trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 257 bài
  1 - 20 / 257 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tư tưởngTriết học
9.1.2007
Friedrich A. Hayek
Trí thức và chủ nghĩa xã hội 
Đặng Đức Minh dịch
 
Lại phiền tới ông Hai-ếch!

Tôi cho rằng cách góp ý tốt nhất cho một bản dịch nói chung và bản dịch của anh Nguyễn Quang A và của anh Đinh Tuấn Minh nói riêng là đưa ra phiên bản của mình để dịch giả cũng như tất cả những ai quan tâm đều có thể đối chiếu, so sánh, và phán xét. Do vậy, tôi lại phải phiền tới ông Hai-ếch một lần nữa! Vì có được đọc và tham khảo hai bản dịch trên, tôi hy vọng bản dịch của tôi sẽ kế thừa được mọi tinh hoa và phần nào làm rõ thêm được một vài điểm của người đi trước mà tôi thiết nghĩ là còn có thể rõ hơn. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp phê bình của tất cả những ai quan tâm tới tiểu luận này.

Quả là có đọc rồi đặt 'bút' xuống thì mới thấu hiểu được các dịch giả đã phải âm thầm vật lộn với Ý-NGHĨA thế nào. Xin được bắt chước cố thi sĩ Xuân Quỳnh mà than rằng:

Chỉ khi đọc mới hiểu
Khó, khó biết nhường nào!
Chỉ có dịch mới biết
Bí, bí, bí làm sao!

Đặng Đức Minh
Ở tất cả các quốc gia dân chủ nhất là ở Mỹ có một niềm tin phổ biến và mạnh mẽ rằng ảnh hưởng của giới trí thức đối với chính trị là không đáng kể. Quả thật, điều này là đúng nếu nói đến khả năng những ý kiến khác lạ và được công chúng ủng hộ của giới trí thức có thể tác động đến các quyết định, và cũng đúng nếu nói về mức độ họ có thể xoay chuyển lá phiếu của cử tri đối với các vấn đề mà họ có quan điểm khác với quan điểm hiện thời của công chúng. Ấy thế mà đã từng có những khoảng thời gian dài, giới trí thức đã không thể hiện được ảnh hưởng to lớn mà ngày nay họ có được ở các quốc gia trên. Họ có được quyền lực này thông qua việc định hình dư luận xã hội.

Dưới ánh sáng của lịch sử gần đây, có một điều khá khó hiểu là tại sao cái quyền lực có tính chất quyết định đó của những người trung chuyển tư tưởng chuyên nghiệp [1] vẫn còn chưa được thừa nhận rộng rãi hơn. Diễn tiến chính trị ở phương Tây trong một trăm năm vừa qua là minh chứng rõ ràng nhất cho điều này. Chưa bao giờ và cũng chưa ở đâu chủ nghĩa xã hội (CNXH) lại khởi đầu với tư cách là một phong trào của tầng lớp lao động. CNXH cũng không hề là một phương thuốc hiển nhiên cho cái căn bệnh nguy hại hiển nhiên mà những lợi ích của tầng lớp đó đòi hỏi một cách khẩn thiết. Nó là một công trình do các lý thuyết gia kiến tạo nên, được đúc rút từ một số khuynh hướng nhất định về tư duy trừu tượng mà phải mất một thời gian dài những người trí thức mới hiểu rõ được. Và giới trí thức cũng đã phải cố gắng rất nhiều mới thuyết phục được các tầng lớp lao động chấp nhận CNXH làm cương lĩnh của mình.

Ở mọi nước đã ngả theo CNXH, trước khi CNXH phát triển trở thành ảnh hưởng có tính chất quyết định đối với nền chính trị đều có một giai đoạn kéo dài nhiều năm trong đó các lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN) chi phối tư duy của những trí thức năng động hơn. Đức đã đạt đến giai đoạn này vào gần cuối thế kỷ trước, còn Anh và Pháp thì vào khoảng thời gian Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Nếu chỉ nhìn sơ qua, có vẻ nước Mỹ đã đạt đến giai đoạn này sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, và dường như hiện nay, sức hấp dẫn của một hệ thống kinh tế kế hoạch hoá và chỉ huy đối với giới trí thức Mỹ cũng mạnh mẽ như đối với giới trí thức Anh hay Đức trước đây. Kinh nghiệm cho thấy, một khi đã đạt đến giai đoạn này thì việc những quan điểm của giới trí thức ngày nay sẽ trở thành lực lượng chi phối nền chính trị chỉ còn là vấn đề thời gian.

Đặc điểm của quá trình những quan điểm của giới trí thức ảnh hưởng tới nền chính trị tương lai do vậy mà có được sự quan tâm vượt ra khỏi tầm học thuật. Cho dù chúng ta chỉ muốn thấy trước được tiến trình xảy ra những sự kiện hay chúng ta muốn tác động đến tiến trình đó thì đặc điểm trên vẫn là một nhân tố có tầm quan trọng hơn nhiều so với thường được hiểu. Cái mà đối với nhà quan sát đương thời có vẻ như là một cuộc chiến giữa những nhóm có lợi ích đối kháng nhau thì trên thực tế đã được định đoạt từ lâu tại các cuộc xung đột tư tưởng diễn ra trong nội bộ các nhóm hẹp. Tuy vậy, có một điều khá ngược đời là nói chung chỉ có những đảng phái cánh tả là đã làm được nhiều nhất để truyền bá niềm tin rằng chính sự áp đảo về mặt số lượng của những nhóm có lợi ích vật chất đối kháng nhau đã quyết định các vấn đề chính trị, trong khi đó trên thực tế, chính những đảng phái này đã thường xuyên hành động và đã thành công cứ như thể họ đã hiểu rõ được vai trò then chốt của giới trí thức. Dù là có chủ ý hay do hoàn cảnh đưa đẩy thì những đảng phái này cũng đã luôn cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của “giới tinh hoa” này. Trong khi đó, dựa trên một quan điểm ấu trĩ hơn về một nền dân chủ đại chúng, những đảng phái có khuynh hướng bảo thủ hơn cũng đã hành động thường xuyên nhưng lại không thành công và họ thường cố gắng một cách tuyệt vọng nhằm tiếp cận trực tiếp đến từng cử tri để thuyết phục họ.

Tuy nhiên, thuật ngữ “trí thức” không thể chuyển tải ngay được một bức tranh trung thực về tầng lớp rộng lớn mà chúng ta đang nói tới, và việc chúng ta không có cái tên nào khá hơn để miêu tả những người mà chúng ta gọi là “những người trung chuyển tư tưởng” hoàn toàn không phải là lý do tại sao quyền lực của họ lại không được hiểu đúng. Ngay cả những người lạm dụng từ “trí thức” cũng thường có khuynh hướng tránh dùng nó với những người rõ ràng là thực hiện cái chức năng [trung chuyển tư tưởng - N.D] đặc trưng này. Đây không phải là chức năng của nhà tư tưởng mà cũng chẳng phải là chức năng của học giả hay chuyên gia thuộc một lĩnh vực tư duy cụ thể nào. Để thực hiện được chức năng trung chuyển tư tưởng, người trí thức điển hình không nhất thiết phải thuộc hai loại đó: anh ta không cần phải có kiến thức chuyên sâu về bất cứ lĩnh vực cụ thể gì, mà cũng chẳng cần phải là người thông minh xuất chúng. Cái giúp anh ta làm tốt chức năng đó chính là việc anh ta luôn có thể viết hay nói về rất nhiều chủ đề khác nhau, là địa vị hay những thói quen mà nhờ đó anh ta được tiếp cận với những tư tưởng mới mẻ sớm hơn những thính giả của bản thân anh ta sau này.

