một đặc trưng khác của đạo đức chính trị, thể hiện trên cả ba bộ phận cấu thành, do tính đan xen đặt thù của đạo đức và chính trị, là đó là loại đạo đức tự nguyện mà không tự nguyện, không bắt buộc mà bắt buộc.

Nhưng cũng không phải do hành vi đạo đức gắn liền với các cá nhân mà đạo đức chính trị nói chung và đạo đức quan chức nói riêng lại là một loại đạo đức cá nhân hay một loại đạo đức trên cơ sở những lời kêu gọi chung chung. Nó cũng không phải là kiểu di chuyển nguyên xi đạo đức vào trong luật pháp, biến quan hệ đạo đức thành sự cưỡng bức luật pháp, hay thay sự trừng phạt luật pháp bằng sự lên án đạo đức. Đúng ra, đó là loại đạo đức đã được nâng lên tầm mức thể chế.

Đạo đức quan chức thực chất là một bộ phận của đạo đức thiết chế, khác biệt ở đây là cái thứ nhất trực tiếp gắn với chủ thể người của nó, trong khi loại đạo đức sau có phạm vi bao trùm hơn, có sự chi phối lên cả đạo đức công dân.

Cơ bản có thể hiểu đạo đức thiết chế chính là việc toàn bộ cơ cấu tổ chức, vận hành bên trong bộ máy nhà nước, con người trong hệ thống quyền lực, cùng với những công cụ của hệ thống (luật pháp, bộ máy cưỡng chế, đường hướng chủ trương), trong quan hệ của nó với công dân, thể hiện được những nguyên tắc, những giá trị chung về mặt đạo đức, những nguyên tắc, giá trị của một xã hội dân chủ, thể hiện tính chính đáng công trong từng cấu thành cụ thể, trong từng biểu hiện cụ thể của bộ máy.

Về lý luận chung nhất, nhà nước thực chất mang tính giai cấp, là công cụ quyền lực của giai cấp, đạo đức thiết chế vì thế không thể không mang tính giai cấp. Nhưng trong triết học chính trị và triết học đạo đức - có một mức độ độc lập nhất định trước triết học xã hội - khi bàn đến đạo đức chính trị, việc tuyệt đối hóa luận điểm này sẽ khiến vấn đề quay về và dừng lại ở chính điểm xuất phát.

Xây dựng đạo đức thiết chế trước hết chính là đưa vào trong nhận thức và tình cảm của các giới thẩm quyền quan niệm rằng bộ máy nhà nước, con người trong bộ máy nhà nước là những thực thể được ủy thác chính trị phục vụ xã hội, phục vụ công dân, và cùng với điều này chính là việc tái cấu trúc, tái tổ chức bộ máy nhà nước dân chủ trên tinh thần phục vụ như vậy. Đó còn là việc tạo ra một môi trường đạo đức chính trị cho các giới thẩm quyền và công dân. Các giới chức hàng ngày "tái sản xuất" ra những hành vi đạo đức hay phi đạo đức về mặt chính trị, nhưng bản thân họ lại cũng là sản phẩm được tạo ra từ toàn bộ quan hệ tổ chức và vận hành của bộ máy. Người công dân thì càng hạn hẹp hơn (họ không có quyền "sản xuất" ra các quyết định chính trị), chịu sự chi phối hoàn toàn của cơ chế đó. Đó là môi trường thể chế mà người công dân và các giới thẩm quyền có được ý thức và tình cảm đạo đức công dân cũng như tình cảm và đạo đức quan chức, môi trường mà họ có thể được trở thành và chủ động trở thành một công dân hay một quan chức có đạo đức chính trị.

Ở đây có một vấn đề hết sức quan trọng, mà cũng thường hết sức bị xem nhẹ, đó là vai trò, chức năng giáo dục đạo đức của thiết chế, lên cả người nắm chức vụ công lẫn công dân. Chính trong một môi trường thiết chế như thế nào mà con người trong bộ máy đó nhận thức về bộ máy, nhận thức về vị trí của mình trong bộ máy, về một "kiểu đạo đức" như thế nào thì phù hợp với nó. Tình cảm và hành động theo kiểu đạo đức tương ứng ở các quan chức từ đây mà hình thành. Người nắm chức vụ công vì thế được giáo dục và tự giáo dục mình trong một thể chế. Đó là điều tất yếu, vấn đề còn lại là xu hướng phổ quát nào trở thành hiện thực trong sự giáo dục đó. Về phía công dân, họ nhìn vào tri thức, khả năng nghiệp vụ, tác phong công việc, thái độ hành xử… của các quan chức, không phải với tư cách cá nhân mà chính với tư cách của cả một thể chế. Từng đường hướng chính sách cụ thể, tác động đến từng thành viên của cộng đồng dân chúng cũng được đánh giá tương tự như vậy. Nhận thức và tình cảm của công dân từ đây mà hình thành. Nó chuyển hóa thành lòng tin, và đi vào hành động công dân, khiến họ điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với kiểu đạo đức của thiết chế. Còn lòng tin vào thể chế, người ta còn đấu tranh đòi hỏi và bảo vệ đạo đức thiết chế, bảo vệ thể chế. Nếu tấm chắn cuối cùng này cũng bị phá vỡ, một khi sự "hợp lý" công mất đi tính chính đáng của nó, người ta chỉ còn biết tuân phục như một kiểu cưỡng bức trước "đạo đức" hiện hành của thiết chế. Khi đó đạo đức công dân, đạo đức công vụ, đạo đức thiết chế không còn là quan hệ đạo đức nữa, mà chỉ là một biến tướng của quan hệ cưỡng bức mà thôi.