Chừng nào chưa liệt kê được tất cả các ngành nghề và hoạt động của tầng lớp này thì thật khó có thể hình dung được họ đông đến mức nào, quy mô hoạt động của họ trong xã hội hiện đại liên tục gia tăng ra sao, và tất cả chúng ta đã trở nên lệ thuộc vào họ đến mức nào. Tầng lớp này không chỉ gồm có những nhà báo, giáo viên, mục sư, giảng viên, quảng bá viên, bình luận viên trên đài phát thanh, nhà văn, những cây biếm hoạ, và những nghệ sỹ. Xét về kỹ thuật truyền bá tư tưởng, có thể tất cả họ đều là những bậc thầy, nhưng nếu xét về nội dung những gì họ truyền bá, họ lại thường chỉ là những “cậu học trò”. Tầng lớp này còn gồm cả nhiều nhà chuyên môn và các kỹ thuật gia, tỉ như các nhà khoa học hay các bác sỹ. Việc thường xuyên được tiếp xúc với những ấn phẩm đã làm những người này trở thành những người chuyên chở các tư tưởng mới mẻ không thuộc địa hạt chuyên môn của họ, và vì họ có tri thức chuyên sâu về lĩnh vực của mình nên họ là những người được người khác kính trọng lắng nghe mỗi khi họ nói về hầu hết mọi chủ đề khác. Người bình thường biết được các sự kiện hay các tư tưởng chủ yếu là nhờ sự truyền bá của tầng lớp này, và ra khỏi lĩnh vực chuyên môn của mình thì tất cả chúng ta hầu như đều là những người bình thường xét theo khía cạnh này. Để có được thông tin và tri thức, chúng ta đều phải lệ thuộc vào những người này - những người coi công việc của mình là bám sát dư luận. Chính những người trí thức theo nghĩa này là những người quyết định quan điểm nào hay ý kiến nào sẽ đến được với chúng ta, những thực tế nào là quan trọng đến mức chúng ta cần phải biết, chúng sẽ được trình bày dưới hình thức nào và từ góc độ nào.

Người bình thường có lẽ không ý thức được đầy đủ về mức độ đóng góp của tầng lớp trí thức vào việc tạo dựng danh tiếng của các nhà khoa học và các học giả. Họ có lẽ cũng không thấy được rẳng danh tiếng của các nhà khoa học không thể không chịu ảnh hưởng của những quan điểm của tầng lớp này về những vấn đề chả mấy liên quan đến giá trị của những thành tựu đích thực. Và điều có ý nghĩa đặc biệt đối với vấn đề của chúng ta là có lẽ học giả nào cũng đưa ra được một vài trường hợp trong lĩnh vực của mình về những người đã giành được danh tiếng là những nhà khoa học lớn một cách không xứng đáng chỉ vì họ nắm giữ cái mà giới trí thức xem như những quan điểm chính trị “tiến bộ”. Nhưng tôi vẫn chưa hề gặp trường hợp nào mà cái hư danh khoa học ấy lại vì lý do chính trị mà được ban cho một học giả có khuynh hướng bảo thủ hơn. Việc các trí thức tạo dựng danh tiếng là đặc biệt quan trọng trong những lĩnh vực mà kết quả của các nghiên cứu chuyên sâu không được các nhà chuyên môn khác sử dụng mà chúng lại lê thuộc vào quyết định chính trị của toàn thể công chúng. Khó có ví dụ nào minh hoạ cho điều này tốt hơn là thái độ của các chuyên gia kinh tế đối với sự phát triển của những học thuyết như CNXH hay chủ nghĩa bảo hộ. Có lẽ đa số các nhà kinh tế được các đồng nghiệp thừa nhận chưa bao giờ đi ủng hộ CNXH (hay chủ nghĩa bảo hộ). Thậm chí rất có thể cũng đúng khi nói rằng không có nhóm nghiên cứu tương tự nào lại có số thành viên nhất quyết chống CNXH (hay chủ nghĩa bảo hộ) với tỉ lệ cao như vậy. Đây là điều còn có ý nghĩa nhiều hơn vì rất có thể cách đây không lâu, điều đã thúc đẩy một người theo đuổi lĩnh vực kinh tế học chính là sự quan tâm ban đầu của anh ta đối với những đề án cải cách theo hướng XHCN. Tuy vậy, những quan điểm được giới trí thức chấp nhận và truyền bá lại không phải quan điểm thịnh hành của các chuyên gia mà là quan điểm của một nhóm thiểu số mà phần lớn trong số họ lại có địa vị khá đáng ngờ trong lĩnh vực chuyên môn của mình.

Ảnh hưởng bao trùm của giới trí thức trong xã hội đương thời vẫn tiếp tục được củng cố do yếu tố “tổ chức” ngày càng trở nên quan trọng. Có một niềm tin phổ biến nhưng có lẽ là sai lầm là sự gia tăng của tổ chức sẽ làm tăng ảnh hưởng của chuyên gia hay nhà chuyên môn. Điều này có thể đúng đối với một chuyên gia về hành chính và tổ chức, nếu thực sự có những người như vậy, nhưng khó có thể đúng đối với một chuyên gia thuộc bất kỳ lĩnh vực tri thức cụ thể nào. Thật ra người có ảnh hưởng gia tăng là người có vốn hiểu biết chung đủ giúp anh ta hiểu đúng được nhận định của chuyên gia, và đánh giá được các chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, điểm quan trọng với chúng ta là một khi một học giả đã trở thành hiệu trưởng một trường đại học, một nhà khoa học đã phụ trách một viện nghiên cứu hay một quỹ nào đó, một học giả đã trở thành một biên tập viên hay một thành viên của một tổ chức tích cực cổ suý cho một sự nghiệp nào đó, tất cả họ đều nhanh chóng không còn là học giả, hay chuyên gia nữa. Dưới ánh sáng của một số tư tưởng khái quát thời thượng nhất định, họ đã trở thành những trí thức. Số lượng những lò sản sinh và làm tăng số lượng trí thức cũng như quyền lực của họ như vậy đang tăng lên từng ngày. Nếu xét về mặt nội dung cái họ chuyển tải thì hầu hết các “chuyên gia” trong kỹ thuật chuyển tải tri thức thuần tuý đều là các trí thức chứ không phải là các chuyên gia.

Xét theo nghĩa mà chúng ta đang dùng, giới trí thức trên thực tế là một hiện tượng lịch sử khá mới mẻ. Mặc dù sẽ chẳng ai tiếc rằng giáo dục đã không còn là một đặc quyền của các tầng lớp hữu sản thì việc những người ở tầng lớp này không còn là những người được giáo dục tốt nhất nữa và việc rất nhiều người có được địa vị chỉ nhờ giáo dục phổ thông mà thôi song lại không có được kinh nghiệm về sự vận hành của hệ thống kinh tế do việc quản lý tài sản đem lại vẫn là hai thực tế quan trọng để hiểu được vai trò của giới trí thức. Giáo sư Schumpeter, người đã dành một chương trong cuốn Chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa xã hội, và Dân chủ (Capitalism, Socialism, and Democracy) để làm sáng tỏ một số khía cạnh trong vấn đề của chúng ta, không phải là không công bằng khi nhấn mạnh rằng chính sự thiếu vắng trách nhiệm trực tiếp đối với các vấn đề thực tiễn và do vậy kéo theo sự thiếu vắng những hiểu biết trực tiếp về chúng đã phân biệt người trí thức điển hình với những người cũng biết dùng sức mạnh của lời nói và chữ viết. Tuy nhiên, sẽ là đi quá xa nếu ở đây chúng ta lại xem xét thêm về sự phát triển của tầng lớp này và về một nhận định khó hiểu mà một lý thuyết gia của họ đưa ra gần đây, rằng trí thức là tầng lớp duy nhất có quan điểm rõ ràng không bị các lợi ích kinh tế chi phối. Một trong những điểm quan trọng cần được xem xét trong một cuộc thảo luận như vậy là sự phát triển của tầng lớp này đã được luật bản quyền thổi phồng lên đến mức độ nào.

Chẳng có gì là đáng ngạc nhiên khi một học giả hay một chuyên gia đích thực và một người làm công tác thực tiễn lại thường tỏ thái độ coi khinh người trí thức, không chịu thừa nhận sức mạnh của họ và phẫn nộ khi phát hiện ra điều đó. Xét từng cá nhân, họ thấy trí thức chủ yếu là những người không hiểu được cái gì cụ thể, nhất là hiểu thấu đáo, và nhận định của các trí thức về những vấn đề bản thân các chuyên gia, học giả rất tường tận chẳng phải là biểu hiện gì đáng kể cho thấy sự uyên thâm xuất chúng. Thế nhưng sẽ là một sai lầm tai hại nếu vì lý do này mà lại đánh giá thấp sức mạnh của giới trí thức. Cho dù hiểu biết của họ có thể thường hời hợt và trí thông minh của họ là có hạn thì điều đó cũng không làm thay đổi một thực tế là: chính nhận định của họ là cái chủ yếu quyết định những quan điểm mà xã hội sẽ dựa vào đó để vận hành trong một tương lai không quá xa. Sẽ là không ngoa khi nói rằng một khi bộ phận trí thức năng động hơn đã ngả theo một số niềm tin thì quá trình những niềm tin đó được quần chúng chấp nhận sẽ là quá trình gần như tự động và không thể cưỡng lại được. Những người trí thức này là những bộ máy mà xã hội hiện đại đã sản sinh ra để truyền bá tri thức và tư tưởng. Chính những niềm tin sắt đá và những quan điểm của họ đã đóng vai trò như một bộ lọc mà tất cả những ý niệm mới mẻ phải chui qua trước khi đến được với quần chúng.

Bản chất công việc của người trí thức là anh ta phải sử dụng kiến thức và niềm tin của mình để thực hiện công việc hàng ngày. Anh ta chiếm giữ được vị trí đó là do anh ta sở hữu hay do hàng ngày phải làm việc với những tri thức mà ông chủ của anh ta thường không có và do vậy, người khác chỉ có thể chỉ đạo hoạt động của anh ta ở mức độ hạn chế. Và cũng vì trí thức phần lớn thường trung thực về mặt trí tuệ, nhất định họ sẽ hành động theo niềm tin của mình mỗi khi có thể, và nhất định họ cũng sẽ đưa ra ý kiến riêng về tất cả những vấn đề qua tay họ. Kể cả khi việc định hướng chính sách nằm trong tay những nhà hoạt động thực tiễn có quan điểm khác với họ thì nói chung việc thực hiện chính sách vẫn nằm trong tay giới trí thức, và thường thì chính quyết định về chi tiết mới là cái xác định kết quả cuối cùng. Có thể thấy điều này được minh họa trong hầu hết mọi lĩnh vực của xã hội đương thời. Những tờ báo thuộc quyền sở hữu của “các nhà tư bản”, những trường đại học do các cơ quan quản lý “phản động” điều hành, những hệ thống phát thanh truyền hình thuộc sở hữu của các chính quyền bảo thủ - tất cả đều có tiếng là đã lái dư luận xã hội theo hướng CHXH, vì CNXH chính là niềm tin vững chắc của đội ngũ nhân viên. Bất chấp những nỗ lực của những người chóp bu hòng kiểm soát dư luận và áp đặt những nguyên tắc chính thống, điều này vẫn cứ xảy ra. Thậm chí cũng có thể nói rằng chính những nỗ lực kiểm soát và áp đặt đó đã gây ra hiện tượng này.

Ảnh hưởng của hoạt động sàng lọc tư tưởng thông qua niềm tin vững chắc của một tầng lớp mà do bản chất thường ngả theo những quan điểm nhất định không phải chỉ giới hạn trong quần chúng. Ra khỏi lĩnh vực chuyên môn của mình, ngay cả một chuyên gia nói chung cũng chẳng bớt đi sự lệ thuộc vào tầng lớp này và cũng hiếm khi giảm được tác động từ những lựa chọn của họ. Hệ quả của điều này là ngày nay ở đa phần thế giới phương Tây, ngay cả những người chống CNXH quyết liệt nhất cũng dựa vào các nguồn thông tin có thiên hướng XHCN để có được hiểu biết về phần lớn những vấn đề mà họ không có thông tin trực tiếp. Với nhiều người khác, vì họ chỉ hiểu lơ mơ về tư duy XHCN nên họ không thấy ngay được hệ tư duy đó có mối liên hệ thế nào với những đề xuất mang tính thực tiễn hơn mà họ đề ra. Kết quả là trên thực tế họ đã trở thành những người đắc lực truyền bá cho tư tưởng XHCN. Ai mà lại chả biết những con người thực tiễn khi còn trong địa hạt chuyên môn của mình thì họ lên án CNXH như một thứ “tha hoá độc hại”; nhưng khi đã bước ra khỏi địa hạt đó, họ lại thao thao nói về CNXH như bất cứ nhà báo cánh tả nào. Không có lĩnh vực nào mà ảnh hưởng áp đảo của giới trí thức trong một trăm năm qua lại rõ nét như trong các cuộc tiếp xúc giữa các nền văn minh quốc gia khác nhau. Trong khuôn khổ của bài viết này, không thể truy tìm những nguyên nhân và ý nghĩa của thực tế có tầm quan trọng to lớn rằng, trong thế giới hiện đại, những người trí thức có lẽ là cây cầu nối duy nhất với một cộng đồng quốc tế. Chính điều này đã phần nhiều lý giải cái hiện tượng không bình thường kéo dài suốt nhiều thế hệ khi cái thế giới phương Tây vốn được coi là “tư bản chủ nghĩa” lại liên tục dành sự ủng hộ về mặt luân lý và vật chất hầu như chỉ riêng cho những trào lưu tư tưởng ở những quốc gia phương Đông xa xôi vốn luôn tìm cách hạ thấp nền văn minh phương Tây. Đồng thời, điều đó cũng lý giải tại sao những thông tin về các sự kiện diễn ra ở Trung và Đông Âu mà công chúng phương Tây nhận được lại hầu như không thể không nhuốm màu một định kiến XHCN. Rất nhiều hoạt động “giáo dục” của các lực lượng Mỹ đóng ở Đức là những ví dụ rõ nhất và mới mẻ nhất về xu hướng này.

Vì vậy, việc hiểu đúng được những lý do khiến nhiều trí thức ngả theo CNXH như thế là rất quan trọng. Ở đây, điểm đầu tiên những người không có chung định kiến này phải thẳng thắn đối mặt là: không phải những lợi ích vị kỷ, cũng chẳng phải những ý đồ xấu xa, mà chính những niềm tin chân thực cộng với những ý định tốt đẹp mới là những cái quyết định quan điểm của giới trí thức. Trên thực tế, cần phải thừa nhận rằng, xét về tổng thể thì càng được thiện ý và trí tuệ dẫn dắt bao nhiêu, càng có nhiều khả năng người trí thức điển hình ngày nay là người XHCN bấy nhiêu, rằng cứ theo mạch lập luận thuần túy trí tuệ thì nói chung anh ta sẽ có khả năng chứng tỏ mình nổi trội hơn đa số đối thủ thuộc cùng tầng lớp. Nếu chúng ta vẫn cho là anh ta sai thì chúng ta phải thừa nhận rằng có lẽ chính cái sai lầm đích thực đã đưa đường dẫn lối những người có thiện ý và trí tuệ vốn nắm giữ những vị trí then chốt trong xã hội đến chỗ đi truyền bá những quan điểm dường như lại là mối đe dọa đối với nền văn minh của chúng ta [2] . Quan trọng hơn cả là chúng ta phải gắng hiểu cho được những cội nguồn của sai lầm này thì chúng ta mới có thể khắc phục được nó. Ấy vậy mà những người vốn được coi là những đại diện cho trật tự hiện hành và những người tin rằng họ hiểu được những mối nguy hiểm của CNXH lại thường là những người còn lâu mới hiểu được điều đó. Họ có xu hướng coi những trí thức XHCN không hơn một mớ những kẻ cấp tiến rởm đời và độc hại, chứ đâu đánh giá được đúng tầm ảnh hưởng của họ. Và qua toàn bộ thái độ của họ với giới trí thức, họ càng ngày càng đẩy giới trí thức về phía đối lập với trật tự hiện hành.

Để hiểu được cái định kiến kỳ quặc này của một bộ phận lớn trong giới trí thức, chúng ta phải rõ hai điểm sau. Thứ nhất, nói chung những trí thức này chỉ biết phán xét tất cả các vấn đề cụ thể dưới ánh sáng của một số tư tưởng khái quát nhất định. Thứ hai, những sai lầm đặc trưng của bất kỳ thời đại nào nhiều khi lại có cội nguồn từ một số chân lý đích thực mà thời đại đó mới khám phá ra, và chúng là những ứng dụng sai lầm của những tổng kết vốn đã chứng tỏ giá trị của mình ở những lĩnh vực khác. Xem xét đầy đủ những thực tế này sẽ đưa chúng ta đến kết luận rằng: để bác bỏ được những sai lầm đó, thường đòi hỏi phải có sự đột phá về tri thức, và thường là đột phá ở những điểm rất trừu tượng và có vẻ xa rời các vấn đề thực tiễn.