Montesquieu từng cho rằng chính giới cầm quyền và thể chế quốc gia đã suy đồi là nguyên nhân làm suy đồi đạo đức công dân. Ông cho rằng khi người ta héo mòn, vô cảm, chai sạn trước cái xấu, sinh ra trong đói nghèo, bạo lực, trong định kiến của nền cai trị và đặc quyền quá đáng của giới tăng lữ, thì tai họa không thể chữa nổi [6] . Ông còn viết: "Một khi đạo đức của nền dân chủ đã mất, tính tham lam lọt vào các trái tim, cái hư hỏng lồng vào mọi ngóc ngách của xã hội. Các ước vọng bị đổi mục tiêu: cái người ta vốn yêu thì người ta không yêu nữa. Người ta vẫn thấy mình tự do nhưng tự do làm trái. Điều trước đây được coi là kỷ cương thì nay người ta coi là hà khắc. Cái trước đây được coi là luật thì nay được coi là phiền nhiễu. Điều đáng lưu ý làm người ta đáng sợ. Cuộc sống thanh đạm bị coi là thói hà tiện. Trước kia tài sản của mỗi công dân được coi như một phần của sự giàu có của quốc gia, thì nay kho tàng chung bị coi như sở hữu tư nhân. Nước cộng hòa chỉ là cái túi cho người ta bòn rút, sức mạnh quốc gia chỉ còn là quyền lực của một vài công dân, là nơi phá rối của mọi người" [7] .

Xem xét một cách cơ bản các vấn đề của đạo đức chính trị cho phép ta xác định rõ yêu cầu, nội dung và phương thức giáo dục đạo đức chính trị hiện nay ở nước ta. Trong một thời gian dài chúng ta có phần nhấn mạnh nền chính trị giai cấp, coi nhẹ việc xây dựng một nền chính trị phục vụ, một nền chính trị đạo đức. Trong khi lẽ ra phải quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước phục vụ nhân dân: "Chính phủ là công bộc của dân. ... Những công việc của Chính phủ phải làm nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, hạnh phúc cho mọi người" [8] thì một bộ phận công chức trong bộ máy công quyền lại tỏ ra quan liêu, có thái độ ban phát, tác phong hách dịch, công thần trước những đối tượng mà mình có nghĩa vụ phục vụ. Để giới trẻ sống có lý tưởng, quan tâm đến tình hình chính trị đất nước, "người lớn" cần tạo dựng cho được một môi trường đạo đức chính trị cho phép những con người trẻ can dự một cách có hiệu quả vào môi trường đó - ở đây là theo nghĩa phổ quát, không theo nghĩa điển hình. Những tiêu cực, thoái hóa của một số giới thẩm quyền và việc di chuyển những dị tật này vào phạm vi giáo dục, y tế, đều bị lên án gay gắt, nhưng vấn đề tạo dựng một môi trường thuận lợi cho phép họ có thể giữ gìn đạo đức công vụ lại chưa được quan tâm một cách đúng mức. Hiện trạng một bộ phận các quan chức công khai lãng phí, phô trương tài sản đáng ngờ về nguồn gốc, rồi hiện tượng từ cơ quan công quyền cho đến công chúng gần như phải chấp nhận "sống chung" với tiêu cực, tham nhũng, hiện trạng "văn hóa phong bì" lấn áp văn hóa trách nhiệm, rồi cả hiện tượng liên kết giữa những kẻ có thế lực công quyền với những thế lực tội phạm, v.v., cho thấy đã đến lúc cần báo động khẩn về đạo đức thiết chế, đạo đức quan chức, và đạo đức công dân.

Giáo dục đạo đức chính trị vì thế đang trở nên hết sức cấp bách. Nhưng sự giáo dục này cho dù được triển khai có hiệu quả bằng hình thức giáo dục lý luận, thì nó không thể nào thay thế được cho sự giáo dục thực tiễn của đạo đức thiết chế. Chính loại đạo đức này mới là cái quyết định trực tiếp lên thực trạng đạo đức chính trị, là cái sẽ làm tăng hiệu quả của giáo dục lý luận, hay ngược lại, triệt tiêu nó. Đây lại là một công việc hết sức lớn lao trong tổng thể của cải cách chính trị đang được Đảng ta thúc đẩy từ sau Đại hội IX, đòi hỏi một giải pháp toàn diện và đồng bộ từ cải cách thể chế, cải cách kinh tế-xã hội, cho đến việc "cải cách" cả tâm lý xã hội; mà trong đó, như Văn kiện Đại hội đã chỉ rõ, cần: "Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi trong cả năng lực và đạo đức ... Thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức về chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng" [9] .


[1]Georg Wilhelm Friedrich Hegel: Elements of the Philosophy of Right, translated by H. B. Nisbet, Cambridge University Press, 1991, Reprinted 1998, p. 185.
[2]Niccolo Machiavelli; The Prince, edited by Q. Skinner & R. Price, Cambridge University Press, 1988, Reprinted 2001, p. 34.
[3]Immanuel Kant: Political Writings, edited by H. S. Reiss, translated by H. B. Nisbet, Cambridge University Press, 1991, Reprinted 2000, p. 101.
[4]Xem: Hegel, Sđd, tr. 237, 270.
[5]Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 5, Nxb CTQG, H., 2000, tr. 240.
[6]Xem: Chales de Secondat baron de Montesquieu: Tinh thần Pháp luật, Hoàng Thanh Đạm dịch, Nxb Giáo dục và Trường ĐH KHXH&NV (Khoa Luật), H., 1996, các quyển 3, 5, 8, 23.
[7]Montesquieu: Sđd, tr. 55.
[8]Hồ Chí Minh: Sđd, t. 4, tr. 22.
[9]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H., 2001, tr. 135, 137.

Nguồn: Tạp chí Lý luận chính trị, số 10/02