Có lẽ đặc điểm tiêu biểu nhất của người trí thức chính là việc anh ta đánh giá những tư tưởng mới không phải theo những giá trị cụ thể của chúng mà là theo mức độ những tư tưởng đó có thể nhanh chóng ăn nhập vào những quan điểm chung của anh, vào hình dung của anh ta về cái thế giới mà anh ta coi là tiên tiến hay hiện đại. Thông qua ảnh hưởng của chúng đối với anh ta và đối với việc anh ta chọn lựa những ý kiến khác nhau về các vấn đề nhất định, sức mạnh của những tư tưởng thiện ác tăng lên tỉ lệ với mức độ khái quát, trừu tượng, thậm chí là mơ hồ của chúng. Do anh ta chẳng hiểu biết mấy về những vấn đề cụ thể, tiêu chí đánh giá của anh ta phải nhất quán với những quan điểm khác của anh ta và phải thích hợp để có thể kết thành một bức tranh mạch lạc về thế giới. Thế mà sự chọn lựa từ vô vàn những tư tưởng vốn liên tục nảy sinh tại mọi thời điểm lại tạo ra được một trào lưu dư luận đặc trưng, một Weltanschauung (thế giới quan) thống trị của một thời kỳ, thuận lợi cho việc tiếp nhận một số ý kiến này và bất lợi đối với những ý kiến khác. Trào lưu đó cũng sẽ làm cho người tri thức sẵn sàng chấp nhận một kết luận này hay bác bỏ một kết luận khác mà không cần phải có sự hiểu biết thực sự về các vấn đề.

Xét ở một số khía cạnh thì người trí thức quả là gần với triết gia hơn là với bất kỳ nhà chuyên môn nào khác, và ngồi giữa đám trí thức thì triết gia đâu chỉ trông tựa như một ông hoàng. Tuy ảnh hưởng của triết gia xa rời các vấn đề thực tiễn hơn và vì thế, nó từ từ và khó lần ra dấu vết hơn so với ảnh hưởng của người trí thức bình thường, cả hai đều cùng một loại và nếu xét về lâu dài thì ảnh hưởng của triết gia thậm chí còn to lớn hơn nhiều so với ảnh hưởng của trí thức. Cả triết gia và trí thức đều cố gắng hướng tới sự tổng hợp; với triết gia thì có phương pháp hơn, đều phán xét những quan điểm khác nhau theo khả năng chúng ăn nhập được vào một hệ tư duy chung hơn là theo những giá trị cụ thể của chúng, đều nỗ lực để có được một thế giới quan nhất quán tạo cơ sở chính cho việc chấp nhận hay bác bỏ các tư tưởng. Vì lý do này, người trí thức có lẽ chịu ảnh hưởng của triết gia nhiều hơn là của bất kỳ học giả hay nhà khoa học nào khác, và hơn ai hết, chính triết gia là người quyết định cách thức người trí thức thực hiện chức năng sàng lọc của mình. Xét về tầm ảnh hưởng thì chuyên gia khoa học chỉ bắt đầu trở thành đối thủ của triết gia khi anh ta không còn là chuyên gia nữa và bắt đầu “triết ní” về những tiến bộ trong lĩnh vực của mình, và thường chỉ sau khi anh ta đã được giới trí thức thu nạp vì những lý do chẳng mấy liên quan đến sự xuất sắc khoa học của anh ta.

“Trào lưu dư luận” của bất kỳ giai đoạn nào, vì vậy, về cơ bản đều là một tập hợp những định kiến chung mà các trí thức dựa vào để đánh giá tầm quan trọng của những thực tế hay ý kiến mới mẻ. Những định kiến này chủ yếu là những ứng dụng vào những thứ mà đối với anh ta có vẻ là những khía cạnh quan trọng nhất của các thành tựu khoa học - một sự thuyên chuyển những gì thuộc hoạt động của các chuyên gia từng tạo cho anh ta những ấn tượng đặc biệt sang những lĩnh vực khác. Có thể liệt kê ra một danh sách dài những trào lưu trí tuệ và những từ ngữ mỹ miều đắt giá đã lần lượt thống trị tư duy của trí thức suốt hai ba thế hệ. Dù đó là “phương pháp lịch sử” hay thuyết tiến hoá, quyết định luận của thế kỷ 19 và niềm tin vào ảnh hưởng áp đảo của môi trường so với của di truyền, thuyết tương đối hay niềm tin vào sức mạnh của vô thức - tất cả đều đã lần lượt biến thành viên đá thử được dùng để kiểm nghiệm những phát kiến trong các lĩnh vực khác. Dường như các tư tưởng này càng ít cụ thể, càng ít chính xác (hay càng ít được hiểu) bao nhiêu thì ảnh hưởng của chúng lại càng rộng khắp bấy nhiêu. Vì thế, cái vốn chẳng hơn gì một ấn tượng mơ hồ lại hiếm khi được diễn đạt hiển ngôn đôi khi lại chính là cái có ảnh hưởng sâu sắc. Những niềm tin kiểu như sự kiểm soát có chủ ý hay tổ chức có ý thức kể cả trong các vấn đề xã hội thì luôn đem lại kết quả ưu việt hơn so với những quy trình bột phát không chịu sự chỉ đạo của con người có thể đem lại, hay những niềm tin kiểu bất cứ trật tự nào dựa trên một kế hoạch được đặt ra trước đó hẳn phải tốt hơn cái trật tự do sự cân bằng các lực lượng đối địch mà có - cả hai đều đã bằng cách này mà tác động sâu sắc đến những diễn tiến chính trị.

Vai trò của giới trí thức chỉ trở nên khác hẳn ở những nơi sự phát triển của những tư tưởng mang tính xã hội nhiều hơn được coi trọng. Tại đây, những thiên hướng khác người của họ tự bộc lộ trong quá trình hình thành những nguyên tắc trừu tượng hoá lỗi thời, trong việc biện minh và đẩy đến tận cùng những hoài bão nảy sinh từ sự giao thiệp của con người. Do dân chủ là một thứ tốt đẹp nên đối với họ nguyên tắc dân chủ càng được đưa đi xa bao nhiêu thì nó càng tỏ ra tốt bấy nhiêu. Mạnh mẽ nhất trong số những tư tưởng chung này dĩ nhiên là lý tưởng bình đẳng về vật chất - cái đã định hình tiến trình phát triển chính trị trong thời gian gần đây. Điểm đặc trưng của lý tưởng bình đẳng về vật chất là nó không phải là một trong những niềm tin về luân lý nảy sinh tự phát, ban đầu được ứng dụng trong các mối quan hệ giữa các cá nhân, mà là một công trình trí tuệ được manh nha trong trừu tượng và có ý nghĩa hay khả năng ứng dụng vào các trường hợp cụ thể còn chưa rõ ràng. Tuy vậy, nó đã vận hành một cách mạnh mẽ với tư cách là một nguyên tắc để chọn lựa giữa những phương án khác nhau về chính sách xã hội, liên tục gây áp lực nhằm đạt được một giải pháp về các vấn đề xã hội mà chẳng ai hình dung được rõ là gì. Việc một biện pháp cụ thể thường đem lại nhiều công bằng hơn đã được xem là một khuyến cáo mạnh mẽ đến mức chẳng còn mấy chỗ để cân nhắc những khuyến cáo khác. Vì đối với mỗi vấn đề cụ thể, chính đây là cái khía cạnh mà người hướng dẫn dư luận có một niềm tin rõ ràng, lý tưởng bình đẳng đã quyết định những thay đổi trong xã hội thậm chí còn mạnh mẽ hơn nhiều so với dự định của những người chủ trương nó.

Tuy nhiên, không chỉ có những lý tưởng đạo đức mới vận hành theo cách này. Đôi khi thái độ của trí thức đối với các vấn đề về trật tự xã hội có thể lại là hậu quả của những tiến bộ về tri thức khoa học thuần tuý. Trong những trường hợp như vậy, những quan điểm sai lạc về các vấn đề cụ thể có lúc dường như lại được toàn bộ uy tín của các thành tựu khoa học mới nhất hậu thuẫn. Một bước tiến đích thực về hiểu biết đôi khi lại trở thành cội nguồn của một sai lầm mới - điều này tự nó chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Nếu không kéo theo những kết luận sai lầm thì những tổng kết mới lại là những chân lý cuối cùng chẳng bao giờ cần phải xét lại. Mặc dù một tổng kết mới như vậy thường chỉ chia sẻ những kết luận sai lầm mà nó kéo theo với những quan điểm đã có trước đó và do đó không dẫn đến sai lầm mới, có nhiều khả năng một lý thuyết mới chỉ vì giá trị của nó đã được những hệ quả mới mà nó kéo theo chứng minh sẽ tạo ra những kết luận mới khác đòi hỏi phải có thêm hiểu biết thì mới chứng minh được những kết luận đó là sai lầm. Nhưng trong trường hợp như vậy, sẽ xuất hiện một niềm tin sai lạc được tất cả uy tín của những thành tựu khoa học mới nhất hậu thuẫn. Mặc dù có thể bị tất cả các chứng cứ khoa học phản bác trong một lĩnh vực cụ thể, trước toà án của giới trí thức và dưới ánh sáng của những tư tưởng chi phối họ, niềm tin đó vẫn được chọn là quan điểm phù hợp nhất với tinh thần của thời đại. Những nhà chuyên môn nhờ đó mà sau này có được ảnh hưởng rộng rãi và tiếng tăm trong công chúng vì vậy sẽ không phải là những người đã được các đồng nghiệp thừa nhận mà thường lại là những người bị các chuyên gia khác coi là lập dị, nghiệp dư, thậm chí lừa lọc, nhưng trong con mắt của công chúng nói chung, họ lại là những người nổi tiếng nhất trong lĩnh vực của họ.

Đặc biệt, ít ai nghi ngờ rằng cách thức loài người đã học được cách tổ chức các lực lượng tự nhiên trong một trăm năm vừa qua chính là cái đã đóng góp nhiều vào việc hình thành nên niềm tin rằng việc kiểm soát các lực lượng xã hội theo cách tương tự cũng sẽ đem lại những cải thiện tương đương trong điều kiện sống của loài người. Cùng với việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, việc dồn tất cả mọi hình thức hoạt động của loài người đi theo một kế hoạch thống nhất duy nhất hẳn sẽ thành công như đã từng thành công trong vô số nhiệm vụ kỹ thuật - một kết luận như thế thì nghe xuôi tai quá đối với phần lớn những người ngây ngất trước những thành tựu của các môn khoa học tự nhiên rồi còn gì! Quả thực, cần phải thừa nhận rằng phải có lý lẽ xác đáng thì mới chống được cái tư tưởng nghiễm nhiên ủng hộ một kết luận như thế, và cho đến nay vẫn chưa có những lý lẽ như vậy. Sẽ là không đủ nếu chỉ vạch ra những khiếm khuyết của những phương án nhất định dựa trên lập luận kiểu này. Tại sao cái đã chứng tỏ là thành công mỹ mãn trong việc đem lại những tiến bộ ở nhiều lĩnh vực đến thế nhưng tầm hữu ích của nó vẫn có những giới hạn mà nếu vượt qua thì lợi bất cập hại lại là điều chắc chắn? Chừng nào chưa trả lời được dứt điểm câu hỏi này thì cái kết luận xuôi tai trên kia vẫn còn nguyên sức mạnh. Đây là công việc đến nay vẫn chưa được tiến hành thoả đáng và cần phải làm cho được việc này thì mới có thể dỡ bỏ được cái ngẫu hứng ngả theo CNXH.

Tất nhiên, đây chỉ một trong nhiều trường hợp đòi hỏi phải có sự tiến bộ về hiểu biết thì mới bác bỏ được những tư tưởng độc hại trong trào lưu hiện tại và lộ trình mà chúng ta sẽ đi theo cuối cùng sẽ do việc thảo luận những vấn đề rất trừu tượng quyết định. Sẽ là không đủ nếu nhà hoạt động thực tiễn, nhờ sự hiểu biết thấu đáo của mình về một lĩnh vực cụ thể nào đó, lại khăng khăng rằng những học thuyết về CNXH vốn được đúc rút từ những tư tưởng khái quát hơn rồi sẽ chứng tỏ là những học thuyết không có giá trị thực tiễn. Anh ta có thể hoàn toàn đúng đấy, nhưng sự chống cự của anh ta thể nào rồi cũng bị vượt qua và tất cả những hậu quả đáng tiếc mà anh ta thấy trước sẽ vẫn cứ diễn ra trừ khi sự chống cự đó có được hậu thuẫn của việc bác bỏ hoàn toàn những tư tưởng thuần tuý (idees meres). Chỉ khi người trí thức giành được thế thượng phong trong tranh luận chung thì những ý kiến phản đối nặng ký nhất đối với một vấn đề đặc biệt nào đó mới được gạt bỏ.

Tuy nhiên, câu chuyện đâu chỉ có thế. Những lực tác động đến việc tuyển mộ vào hàng ngũ trí thức đều tác động theo cùng một chiều và góp phần lý giải tại sao lại có nhiều người có năng lực trong giới trí thức ngả theo CNXH như thế. Tất nhiên, trong giới trí thức cũng tồn tại nhiều ý kiến khác nhau cũng giống như ở các nhóm người khác, nhưng có vẻ sự thật lại là nói chung chính những người năng động, thông minh, và độc đáo hơn trong giới trí thức là những người hay ngả theo CNXH nhiều nhất, trong khi đó, chống CNXH thì lại thường là những người có năng lực kém cỏi. Điều này là đúng, đặc biệt là trong những giai đoạn thâm nhập ban đầu của các tư tưởng XHCN. Về sau, mặc dù ngoài giới trí thức, có thể người ta vẫn coi việc bày tỏ niềm tin vào CNXH là một hành động can đảm, sức ép của dư luận trong nội bộ giới trí thức thường ủng hộ CNXH đến mức để cưỡng lại nó đòi hỏi người ta phải mạnh mẽ hơn, độc lập hơn là để gia nhập vào cái mà các bạn hữu của mình coi là những quan điểm hiện đại. Chẳng hạn, chẳng ai có quen biết nhiều giáo viên của các trường đại học (và xét từ giác độ này thì đa số giáo viên đại học phải được coi là những trí thức chứ không phải là những chuyên gia) mà lại không biết một thực tế là ngày nay chính những giáo viên xuất sắc và thành công nhất lại là những người dễ ngả theo CNXH nhất còn những người có chính kiến bảo thủ hơn thì thường lại là những người xoàng xĩnh. Bản thân điều này dĩ nhiên là một nhân tố quan trọng trong việc lôi kéo thế hệ trẻ về phe XHCN.

Tất nhiên, người theo CNXH chỉ xem việc này đơn thuần như một bằng chứng chứng tỏ ngày nay, người có đầu óc hơn thường có thiên hướng trở thành người XHCN. Nhưng đây chắc không phải là sự lý giải cần có hay thậm chí là lý giải khả hữu nhất. Nguyên nhân chính của tình trạng này có lẽ là, đối với người có tài năng xuất chúng vốn chấp nhận trật tự xã hội hiện thời, trước mắt họ có rất nhiều con đường để có được ảnh hưởng và quyền lực, trong khi đó đối với một người bất mãn thì con đường học vấn là con đường hứa hẹn nhất để anh ta có được ảnh hưởng và quyền lực góp phần đạt được những lý tưởng của mình. Thậm chí còn hơn thế nữa, người có năng lực hàng đầu nhưng có khuynh hướng bảo thủ hơn thường sẽ chỉ chọn làm công việc trí óc (và sự lựa chọn như vậy thường buộc họ phải hy sinh những phần thưởng vật chất) nếu anh ta thực sự đam mê công việc này. Hệ quả là có nhiều khả năng anh ta sẽ trở một học giả chuyên sâu hơn là thành một trí thức theo cái nghĩa cụ thể mà chúng ta đang dùng. Trong khi đó, đối với những người có đầu óc cấp tiến hơn, việc theo đuổi con đường học vấn thường là một phương tiện chứ không phải là mục đích, một cách để họ đạt được đúng cái kiểu ảnh hưởng rộng rãi của những trí thức chuyên nghiệp. Do vậy, sự thực có lẽ không phải là những người có đầu óc hơn thường là những người theo CNXH mà là trong số những bộ óc tài năng nhất có một tỉ lệ lớn những người theo CNXH đã dành cả cuộc đời để theo đuổi con đường học vấn, kết quả là họ có ảnh hưởng quyết định đến dư luận trong xã hội hiện đại.

Việc tuyển lựa nhân sự của giới trí thức cũng có quan hệ chặt chẽ với việc họ thường đặc biệt quan tâm đến các ý tưởng chung chung trừu tượng. Những suy phỏng về khả năng xây dựng lại toàn bộ xã hội là món ăn hợp khẩu vị người trí thức hơn nhiều so với những tính toán thực tiễn và ngắn hạn của những người dự định cải tạo trật tự hiện thời theo kiểu chắp vá. Đặc biệt, tư tưởng XHCN có được sức lôi cuốn giới trẻ phần lớn là nhờ vào đặc tính huyền ảo của nó; về khía cạnh này, chính lòng can đảm theo đuổi tư tưởng Không tưởng (Utopia) là một nguồn sức mạnh đối với những người XHCN, cái mà thật đáng buồn là chủ nghĩa tự do truyền thống không có được. Sự khác biệt này là một lợi thế cho CNXH, không chỉ vì sự suy phỏng về những nguyên lý chung đã tạo cơ hội cho trí tưởng tượng của những người không bị sự hiểu biết quá nhiều về những thực tế đời sống đương thời ràng buộc được thăng hoa, mà còn vì nó thỏa mãn khát khao chính đáng muốn hiểu được căn nguyên của bất cứ trật tự xã hội nào, đồng thời nó còn tạo điều kiện để thực hiện nhu cầu xây dựng cấp bách vốn gần như bị bóp nghẹt sau khi chủ nghĩa tự do đã giành được những thắng lợi to lớn. Do bản chất của mình quy định, người trí thức là người không quan tâm đến những chi tiết kỹ thuật hay những khó khăn thực tiễn. Cái cuốn hút anh ta là tầm nhìn rộng, là sự hiểu biết rộng về trật tự xã hội như một tổng thể - đây chính là cái mà một hệ thống kế hoạch hóa hứa hẹn [3] .

Việc những sở thích của giới trí thức được những suy phỏng của những người XHCN đáp ứng tốt hơn rõ ràng là tai họa đối với những ảnh hưởng của truyền thống tự do. Một khi những đòi hỏi cơ bản trong cương lĩnh của mình có vẻ như đã được đáp ứng, các nhà tư tưởng tự do đã chuyển sang các vấn đề chi tiết và thường hay sao nhãng việc xây dựng cho chủ nghĩa tự do một triết lý chung. Hậu quả là triết lý đó không còn tiếp tục là một vấn đề sống động có thể tạo điều kiện cho hoạt động suy phỏng chung diễn ra. Do vậy, có lẽ trong khoảng một nửa thế kỷ gì đó, chỉ có những người XHCN mới là những người đã đưa ra được một cái gì đó đại loại như một cương lĩnh rõ ràng về phát triển xã hội, một bức tranh về cái xã hội tương lai mà họ đang nhắm tới, và một bộ nguyên lý chung để hướng dẫn quyết định về các vấn đề cụ thể. Cho dù, nếu tôi không nhầm, những lý tưởng của họ có chứa nhiều mâu thuẫn nội tại đi nữa, và mọi nỗ lực vận dụng chúng vào thực tiễn đều phải đem lại một cái gì đó hoàn toàn khác với cái mà họ kỳ vọng, điều này không làm thay đổi thực tế rằng cương lĩnh cải cách của họ là cương lĩnh duy nhất đã có ảnh hưởng thực sự đến việc xây dựng những thiết chế xã hội. Chính vì cương lĩnh của những người XHCN đã trở thành một triết lý chung hiển ngôn duy nhất về chính sách xã hội được một tập thể lớn ủng hộ, thành một hệ thống hay một học thuyết duy nhất có thể nêu ra các vấn đề mới và mở ra những chân trời mới, nên họ đã thành công trong việc khơi gợi trí tưởng tượng của giới trí thức.

Những chuyển biến thực tế của xã hội trong thời kỳ này không phải do một cuộc đấu đá giữa những tư tưởng xung đột nhau quyết định, mà do sự tương phản giữa tình trạng hiện thời và cái lý tưởng về một xã hội tương lai khả hữu mà chỉ riêng những người XHCN mới đề cao trước công chúng. Chẳng có mấy những cương lĩnh khác đã đưa ra được những phương án lựa chọn đích thực. Phần lớn những cương lĩnh đó chỉ là những thoả hiệp thuần tuý hay những thoả hiệp giữa một bên là những hình thức CNXH cực đoan hơn và một bên là trật tự hiện thời. Để làm cho hầu như bất cứ đề xuất XHCN nào có vẻ hợp lý với những cái đầu “sáng suốt” vốn tin rằng chân lý luôn phải nằm giữa các thái cực, chỉ cần để cho ai đó chủ trương một đề xuất đủ cực đoan hơn. Có vẻ như chúng ta chỉ có một con đường, và vấn đề duy nhất dường như lại là chúng ta cần đi nhanh, đi xa đến mức nào.

Ý nghĩa của sự quyến rũ đặc biệt mà CNXH có được nhờ đặc tính khơi gợi suy phỏng của nó sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu chúng ta tiếp tục đối chiếu lập trường của lý thuyết gia XHCN với lập trường của người theo chủ nghĩa tự do hiểu theo nghĩa cổ điển của từ này. Sự đối chiếu này cũng sẽ dẫn chúng ta đến bất cứ bài học nào mà chúng ta có thể rút ra từ việc đánh giá thỏa đáng những lực lượng trí tuệ đang làm xói mòn những nền tảng của một xã hội tự do.

Có một điều khá nghịch lý là một trong những bất lợi chủ yếu khiến nhà tư tưởng tự do không có được ảnh hưởng rộng rãi trong công chúng lại có liên hệ chặt chẽ với thực tế rằng trước khi CNXH thực sự ra đời anh ta đã có nhiều cơ hội hơn để ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định về chính sách hiện hành. Việc nhà tư tưởng tự do chú trọng vào những nhiệm vụ thực tiễn trước mắt đã khiến anh ta không còn hứng thú và không thể dấn mình vào hoạt động suy phỏng dài hạn vốn đem lại sức mạnh cho những người XHCN. Cho dù anh ta có sức mạnh gì để tác động đến các quyết định thực tiễn đi nữa thì sức mạnh đó có được là nhờ vị thế của anh ta với những người đại diện của trật tự hiện thời, và vị thế này có thể bị nguy hại nếu anh ta dấn thân vào kiểu suy phỏng vốn có sức hấp dẫn với giới trí thức và qua họ có thể tác động đến các chuyển biến trong những giai đoạn dài hơn. Để tác động tới những người có quyền thế, anh ta phải biết “thực dụng”, “khôn khéo”, và “thực tế”. Chừng nào anh ta còn quan tâm đến những vấn đề trước mắt thì anh ta vẫn được đền đáp bằng ảnh hưởng, bằng thành công về vật chất, và bằng sự mến mộ của những người trong chừng mực nào đó có cùng quan điểm chung với anh ta. Nhưng những người này lại chẳng mấy đề cao những suy phỏng về những nguyên lý chung vốn định hình trào lưu trí tuệ. Quả thực là nếu anh ta lún sâu vào việc suy phỏng dài hạn kiểu đó, anh ta dễ bị mang tiếng là người “không lành mạnh”, thậm chí là XHCN nửa vời, bởi vì anh ta không muốn đánh đồng cái trật tự hiện thời với cái hệ thống tự do mà anh ta nhắm tới [4] .

Bất chấp điều này, nếu vẫn cố gắng theo hướng suy phỏng chung chung thì anh ta sẽ mau chóng phát hiện ra rằng việc giao kết quá mật thiết với những người dường như cùng chung phần lớn những niềm tin của anh ta là không an toàn, và anh ta sẽ nhanh chóng bị đẩy vào tình thế bị cô lập. Quả thực là ngày nay, hầu như chẳng còn công việc nào lại bạc bẽo hơn công việc thiết yếu xây dựng nền tảng triết lý cho một xã hội tự do. Vì người đảm đương công việc đó phải chấp nhận phần lớn cái khuôn khổ của trật tự hiện thời, trong con mắt của nhiều trí thức có đầu óc suy phỏng nặng nề hơn, anh ta sẽ chỉ thuần tuý là một người biện hộ rụt rè cho các vấn đề mà tự chúng đã như vậy, đồng thời anh ta sẽ bị những nhà hoạt động thực tiễn gạt bỏ như là một lý thuyết gia phi thực tiễn. Anh ta không đủ cấp tiến đối với những người chỉ biết có cái thế giới trong đó “các tư tưởng dễ dàng cùng nhau chung sống”, nhưng lại quá cấp tiến đối với những người chỉ thấy được “các sự vật trong không gian mâu thuẫn nhau” gay gắt đến mức nào. Nếu anh ta lợi dụng sự ủng hộ của những nhà hoạt động thực tiễn thì gần như chắc chắn anh ta sẽ mất uy tín với những người mà anh ta phải dựa vào để truyền bá những tư tưởng của mình. Đồng thời anh ta sẽ cần phải thật cẩn trọng để tránh xa những gì giống như sự ngông cuồng hay cường điệu. Trong khi chưa từng có lý thuyết gia XHCN nào lại đánh mất tín nhiệm của mình trước bạn hữu kể cả qua những đề xuất ngớ ngẩn nhất thì một đề xuất không thực tế cũng đủ để người tự do theo kiểu truyền thống huỷ hoại uy tín của mình. Tuy vậy, đối với giới trí thức, anh ta sẽ vẫn chỉ là người chưa đủ độ suy phỏng hay phiêu lưu, và những thay đổi và cải thiện trong cấu trúc xã hội mà anh ta phải đề ra dường như sẽ có nhiều hạn chế so với cái mà trí tưởng tượng ít bị trói buộc của người trí thức hình dung ra.

Ít ra, ở một xã hội đã đạt được những điều kiện chính yếu cho sự tự do và những cải thiện tiếp theo phải tập trung vào những chi tiết tương ứng thì một cương lĩnh tự do có thể chẳng có được chút quyến rũ nào mà một phát minh mới thường có. Đánh giá đúng mức được những cải thiện mà cương lĩnh đó đề xuất đòi hỏi phải có tầm hiểu biết về sự vận hành của xã hội hiện thời cao hơn so với tầm hiểu biết của người trí thức trung bình. Việc thảo luận những cải thiện này cần phải gắn với thực tiễn nhiều hơn so với khi thảo luận các cương lĩnh có tính cách mạng hơn. Một bầu không khí thảo luận như vậy sẽ chẳng có mấy sức hấp dẫn với người trí thức và thường hay kéo theo những vấn đề mà anh ta cảm thấy mình đối đầu trực tiếp. Những người am hiểu nhiều về sự vận hành của xã hội hiện thời cũng thường muốn bảo tồn một số đặc điểm nhất định của xã hội đó mặc dù những nguyên tắc chung có thể không cho phép. Khác với những người đi tìm một trật tự tương lai hoàn hoàn mới và thường trông chờ các lý thuyết gia chỉ đường dẫn lối cho họ, những người tin vào trật tự hiện thời cũng thường nghĩ rằng họ hiểu về nó hơn nhiều so với bất cứ lý thuyết gia nào khác và kết quả là họ thường bác bỏ bất cứ cái gì không quen thuộc và thuần tuý lý thuyết.

Việc một chính sách có hệ thống hướng tới tự do thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm sự ủng hộ vô tư và chân thành không phải là điều gì mới mẻ. Sự tiếp nhận cuốn sách mới đây của tôi thường làm tôi nhớ đến một thực tế mà Nam tước Acton từ lâu đã mô tả trong một đoạn là: vì sao “trong mọi thời đại, những người bạn chân thành của tự do lại luôn luôn khan hiếm, và những thắng lợi của tự do lại là nhờ những nhóm thiểu số vốn đã thắng thế nhờ kết giao với những nhóm phụ - những người có mục tiêu khác họ, và sự kết giao vốn luôn nguy hiểm này đôi khi đã trở nên tai hoạ vì nó tạo ra những cơ sở chính đáng cho người đối lập phản đối”. [5] Mới đây hơn, một trong những nhà kinh tế người Mỹ nổi tiếng nhất còn đang sống cũng đã than phiền tương tự rằng: nhiệm vụ chính của những người tin vào những nguyên lý cơ bản của một hệ thống tư bản chủ nghĩa là luôn phải bảo vệ hệ thống này trước sự công kích của các nhà tư bản - quả thực là các nhà kinh tế học vĩ đại theo chủ nghĩa tự do từ thời Adam Smith đến nay luôn ý thức được điều này.

Cản trở nghiêm trọng nhất phân ly những nhà hoạt động thực tiễn vốn thực tâm với sự nghiệp tự do với những lực lượng quyết định tiến trình phát triển trên lĩnh vực tư tưởng là sự ngờ vực sâu sắc của họ đối với việc suy phỏng lý thuyết suông và khuynh hướng ngả theo những gì chính thống của họ. Điều này, hơn tất cả, tạo ra một rào cản gần như không thể vượt qua giữa họ và những người trí thức vốn cũng dấn thân vào sự nghiệp đó và sự ủng hộ của họ là không thể thiếu được nếu muốn sự nghiệp đi đến thành công. Mặc dù khuynh hướng này có lẽ là tự nhiên đối với những người bảo vệ một hệ thống do nó đã chứng tỏ là thành công trong thực tiễn, và đối với họ sự biện hộ suông xem ra không có gì quan trọng nhưng nó lại là tai hoạ đối với sự sống còn của hệ thống vì nó đã tước đi mất sự ủng hộ mà hệ thống cần nhất. Sự chính thống dưới bất kỳ hình thức nào, bất kỳ sự giả vờ nào coi một hệ tư tưởng là hoàn hảo và phải được chấp nhận một cách vô điều kiện như một tổng thể - đó chính là quan điểm chắc chắn sẽ làm các trí thức phản kháng cho dù quan điểm của họ về các vấn đề cụ thể có là thế nào. Hệ thống nào lại đánh giá con người qua việc họ có tuân thủ triệt để một tập hợp những quan điểm cố định hay không, qua sự “lành mạnh” của họ hay qua mức độ có thể dựa vào họ để duy trì những quan điểm đã được phê duyệt về mọi vấn đề thì hệ thống đó đã tự tước đi sự ủng hộ mà nếu không có nó thì chẳng tập hợp quan điểm nào có thể duy trì được sự ảnh hưởng của nó trong xã hội hiện đại. Khả năng phê phán các quan điểm đã được chấp nhận, khám phá những chân trời mới và trải nghiệm những quan niệm mới mẻ, là cái tạo ra một bầu không khí mà thiếu nó thì các trí thức không thể hít thở được. Một sự nghiệp không dành chỗ cho những đặc tính này không thể được trí thức ủng hộ và do đó, nhất định sẽ thất bại trong bất kỳ xã hội nào dựa trên sự phục vụ của trí thức như xã hội ta.

Có thể là cái xã hội tự do như chúng ta từng biết lại mang trong lòng nó những lực lượng có thể huỷ hoại chính nó, là một khi đã giành được tự do thì sự tự do lại được coi là nghiễm nhiên và không còn được trân trọng nữa, và cũng có thể là sự phát triển tự do của các tư tưởng vốn là bản chất của một xã hội tự do sẽ đưa đến việc phá huỷ những nền tảng của nó. Ít ai nghi ngờ rằng ở những nước như Mỹ, lý tưởng tự do ngày nay không còn hấp dẫn với giới trẻ nhiều bằng ở những nước nơi mà giới trẻ đã thấu hiểu được việc mất tự do có hậu quả gì. Mặt khác, mọi dấu hiệu đều cho thấy rằng ở Đức và những nơi khác, đối với những người trẻ tuổi chưa từng biết đến một xã hội tự do, nhiệm vụ xây dựng một xã hội tự do có thể trở nên hấp dẫn và lý thú như bất kỳ cương lĩnh XHCN nào đã xuất hiện trong 100 năm vừa qua. Một thực tế đáng lưu ý, dù đó là thực tế nhiều du khách đã nhận thấy, là khi nói chuyện với sinh viên Đức về các nguyên lý của một xã hội tự do, người ta thấy rằng thính giả quan tâm và phản hồi nhiều hơn so với ở bất kỳ nền dân chủ phương Tây nào. Ở Anh, trong giới trẻ cũng đang xuất hiện một mối quan tâm mới về các nguyên lý của chủ nghĩa tự do thực sự - điều mà mấy năm trước không hề có.

Phải chăng điều đó có nghĩa là người ta chỉ thấy được giá trị của sự tự do khi người ta đã bị mất nó? Phải chăng mọi nơi trên thế giới đều phải trải qua một giai đoạn toàn trị tăm tối của CNXH trước khi các lực lượng tự do có thể huy động được sức mạnh mới? Có thể là như vậy, nhưng tôi hy vọng nó không nhất thiết phải như thế. Tuy vậy, chừng nào những người lâu nay đã có vai trò quyết định đối với dư luận xã hội vẫn tiếp tục bị những lý tưởng của CNXH hấp dẫn thì xu hướng này vẫn còn tiếp tục. Nếu chúng ta muốn tránh được tiến trình đó thì chúng ta phải đề ra được một cương lĩnh tự do mới mẻ có khả năng hấp dẫn và khơi gợi được trí tưởng tượng. Chúng ta phải làm cho việc xây dựng một xã hội tự do thêm một lần nữa trở thành một cuộc phiêu lưu trí tuệ, một hành động quả cảm. Cái chúng ta thiếu là một mô hình Utopia tự do, một cương lĩnh có vẻ không đơn thuần bảo vệ sự vật như chúng vốn có mà cũng chẳng phải là một thứ CNXH nhạt nhẽo, mà là một chủ nghĩa cấp tiến tự do đích thực, không dung thứ bất cứ sự phật ý nào của kẻ mạnh (kể cả các nghiệp đoàn) - một cương lĩnh như vậy sẽ không quá thực tiễn đến mức khắt khe mà cũng không tự giam mình trong những cái mà ngày nay được xem như là khả hữu về mặt chính trị. Chúng ta cần những lãnh tụ trí thức sẵn sàng làm việc cho một lý tưởng, cho dù triển vọng sớm thực hiện được lý tưởng đó có nhỏ nhoi đến đâu đi nữa. Họ phải là những người sẵn sàng giữ vững những nguyên tắc và đấu tranh để thực hiện đầy đủ chúng, cho dù có xa vời đến đâu đi nữa. Họ cần để cho các chính trị gia tiến hành những thoả hiệp thực tiễn. Thương mại tự do và quyền tự do về các cơ hội là những lý tưởng vẫn còn khơi gợi được trí tưởng tượng của rất nhiều người, nhưng chỉ “tự do thương mại ở mức vừa phải” hay chỉ đơn thuần“nới lỏng kiểm soát” đều không có gì đáng đề cao về mặt trí tuệ và cũng khó có thể khơi dậy được chút nhiệt tình nào.

Bài học chủ yếu mà một người theo chủ nghĩa tự do chân chính cần rút ra từ sự thành công của những người XHCN là: chính lòng can đảm muốn trở thành những người XHCN không tưởng (Utopia) đã đem lại cho họ sự ủng hộ của giới trí thức và theo đó là một ảnh hưởng đối với dư luận xã hội, biến những cái mà gần đây còn có vẻ hoàn toàn viển vông xa vời thành những cái có thể thực hiện được. Những người chỉ quan tâm đến những cái có vẻ khả thi trong tình hình dư luận hiện thời cũng thường luôn thấy rằng ngay cả những cái khả thi đó cũng đã nhanh chóng trở thành bất khả thi về mặt chính trị - hệ quả của những thay đổi trong dư luận xã hội mà họ đã không làm gì để hướng dẫn. Viễn cảnh của chủ nghĩa tự do sẽ vẫn còn tăm tối trừ khi chúng ta có thể làm cho những nền tảng triết lý của một xã hội tự do thêm một lần nữa trở thành một vấn đề trí tuệ sống động, và việc thực hiện nó trở thành một nhiệm vụ có thể thách thức được trí thông minh cùng khả năng tưởng tượng của những bộ óc sinh động nhất. Nhưng nếu chúng ta có thể giành lại được niềm tin vào sức mạnh của những tư tưởng vốn đã là biểu tượng của chủ nghĩa tự do vào thời hoàng kim của nó thì cuộc đấu tranh vẫn còn chưa kết thúc. Cuộc hồi sinh trí tuệ của chủ nghĩa tự do đã lên đường ở nhiều nơi trên thế giới. Liệu có kịp không?


Bản tiếng Việt © 2007 talawas



[1]Dịch từ “professional secondhand dealers in ideas”, tức những người chỉ chuyên làm cái việc chuyển tải tư tưởng mới mẻ từ các nhà tư tưởng tới công chúng chứ bản thân họ không phải là cha đẻ của những tư tưởng mà họ truyền bá - chú thích của người dịch (N.D)
[2]Chính vì thế (như một nhà phê bình cuốn Con đường dẫn tới chế độ nông nô của giáo sư J. Schumpeter đã gợi ý) không phải 'sự lễ độ đối với một sai lầm' mà là một niềm tin mạnh mẽ vào tầm quan trọng của điều này đã khiến tôi, theo lời giáo sư Schumpeter, 'hầu như không bao giờ quy cho các đối thủ điều gì khác ngoại trừ sai lầm trí tuệ.'
[3]Liên quan đến vấn đề này là một hiện tượng quen thuộc khác: chẳng có lý gì lại tin rằng cộng đồng những người không phải Do Thái lại có ít những công trình thực sự xuất sắc hơn cộng đồng Do Thái. Tuy vậy, ít ai nghi ngờ rằng những người thuộc dòng dõi Do Thái ở hầu như khắp mọi nơi lại chiếm một tỉ lệ lớn một cách bất tương xứng trong tầng lớp trí thức theo cách quan niệm của chúng ta, tức là tầng lớp những người diễn dịch tư tưởng chuyên nghiệp. Đây có thể là năng khiếu đặc biệt của họ và chắc chắn cũng là cơ hội chủ yếu của họ ở những nước vốn có những định kiến cản trở họ trong các lĩnh vực khác. Có lẽ điều đó là vì họ chiếm một tỉ lệ rất lớn trong giới trí thức hơn là vì họ có vẻ dễ dàng tiếp nhận những tư tưởng xã hội chủ nghĩa hơn là những người thuộc các dòng dõi khác.
[4]Ví dụ rõ nhất mới đây là một số bình luận về tác phẩm Chính sách Kinh tế cho một Xã hội Tự do (Economic Policy for a Free Society) (1948) của Henry Simon đã quá cố, quy kết tác phẩm vốn có hơi hướng tự do phi chính thống này là “xã hội chủ nghĩa”. Người ta không nhất thiết phải nhất trí với toàn bộ tác phẩm này và thậm chí còn có thể coi một số gợi ý được nêu ra trong đó là không tương thích với một xã hội tự do nhưng vẫn phải thừa nhận nó là một trong những đóng góp quan trọng nhất trong thời gian qua vào vấn đề của chúng ta và là loại tác phẩm cần có để khởi động thảo luận về các vấn đề căn bản. Ngay cả những người quyết liệt phản đối một số gợi ý trong đó vẫn phải hoan nghênh tác phẩm này như là một đóng góp nêu ra được những vấn đề trọng tâm của thời đại chúng ta một cách rõ ràng và quả cảm.
[5]Acton (1922) , Lịch sử của Tự do, I
Nguồn: “Intellectuals and Socialism”, The University of Chicago Law Review, 1949